Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sách Văn Học Phật Giáo
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới

15. Khuyến tu

10 Tháng Giêng 201100:00(Xem: 5655)
15. Khuyến tu


THC BIN
Hòa thượng Thích Thiện Siêu
Nhà Xuất Bản TP. HCM, 2003

KHUYẾN TU

(Bài nói chuyện với Tăng Ni, nhân mùa khai giảng Học viện Phật giáo Việt Nam
tại Huế, khóa I, niên học 1997-2001)

Trong đời này, đã là người đi học thì ai cũng muốn học giỏi. Vậy muốn học giỏi phải làm thế nào? Theo tôi nghĩ:

1. Phải có tâm cầu học

Chúng ta phải thật sự có tâm cầu học, phải thành thật có tâm cầu học. Vì thường chúng ta hay nghĩ: Học để khỏi thua người khác. Đó chỉ là cái ý so sánh để khích lệ chúng ta học tập mà thôi. Cái chính là chúng ta phải ý thức chúng ta là một người xuất gia học Phật, theo một đấng Giáo chủ với một đạo lý thâm huyền, chúng ta phải có bổn phận tu đạo, hành đạohóa đạo. Nếu chúng ta không biết gì về giáo lý của Phật cả thì tự chúng ta tu cũng không thành và chắc chắn không ai hóa độ ai được cả.

Khi chúng ta nói học để khỏi thua người khác thì giả sử khi không sợ thua người khác thì chúng ta không học hay sao? Cho nên, học để khỏi thua người khác chỉ là một lý do chúng ta tự đặt ra để khuyến khích chúng ta thôi, không phải là lý do chính. Lý do chính là tâm thành thật cầu học đạo. Bởi vì như chúng ta biết, đạo lý của Phật phải có duyên lành mới gặp được. Đạo Phật là đạo giải thoát, đức Phậtđấng Giác ngộ thì giáo lý của Phật là kho tàng đạo lý giác ngộ. Nếu chúng ta không học thì làm sao chúng ta biết được đạo lý ấy? Nhiều khi vô tình chúng ta nói: Đạo Phật cao siêu lắm. Nhưng nếu có người hỏi Đạo Phật cao siêu ở chỗ nào, thì chúng ta không làm sao đáp được. Đó là một khuyết điểm lớn đáng buồn.

Các anh em cũng thấy rõ trong hàng Tăng ni chúng ta bây giờ có một số thường mắc phải cái bệnh lý luận: Bàn những việc khác của thế gian thì lý luận rất rạch ròi, nhưng khi đi vào giáo lý, giáo pháp của Phật thì lúng túng, lập luận không vững vàng, cụ thể.

Bây giờ muốn tránh cái bệnh ấy, chúng ta phải cố tâm cầu học thật sự. Cầu học thật sự để hiểu rõ giáo ý của Phật, hiểu rõ con đường tu hành để có khả năng giáo hóa người khác một cách đúng đắn, chứ không phải chắp vá, lấy nơi này một câu, lấy nơi khác một câu làm kiến thức của mình. Nhiều khi chúng ta đem một câu của ngoại đạo mà cho là của đạo mình. Hiện tại có nhiều sách của ngoại đạo viết, họ dùng giáo lý của đạo chúng ta để tô bồi, ca ngợi chủ trương giáo lý của họ, hoặc là để chê bai, chỉ trích chúng ta. Nếu chúng ta không học thì khi đọc những sách ấy, chúng ta vội cho đấy là lời Phật nói. Tất cả những lời họ nói, chúng ta đều cho là lời Phật nói, cho là đúng rồi tin theo. Trước đây có nhiều người cũng dịch kinh Kim-cang, viết về Bồ-tát hạnh mà kỳ thật là người đâu đâu viết, người ngoại đạo viết chứ không phải người của Phật giáo. Họ viết như vậy để làm gì? Họ nêu những danh từ Phật giáo để hấp dẫn, lôi cuốn người đọc, để làm cho người ta tưởng lầm là sách đạo Phật nên đua nhau đọc, nhưng thật chất không có gì là đạo Phật cả. Nếu chúng ta không học, chúng ta cũng tưởng là sách Phật, rồi chúng ta truyền bá cho tín đồ, khuyên họ nên mua cuốn sách ấy mà đọc. Như vậy, vô tình chúng ta truyền bá cái tà đạo, trưyền bá cái tà kiếnchúng ta không biết, đó mới thật đúng là "ăn cơm Phật, đốt râu thầy chùa". Thành thử chúng ta thấy tâm cầu học là một điều hết sức cần thiết: cần thiết cho mình, cần thiết cho đạo, cần thiết cho sự nghiệp hành đạohóa đạo.

