Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới

11. Madras, 22 tháng mười hai 1965

11 Tháng Bảy 201100:00(Xem: 6854)
11. Madras, 22 tháng mười hai 1965

KRISHNAMURTI
BÀN VỀ XUNG ĐỘT [ON CONFLICT]
Lời dịch: ÔNG KHÔNG – 2009

Madras, 22 tháng mười hai 1965

Liệu có thể chấm dứt xung đột trong tất cả những liên hệ của chúng ta – ở nhà, trong văn phòng, trong mọi lãnh vực thuộc sống của chúng ta? Điều này không có nghĩa chúng ta rút lui trong cô lập, trở thành một thầy tu, hay rút vào ngõ nghách nào đó của tưởng tượng và ưa thích riêng của chúng ta; nó có nghĩa sống trong thế giới này để hiểu rõ xung đột. Chừng nào còn có xung đôt thuộc bất kỳ loại nào, những cái trí, những quả tim, những bộ não của bạn không thể vận hành đến khả năng tột đỉnh của nó. Chúng có thể làm như thế chỉ khi nào không có xung đột, khi có rõ ràng. Điều này chỉ có thể được khi tổng thể của cái trí – các cơ quan thân thể, những tế bào não, toàn sự việc được gọi là cái trí – ở trong một trạng thái của không-xung đột. Chỉ lúc đó hòa bình mới có thể hiện diện.

Muốn hiểu rõ trạng thái đó, chúng ta phải hiểu rõ những xung đột mỗi lúc một chồng chất, trận chiến hàng ngày trong chúng ta và với người hàng xóm, trong văn phòng, gia đình, giữa người đàn ông và người đàn ông, người đàn ông và người phụ nữ, và cấu trúc tâm lý của xung đột này, cái “tôi” của xung đột. Hiểu rõ, giống như thấy và lắng nghe, là một trong những sự việc khó khăn nhất. Khi bạn nói, “Tôi hiểu rõ điều gì đó”, bạn thực sự có nghĩa không chỉ bạn hoàn toàn đã nắm bắt được toàn ý nghĩa của điều gì đang được nói mà còn cả ngay hiểu rõ tự nó là hành động. Bạn không thể hiểu rõ nếu bạn chỉ thuộc trí năng, từ ngữ, đang nhận thức điều gì đang được nói; nếu bạn chỉ lắng nghe thuộc trí năng – đó là, thuộc từ ngữchắc chắn đó không là hiểu rõ. Hay nếu bạn chỉ cảm thấy cái gì đó đầy cảm giác, cảm tính, điều đó cũng không là hiểu rõ. Bạn hiểu rõ chỉ khi nào toàn thân tâm của bạn thấu triệt – đó là, khi bạn không quan sát bất kỳ cái gì một cách phân chia, hoặc chỉ bằng trí năng hoặc cảm giác, nhưng quan sát một cách tổng thể.

Vậy là hiểu rõ bản chất của xung đột đòi hỏi không những hiểu rõ xung đột riêng của bạn nhưng còn cả hiểu rõ xung đột của con người như một tổng thể – mà gồm có chủ nghĩa quốc gia, sự khác biệt giai cấp, tham vọng, tham lam, ganh ghét, ham muốn vị trí, thanh danh, toàn ý thức của uy quyền, thống trị, sợ hãi, tội lỗi, lo âu, mà bao gồm chết, tham thiền – tổng thể của sống. Muốn hiểu rõ điều đó, người ta phải thấy, lắng nghe, không phân chia, nhưng nhìn cái bản đồ bao la của sống. Một trong những khó khăn của chúng tachúng ta vận hành phân chia, chúng ta vận hành từng phần – như một kỹ sư, một họa sĩ, một người khoa học, một người kinh doanh, một luật sư, một người vật lý, và vân vân; và mỗi mảnh đang xung đột với một mảnh khác, khinh miệt nó hay cảm thấy cao quý hơn.

Vậy thì câu hỏi là: làm thế nào quan sát một cách không phân chia tổng thể của sống? Khi chúng ta quan sát tổng thể của sống – không như một người Ấn độ giáo, một người Hồi giáo, một người Thiên chúa giáo, một người cộng sản, một người xã hội, một giáo sư, hay một người sùng đạo – khi chúng ta thấy chuyển động lạ thường của sống, mà gồm có mọi thứ, chết, đau khổ, phiền muộn, hỗn loạn, sự thiếu vắng hoàn toàn của tình yêu và hình ảnh của vui thú mà chúng ta đã tự nuôi dưỡng cho chính mình qua hàng thế kỷ, mà sai khiến những giá trị của chúng ta, những hoạt động của chúng ta – khi chúng ta thấy sự việc bao la này, một cách tổng thể, vậy thì phản ứng của chúng ta đến tổng thể đó sẽ hoàn toàn khác hẳn. Chính là phản ứng này, khi chúng ta thấy một cách tổng thể toàn chuyển động của sống, điều đó sẽ mang lại một cách mạng trong chính chúng ta, và cách mạng này tuyệt đối cần thiết. Những con người không thể tiếp tục như họ đã là, tàn sát lẫn nhau, căm thù lẫn nhau, phân chia mỗi người thành những quốc gia, thành tất cả những hoạt động cá thể, nông cạn, nhỏ nhen, bởi vì phương cách đó có sẵn phiền muộn nhiều hơn, hỗn loạn nhiều hơn, và đau khổ nhiều hơn.

Vậy là liệu có thể thấy tổng thể của sống, mà giống như một con sông đang chuyển động liên tục, không ngừng nghỉ, cùng vẻ đẹp vô cùng, đang chuyển động bởi vì nó có một khối lượng nước vô hạn ở đằng sau? Liệu chúng ta có thể thấy sống này một cách tổng thể?

Chỉ khi nào chúng ta thấy cái gì đó một cách tổng thể chúng ta mới có thể hiểu rõ nó, và chúng ta không thể thấy nó một cách tổng thể nếu có hoạt động tự cho mình là trung tâm mà hướng dẫn, định hình hành động của chúng ta và những suy nghĩ của chúng ta. Chính hành động tự cho mình là trung tâm này mà đồng hóa với gia đình, quốc gia, những kết luận thuộc học thuyết, với những đảng phái – dù thuộc chính trị hay tôn giáo. Chính trung tâm này mà khẳng định nó đang tìm kiếm Thượng đế, sự thật, và mọi chuyện như thế và điều đó ngăn cản sự hiểu rõ tổng thể của sống. Muốn hiểu rõ trung tâm này, nó thực sự là gì, cần một cái trí không bị chất đầy bởi những khái niệm, những kết luận. Tôi phải biết một cách thực sự, không phải một cách lý thuyết, tôi là gì. Điều gì tôi suy nghĩ, điều gì tôi cảm thấy, những tham vọng, những tham lam, những ganh ghét của tôi, ham muốn thành công, nổi tiếng, thanh danh, thèm khát của tôi, những phiền muộn của tôi – tất cả điều đó là tôi là gì. Tôi có lẽ nghĩ rằng tôi là Thượng đế, tôi là cái gì khác; nhưng điều đó vẫn còn là thành phần của tư tưởng, thành phần của cái hình ảnh tự chiếu rọi chính nó qua tư tưởng. Vì vậy nếu bạn không hiểu rõ điều này không phụ thuộc vào Shankara, Buddha hay, bất kỳ ai, nếu bạn không thực sự thấy bạn là gì hàng ngày – cách bạn nói chuyện, cách bạn cảm thấy, cách bạn phản ứng, không những ở tầng ý thức bên ngoài mà còn cả bên trong – nếu bạn không đặt nền tảng ở đó, làm thế nào bạn có thể tiến rất xa được? Dù bạn có lẽ tiến xa thế nào, nó sẽ chỉ là sự tưởng tượng, sự ưa thích nhất thời, lừa dối, và bạn sẽ là một người đạo đức giả.

Bạn phải đặt nền tảng này – mà là hiểu rõ bạn là gì. Bạn có thể làm điều đó chỉ bằng cách quan sát chính bạn, không cố gắng sửa đổi nó, không cố gắng định hình nó, không cố gắng nói điều này đúng hay điều này sai, nhưng bằng cách thấy điều gì đang thực sự xảy ra – mà không có nghĩa bạn trở thành tự cho mình là trung tâm nhiều hơn. Trái lại, bạn trở thành tự cho mình là trung tâm nếu bạn chỉ đang sửa chữa điều gì bạn thấy, diễn giải điều gì bạn thấy tùy theo những ưa thích và không ưa thích của bạn, nhưng nếu bạn chỉ quan sát, không có sự củng cố thêm của trung tâm.