Lại nữa, chúng ta học vì sợ thua người khác thì khi không sợ thua người khác chúng ta không học hay sao? Thí dụ trong lớp có một người học rất giỏi, mình luôn cố gắng học để khỏi thua người ấy. Bỗng nhiên người ấy bỏ học. Bây giờ đến lớp, mình không sợ thua ai nữa, nên không cần học nữa. Cho nên, cái tâm niệm học để khỏi thua người khác có cái tai hại như thế. Thành thử muốn học giởi thì phải có tâm cầu học. Chính cái tâm ấy là tâm thiết tha mong cầu đạo giải thoát của người xuất gia. Chính cái chánh nhân ấy thúc đẩy, khích lệ chúng ta học giỏi để phục vụ đạo pháp.

2. Phải chăm chỉ chuyên cần

Có tâm cầu học rồi nhưng nếu không chăm chỉ, chuyên cần thì chúng ta cũng không giỏi được. Đi học không chuyên cần, đến lớp không chăm chú nghe giảng bài, không ghi chép, về nhà không xem kỹ lại bài học, không làm bài tập thì không sao giỏi được. Chăm chỉ, chuyên cần thật sự rất cần thiết đối với chúng ta.

3. Phải có tâm tu, phải có đức tu

Nghĩa là phải biết chịu thương chịu khó, chịu khổ chịu cực, mới học được. Chúng ta nói "Tu Học" chứ không nói "Học Tu", nên Tu là chính, Học là để biết đường Tu. Chúng ta nói Tu Học cũng như đạo Nho nói "tiên học lễ, hậu học văn". Lễ là quan trọng, Văn là thứ yếu. Cũng vậy, các anh em bây giờ cần Tu mới tới đây Học, không Tu anh em tới đây để làm gì? Tu và Học gắn liền với nhau. Như vậy, nên trong thời gian học ở đây, anh em phải tu mới học được; nghĩa là phải chịu thương chịu khó, chịu khổ chịu cực để mà học.

Hoàn cảnh ăn, ở, học của anh em bây giờ đầy đủ tiện nghi hơn chúng tôi ngày trước kia rất nhiều lắm. Bây giờ tôi kể ra đây anh em nghe những chuyện tưởng như huyền thoại. Nhưng đó là sự thật, nó chỉ mới xảy ra cách đây mấy chục năm thôi.

Trước kia chúng tôi đã học trong một ngôi trường, nhỏ hơn ngôi trường này và cũng được xây dựng trên mảnh đất này. Trường có ba căn, mỗi căn bằng nửa phòng này. Hai căn dùng làm phòng ngủ, một căn dùng làm phòng học. Phòng hẹp, giường nằm kê sít nhau không có chỗ chen chân vào nên mỗi lần lên giường ngủ cũng rất vất vả. Có khi thiếu giường, chúng tôi phải ghép hai ba cái bàn học lại để ngủ. Chỗ ngủ đã vậy, đồ ăn, đồ mặc, đồ nằm chúng tôi cũng rất thiếu thốn. Mùa nắng cũng như mùa mưa, mỗi người một chiếc chiếu trắng không có hoa. Đồ đắp thì dùng bao đựng gạo thay mền, đồ mặc thì mỗi người chỉ có một vài bộ quần áo thô nhuộm nâu, mùa lạnh không bao giờ có áo ấm. "Tiền tam tam, hậu cũng tam tam" mà thôi.