Muốn thấy tổng thể của sống cần đến sự thương yêu vô cùng. Bạn biết, chúng ta đã trở nên nhẫn tâm, và bạn có thể thấy tại sao. Trong một quốc gia dư thừa dân số – một quốc gia nghèo khó, cả bên trong lẫn bên ngoài, một quốc gia đã sống trên những ý tưởng và không phải thực tế, một quốc gia đã tôn thờ quá khứ, với uy quyền được bám rễ trong quá khứ – theo tự nhiên người ta dửng dưng với điều gì đang thực sự xảy ra. Nếu các bạn tự quan sát mình, các bạn sẽ thấy các bạn chẳng có thương yêu bao nhiêu, thuơng yêu là ân cần. Thương yêunghĩa ý thức của vẻ đẹp, không chỉ là sự ngưỡng mộ phía bên ngoài. Ý thức của vẻ đẹp có thể hiện diện chỉ khi nào có hòa nhã vô cùng, ân cần, chăm sóc vô cùng mà là chính bản thể của thương yêu. Khi điều đó khô cạn, những tâm hồn của chúng ta cằn cỗi, và chúng ta lấp đầy chúng bằng những từ ngữ, những ý tưởng, những trích dẫn, với điều gì đã được nói; và khi chúng ta ý thức được sự hỗn loạn này, chúng ta cố gắng làm sống lại quá khứ, chúng ta tôn thờ truyền thống, chúng ta quay lại. Bởi vì chúng ta không biết làm thế nào để giải quyết sự tồn tại hiện nay với tất cả những hỗn loạn của nó, chúng ta nói, “Chúng ta hãy quay lại; chúng ta hãy trở lại quá khứ; chúng ta hãy sống phụ thuộc vào sự việc chết rồi nào đó”. Đó là lý do tại sao, khi bị đối diện với hiện tại, bạn tẩu thoát vào quá khứ hay học thuyết hay điều không tưởng nào đó, và, bởi vì tâm hồn bạn bị trống rỗng, bạn nhét đầy nó bằng những từ ngữ, những hình ảnh, những công thức, và những khẩu hiệu Hãy tự quan sát chính bạn, và bạn sẽ thấy tất cả điều này. 

Vậy là muốn mang lại một cách tự nhiên, tự do, sự thay đổi tổng thể này trong chính cái trí đòi hỏi sự chú ý nghiêm túc, vô cùng. Chúng ta không muốn chú ý, bởi vì chúng ta sợ hãi điều gì có lẽ xảy ra nếu chúng ta thực sự suy nghĩ những sự kiện hàng ngày, thực tế thuộc sống của chúng ta. Chúng ta thực sự sợ hãi tìm hiểu; chúng ta thích sống mù lòa, nghẹt thở, đau khổ, bất hạnh, vô giá trị, và thế là những sống không ý nghĩa và trống rỗng; và, bởi vì sống không ý nghĩa, chúng ta cố gắng sáng chế ý nghĩa trong sống. Sống không có ý nghĩa. Sống có nghĩa là được sống, và trong ngay đang sống đó người ta bắt đầu khám phá thực tế, sự thật, vẻ đẹp của sống. Muốn khám phá sự thật, vẻ đẹp của sống, bạn phải hiểu rõ toàn chuyển động của nó, và để làm điều đó bạn phải kết thúc tất cả sự suy nghĩcách sống mảnh vỡ này. Bạn phải kết thúc là một người Ấn độ giáo, không chỉ trong cái tên nhưng bên trong; bạn phải kết thúc là một người Hồi giáo hay một người Phật giáo hay một người Thiên chúa giáo cùng tất cả những giáo điều của nó, bởi vì những sự việc này đang phân chia con người, đang phân chia những cái trí riêng của các bạn, những tâm hồn riêng của các bạn.

Kỳ lạ thay, bạn sẽ lắng nghe tất cả điều này, bạn sẽ lắng nghe trong một tiếng đồng hồ, và bạn sẽ về nhà và lặp lại khuôn mẫu. Bạn sẽ mãi mãi lặp lại khuôn mẫu, và khuôn mẫu này từ căn bản được đặt nền tảng trên vui thú.

Vậy là bạn phải tự nguyện tìm hiểu sống riêng của bạn, không phải bởi vì chính phủ gây ảnh hưởng bạn hay người nào đó bảo bạn làm. Bạn phải tự nguyện tìm hiểu nó, không chỉ trích nó, không nói đây là đúng hay đây là sai nhưng quan sát. Khi bạn có quan sát theo cách đó, bạn sẽ phát giác rằng bạn quan sát bằng đôi mắt đầy thương yêu – không phải bằng chỉ trích, không phải bằng nhận xét, nhưng bằng ân cần. Bạn tự quan sát bằng ân cầnvì vậy bằng trìu mến vô hạn – và chỉ khi nào có tình yêu và trìu mến vô hạn bạn mới thấy sự tồn tại tổng thể của sống. 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 18430)
Truyền thuyết “Niêm hoa vi tiếu” không biết có từ lúc nào, chỉ thấy ghi chép thành văn vào đời Tống (960-1127) trong “Tông môn tạp lục” mục “Nhơn thiên nhãn”...
(Xem: 19908)
"Đây là con đường duy nhất để thanh lọc tâm, chấm dứt lo âu, phiền muộn, tiêu diệt thân bệnh và tâm bệnh, đạt thánh đạochứng ngộ Niết Bàn. Đó là Tứ Niệm Xứ".
(Xem: 19584)
Để diệt trừ cái khổ, người ta phải nhận ra bản chất nội tại của vấn đề khổ. Mà để được vậy, trước hết người ta phải cần có một cái tâm an tịnh...
(Xem: 33489)
Những lúc vô sự, người góp nhặt thường dạo chơi trong các vườn Thiền cổ kim đông tây. Tiêu biểu là các vườn Thiền Trung Hoa, Việt Nam, Nhật Bản và Hoa Kỳ.
(Xem: 34606)
Không thể có một bậc Giác Ngộ chứng nhập Niết Bàn mà chưa hiểu về mình và chưa thấy rõ gốc cội khổ đau của mình.
(Xem: 54597)
Muốn thực sự tiếp xúc với thực tại, cho dù đó bất cứ là gì, chúng ta phải biết cách dừng lại trong kinh nghiệm của mình, lâu đủ để nó thấm sâu vào và lắng đọng xuống...
(Xem: 37833)
Thực hành thiền trong Đạo Phật rốt ráo là để Thực Nghiệm sự thật VÔ NGÃđức Phật đã giác ngộ (khám phá). Đó cũng là để chứng thực KHÔNG TÁNH của vạn pháp.
(Xem: 21201)
Do bốn niệm xứ được tu tập, được làm cho sung mãn, thưa Hiền giả, khi Như Lai nhập Niết-bàn, Diệu pháp được tồn tại lâu dài.
(Xem: 17950)
Đức Phật khám phá ra rằng một tâm hạnh phúc nhất là tâm không bị dính mắc. Đây là một niềm hạnh phúc rất sâu sắc, khác hẳn với những gì chúng ta vẫn thường biết.
(Xem: 63768)
Đàn Kinh được các môn đệ của Huệ Năng nhìn nhận đã chứa đựng giáo lý tinh nhất của Thầy mình, và giáo lý được lưu truyền trong hàng đệ tử như là một di sản tinh thần...
(Xem: 17444)
Thiền giữ vai trò rất quan trọng trong đạo Phật. "Ngay cơ sở của Phật giáo, tất cả đều là kết quả của sự khảo sát về Thiền, và nhờ có tư duy về Thiền mà Phật giáo mới được thể nghiệm hóa...
(Xem: 49762)
Khi ta phát triển định tâm, ta sẽ có thể giữ những chướng ngại tạm thời ở một bên. Khi những chướng ngại được khắc phục, tâm ta trở nên rõ ràng trong sáng.
(Xem: 16909)