Tối đến chúng tôi làm gì có đèn điện mà đọc, thậm chí không có cả đèn dầu hỏa, chúng tôi chỉ thắp đèn dầu "chuông", đèn dầu "cây", hoặc thắp nhựa thông để học bài, làm bài. Cứ mỗi người một ngọn đèn, hoặc hai người chung nhau một ngọn đèn. Dưới ánh sáng của ngọn đèn "tù mù" chỉ soi sáng một khoảng không gian nhỏ hẹp bằng một trang sách, chúng tôi chăm chú mà học. Ngoài phạm vi ấy, chúng tôi không thể thấy gì được nữa.

Có lẽ nhờ vậy nên chúng tôi định tâm mà học để có được như ngày nay. Bởi vì, khi chúng ta đã chú ý vào cuốn sách thì tâm ta không tán loạn, tư tưởng mới đọng lại và sáng lên, chúng ta mới giỏi được. Bây giờ chúng ta sung túc quá: trong phòng có đèn trần, đèn để bàn rồi đèn ngủ; ngoài cửa còn để đèn "chong", sợ đi ra vấp ngã.

Ngày xưa, không có những tiện nghi ấy nên người ta sống hòa hợp; người ta sống với trời, đất, trăng, sao, gần gũi với thiên nhiên hơn. Điều đó cũng hợp với tâm tu lắm đó (Thước-ca-la tâm vô động chuyển). Nhờ có hòa hợp với thiên nhiên mà lòng mình bớt được mọi sự phiền não triền phược. Ngược lại, cuộc sống hôm nay tiện nghi đầy đủ làm cho con người cách biệt với thiên nhiên. Đêm người ta không thấy trăng, vì điện sáng quá người ta đâu thấy trăng. Có lẽ vì vậy mà ngày nay trăng không còn là nguồn cảm hứng của thi nhân. Lý Bạch ngày xưa mơ trăng, uống rượu say, nhảy xuống sông ôm trăng mà chết. Người xưa đã hòa nhập với thiên nhiên. Cũng vì cách biệt với thiên nhiên, thành ra tâm người bị phân tán. Tâm đã bị phân tán như vậy, chúng ta làm sao học giỏi được. Người có tâm phân tán như vậy thì chỉ giỏi lý luận mà thôi, còn nói về đạo lý thì không đúng.

Đó là nói về chuyện học và ngủ, còn về vấn đề ăn uống thì chúng tôi rất kham khổ. Tiêu chuẩn là bốn người một bát "chân tượng" cơm, một tô canh "toàn quốc", một đĩa rau luộc hoặc đĩa dưa môn hay là đĩa cải dầm. Ngoài ra, không có món ăn phụ như bánh chuối gì nữa. Hoạ hoằn một năm vài lần được người ta cúng vài "trái chuối". Vì lúc ấy trình độ hiểu biết về Phật pháp của tín đồ còn thấp kém, người phát tâm không nhiều. Hơn nữa, thời đại lúc bấy giờ dân tình cũng còn nghèo đói lắm, muốn cúng các thầy vài buồng chuối cũng phải góp nhau năm bảy người, một người không đủ sức cúng. Tuy chúng tôi kham khổ như thế, nhưng đó cũng là một sự đóng góp rất lớn của những người có nhiệt tâm đối với tương lai của đạo pháp mới được như thế.

Ấy vậy mà lúc bấy giờ chúng tôi học nghiêm túc lắm, sợ thầy lắm, sợ thầy chứ không oán thầy. Bây giờ nghĩ lại càng thương thầy và biết ơn thầy. Đi học là phải có ý sợ thầy, kính thầy mới học được. Chứ nếu không sợ thầy, kính thầy, ngang bướng quá trớn thì không sao học được.

Thời ấy chúng tôi học với một vị giáo sư, trước là một nhà giáo, sau đi tu, tức Hòa thượng Trí Độ. Hễ có ai làm thầy tức giận là thầy phạt luôn cả lớp chứ không phải chỉ đánh một người. Gọi tên người có lỗi chưa kịp lên là thầy đánh luôn tại chỗ. Nhiều khi cả lớp sợ chạy luôn. Tôi kể lại như vậy là để các vị thấy tinh thần học tập của chúng tôi lúc bấy giờ là chỉ sợ thầy chứ không oán thầy. Chúng tôi sống rất vô tư. Học vất vả như thế mà chúng tôi không thấy khổ. Cho đến bây giờ chúng tôi cũng không hề tiếc rằng: Tại sao chúng ta sinh ra thời ấy làm gì cho khổ? Chúng tôi chỉ nghĩ rằng, trên đường đạo, bước sớm được bước nào hay bước đó. Giờ đây tôi nhắc lại như vậy để anh em biết mà chuẩn bị tinh thần, tư cách để mà học.