Thiền có nghĩa là tỉnh thức: thấy biết rõ ràng những gì anh đang làm, những gì anh đang suy nghĩ, những gì anh đang cảm thọ; biết rõ mà không lựa chọn...
(Xem: 16427)
Bất kì ai cũng có khả năng giác ngộ nếu có khát vọng. Khát vọng hướng về mẫu số chung “tự tri-tỉnh thức-vô ngã”, khát vọng đó là minh sư vĩ đại nhất của chính mình.
(Xem: 14522)
Thiền tông, nói mây, nói cuội, nói chuyện nghịch đời… chẳng qua đối duyên khai ngộ, để phá cho được cái dòng vọng tưởng tương tục của người, hy vọng ngay đó người nhận ra “chân”...
(Xem: 22536)
Nhờ thiền sư Munindra tận tâm hướng dẫn chu đáo từng bước một nên bà tiến bộ rất nhanh chóng. Đi từ cấp thiền cổ điển đến tiến bộ trong chánh niệm (progress insight).
(Xem: 57088)
Tập sách Thiền và Bát-nhã này là phần trích Luận Năm và Luận Sáu, trong bộ Thiền luận, tập hạ, của D. T. Suzuki. Tập này gồm các thiên luận về Hoa nghiêm và Bát-nhã.
(Xem: 13892)
Giác ngộ không phải là cầu toàn, vì càng cầu toàn con càng khổ đau thất vọng, mà là cần thấy ra bản chất bất toàn của cuộc sống. Chỉ cần vừa đủ trầm tĩnh sáng suốt...
(Xem: 29070)
Đức Phật dạy rằng hạnh phúcvấn đề thiết thực hiện tại, không phải là những ước mơ đẹp đẽ cho tương lai, hay những kỷ niệm êm đềm trong quá khứ.
(Xem: 33377)
Thầy bảo: “Chuyện vi tiếu nếu nghe mà không thấy thì cứ để vậy rồi một ngày kia sẽ thấy, tự khám phá mới hay chứ giải thích thì còn hứng thú gì.
(Xem: 38442)
Sở dĩ chúng ta mãi trôi lăn trong luân hồi sinh tử, phiền não khổ đau là vì thân tâm luôn hướng ngoại tìm cầu đối tượng của lòng tham muốn. Được thì vui mừng, thích thú...
(Xem: 31288)
Nếu không có cái ta ảo tưởng xen vào thì pháp vốn vận hành rất hoàn hảo, tự nhiên, và tánh biết cũng biết pháp một cách hoàn hảo, tự nhiên, vì đặc tánh của tâm chính là biết pháp.
(Xem: 13945)
Thực tế, thì căn bản của sự thực thiền của các hành giả chân chánh là khám phá ra những hành động nào đem lại khổ đau hoặc hạnh phúc. Sau đó, tránh các hành động gây nghiệp...
(Xem: 14657)
Thực hành phát triển Định Tuệ sẽ xa dần các tà kiến và các thiên chấp; sẽ sống với nhân cách tự-do-tinh-thần; cởi bỏ gánh nặng nô lệ thị phi, tập tục.
(Xem: 14321)
“Phản văn văn tự tánh” là “quay cái nghe nghe tự tánh”. Tự tánhthực thể đang nghe đang thấy đang biết, đồng thời đang tự biết tự thấy…
(Xem: 12685)
Hành thiền, cốt tuỷ nhất, là tự tri, là quán tâm. Học Thiền, tức học đạogiác ngộ, cốt tuỷ nhất là nương ngôn từ để thấy biết trạng thái tâm trí.
(Xem: 14875)
Tôi có một số kinh nghiệm vững chắc về định, tĩnh, và quán tưởng. Điều đó thúc đẩy tôi đến với Thiền Minh Sát. Các tu sĩ ở đây khuyến khích tôi xuất gia.
(Xem: 19235)
Nếu thấy tất cả con người, muôn vật đều hư giả, tạm bợ thì không còn tham sân nữa. Mình không thật, có ai chửi mình cũng không giận. Cái tôi không thật, lời chửi thật được sao...
(Xem: 13857)
Trong Phật giáo có những phương pháp dùng để thực hành Thiền từ bi. Các thiền giả nhằm khích động lòng từ bi đối với tất cả chúng sinh...
(Xem: 12707)
Thế giới, với người ngộ đạo, đã được lộn trái trở lại: sanh tử lộn ngược thành Niết Bàn. Đời sốngý nghĩakhông tịch. Đời sống là sự biểu hiện của tính sáng.
(Xem: 30474)
Thiền Quán là tri nhận Giác Thức thành Giác Trí. Giác Thức và Giác Trí được quán tưởng theo thời gian. Khi Tưởng Tri thì Thức và Trí luôn nối tiếp nhau làm cho ta có tư tưởng...
(Xem: 11878)
Cuộc cách mạng thực tập Thiền Chánh Niệm bắt đầu bằng một động tác giản dị là chú ý đến hơi thở, cảm thọ trong thân và tâm, nhưng rõ ràng là có thể đi rất xa.
(Xem: 30755)
Sự giác ngộ đem lại lợi ích thực sự ngay trong kiếp sống này. Khi đề cập đến Pháp hành ta nhất thiết phải tìm hiểu qui trình tu tập hợp lý và hợp với giáo huấn của Đức Phật.
(Xem: 29459)
“Chẳng có ai cả” là một tuyển tập những lời dạy ngắn gọn, cô đọng và thâm sâu nhất của Ajahn Chah, vị thiền sư lỗi lạc nhất thế kỷ của Thái Lan về pháp môn Thiền Minh Sát.
(Xem: 30672)
Thiện tri thức! Tâm lượng quảng đại, biến mãn khắp pháp giới, về dụng thì mỗi mỗi phân minh, ứng dụng ra thì biết được tất cả là một, một là tất cả... Thích Nữ Trí Hải dịch
(Xem: 31285)
Bên ngoài xa lìa các tướng gọi là “thiền”, bên trong không loạn gọi là “định”. Bên ngoài nếu như tuy có tướng, song bên trong bổn tính vẫn không loạn, thì đó là cái tự tịnh tự định bổn nguyên.
(Xem: 37176)
Thiện tri thức, khi chưa ngộ thì Phật tức chúng sanh, lúc một niệm khai ngộ, chúng sanh tức Phật. Nên biết vạn pháp đều ở nơi tự tâm...
(Xem: 32325)
Này chư Thiện tri thức, cái trí Bồ Đề Bát Nhã, người thế gian vốn tự có, nhưng bởi tâm mê, nên chẳng tự ngộ được... Minh Trực Thiền Sư Việt dịch
(Xem: 23744)
Quyển "THIỀN QUÁN - Tiếng Chuông Vượt Thời Gian" là một chuyên đề đặc biệt giới thiệu về truyền thống tu tập thiền Tứ Niệm Xứ của đức Phật dưới sự hướng dẫn của thiền sư U Ba Khin.
(Xem: 12258)
Thực tập chánh niệm có thể ảnh hưởng tích cực đến nhiều hoạt động của hạch hạnh nhân, khu vực có kích thước bằng hạt đậu nằm ở trung tâm não bộ...
(Xem: 14254)
Thiền Tiệm Ngộpháp hành từ tập trung trí và thức gom vào một đề mục duy nhất, hoặc dùng một đối tượng đặt ra do tư tưởng định trước.
(Xem: 14118)
Khi chấp nhận thực hành thiền, chúng ta phải có niềm tin sâu sắc vào khả năng của tâm chúng ta ngay từ lúc khởi đầu, và phải duy trì niềm tin ấy...
(Xem: 34032)
Nếu tâm chúng ta dịu dàng, nhân ái, hiểu biết, và có sự đồng cảm đối với tha nhân, chúng ta sẽ tu tập tâm từ đến người khác không mấy khó khăn.
(Xem: 27778)
Đức Phật bảo rằng cần có mười lăm đức tính để tự hoàn thiện, để có thể sinh lòng từ bi đối với mọi người quanh ta hay rộng hơn cho đến tất cả nhân loại...
(Xem: 12482)
Không biết tự bao giờ, Trà trở thành thân quen trong nếp sống Thiền gia Phật Giáo Bắc Truyền, rồi trà thành một phần văn hóa của Phật Giáo...
(Xem: 28704)
Sách này đặt tên "Kiến Tánh Thành Phật", nghĩa là sao? Bởi muốn cho người ngưỡng mộ tên này, cần nhận được lý thật của nó. Như kinh nói: "Vì muốn cho chúng sanh khai, thị, ngộ, nhập tri kiến Phật".
(Xem: 29428)
Những bài kinh Phật không có bài nào là không hay. Có miệt mài trên những trang kinh xưa mới cảm được sự vang động của suối nguồn trí tuệ.
(Xem: 12464)
Vị trí cực kỳ quan trọng của Lục Tổ Huệ Năng đối với sự hình thành và phát triển của Thiền tông Trung Quốc đã khiến các đệ tử Phật môn luôn nhắc về ông...
(Xem: 29289)
Trong sách này Ngài Sayadaw diễn tả đầy đủ phương pháp quán niệmgiải thích với đầy đủ chi tiết đường lối suy tư về lý vô ngã có thể dẫn đến mức độ thành tựu Niết Bàn.
(Xem: 28095)
Vào năm 1986-1987 Hòa Thượng giảng Kinh Nguyên Thủy; đối chiếu Kinh Pali (dịch ra Việt Ngữ) và A Hàm tại Thường Chiếu giúp cho Thiền sinh thấy rõ nguồn mạch Phật Pháp từ Nguyên Thủy đến Đại ThừaThiền Tông.
(Xem: 25735)
Con đường thiền tậpchánh niệm tỉnh giác, chứng nghiệm vào thực tại sống động. Khi tâm an định, hành giả có sự trầm tĩnh sáng suốt thích nghi với mọi hoàn cảnh thuận nghịch...
(Xem: 26091)
Cuốn Ba Thiền Sư ghi lại cuộc đời của Ikkyu Sojun (1394-1481), Hakuin Ekaku (1686-1768), và Ryokan Taigu (1758-1831). Mỗi vị Sư đều hiển lộ Thiền Tông trong cách riêng.
(Xem: 22324)
Với người đã mở mắt đạo thì ngay nơi “sắc” hiện tiền đó mà thấy suốt không chướng ngại, không ngăn che, nên mặc dù Sắc có đó vẫn như không, không một chút dấu vết mê mờ...
(Xem: 33207)
Thiền Tông nhấn mạnh vào mặt kinh nghiệm cá nhân, nhắm đưa từng con người chúng ta giáp mặt trực tiếp với chân lý trong ngay chính hoàn cảnh hiện tiền của chúng ta.
(Xem: 31857)
Các pháp thế gian đều kỵ chấp trước, chỗ qui kính của Thích tử không ai bằng Phật mà có khi vẫn phải quở. Bởi có ta mà không kia, do ta mà không do kia vậy.
(Xem: 39639)
Quả thật, chân lý thiền vốn ở ngay nơi người, ngay trong tự tâm chúng ta đây thôi. Vậy ai có tâm thì chắc chắc có thiền, không nghi ngờ gì nữa.
(Xem: 22508)
Bắt đầu bằng cách bỏ qua một bên tất cả những mối quan tâm ở bên ngoài, và quay vào quán sát nội tâm cho đến khi ta biết tâm trong sáng hay ô nhiễm, yên tĩnh hay tán loạn như thế nào.
(Xem: 34543)
Đây là phần thứ 2 trong 3 phần chính của cuốn Zen no Rekishi (Lịch Sử Thiền) do giáo sư Ibuki Atsushi soạn, xuất bản lần đầu tiên năm 2001 tại Tôkyô.
(Xem: 27404)
Thật ra chân lý nó không nằm ở bên đúng hay bên sai, mà nó vượt lên trên tất cả đối đãi, chấp trước về hiện hữu của Nhị Nguyên. Chân lý là điểm đến, còn hướng đến chân lý có nhiều con đường dẫn đến khác nhau.
(Xem: 28441)
Trong tiếng Phạn (Sanskrit), từ "Thiền" có ngữ nguyên là dhyâna. Người Trung Hoa đã dịch theo âm thành "Thiền na". Ý nghĩa "trầm tư mặc tưởng" của nó từ xưa trong sách vở Phật giáo lại được biểu âm bằng hai chữ yoga (du già).
Quảng Cáo Bảo Trợ
Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Get a FREE Online Menu and Front Door: Stand Banner Menu Display for Your Restaurant