Đó là tinh thần học, còn giải trí thì không biết chơi gì, chỉ có đánh nhảy, đá kiện, đá bóng. Đá bóng thì không có sân cỏ, chỉ có một cái sân, toàn là sạn. Quả bóng thì nhỏ xíu, vô ý bị tước chân. Chỉ bấy nhiêu trò chơi và chúng tôi chỉ chơi trong sân ấy, không được đi đâu xa. Không chơi những trò chơi nguy hiểm. Tuy thế, cũng có một số anh em vì thiếu tinh thần chịu khó, thiếu kiên nhẫn, nên đã bỏ cuộc. Ví dụ như ông Đỗ Xuân Tiến, ông học rất giỏi và rất thông minh. Có những bài thầy ra, chúng tôi căm cụi làm hai ba ngày chưa xong, khi làm bài xong, đọc nghe trúc trắc thế nào ấy. Trái lại, ông ta cứ chơi cho đã rồi vào viết một lúc là xong. Bài của ông lại rất hay rất lưu loát. Học giỏi như thế, cuối năm ông thi không đậu, vì sao? Vì ông ham chơi quá. Ai rủ đi chơi đâu ông cũng đi, bỏ bê việc học. Nhiều khi ỷ thị tài học và sự thông minh của mình nên không chăm chỉ chuyên cần, bỏ qua nề nếp nhà trường nên mất căn bản về học tập, về đạo đức.

4. Muốn học giỏi là phải tu

Muốn học giỏi phải lo tu. Không tu không học được. Cũng có một số rất ít người đã bỏ học vì những lý do rất nhỏ nhặt, chỉ vì thiếu kiên trì, không kiềm chế được bản năng. Lúc bấy giờ không có những thức ăn phụ nên thích ăn vặt, ấy gọi là ăn hàng. Nhưng thật ra chỉ có vài thứ kẹo đặc sản như kẹo Cau, kẹo Gừng, kẹo Đậu phộng mà thôi. Những anh em ấy không chịu khổ được, không kiềm chế được cái thèm của mình nên phải ăn. Ăn mắc nợ người ta lâu ngày không trả nên người ta đến lớp đòi, các anh ấy xấu hổ bỏ học. Đã bỏ học rồi họ bỏ tu luôn. Chúng tôi nhờ kiên trì chịu khổ, chịu cực mới có ngày hôm nay.

Sau này vì thời cuộc, trường bị phân tán: Chiến tranh bùng nổ, xứ Huế quá nghèo, Hội không đủ sức đài thọ mới đưa một số học Tăng vào Nam, chỉ để lại trường một số ít thôi. Từ đó, chiến tranh liên miên, người thì chết, người thì đi kháng chiến, kẻ thì hoàn tục. Lớp của chúng tôi chỉ còn lại mấy vị như Hòa thượng Trí Tịnh, tôi, Hòa thượng Thiện Minh, Hòa thượng Trí Quang, Hòa thượng Huyền Quang cũng có. Và cũng chính trong thời gian Phật giáo cận đại cũng chỉ số anh em này ra gánh vác việc Đạo. Đó chính là nhờ trong giai đoạn học tập đã có tâm thành thật vô tư, chịu khó, chăm chỉ mà học nên sau này mới có khả năng để ra gánh vác việc Đạo như vậy. Thêm vào nữa là anh em chúng tôi hồi ấy đối với nhau rất chân tình, không có phe đảng gì cả.

Mấy hôm nay, tôi lên thăm Hồng Đức, thấy anh em nằm giường chật chội, tôi rất xót xa! Vì trong số anh em đây chắc có nhiều người ở nhà cũng thoải mái lắm, ở một mình một phòng rộng, có quạt trần, quạt để bàn; có đền trên trần, có đèn đọc sách, có đèn ngủ... Có người còn có radio, tivi, cassette, nữa. Nghĩ như vậy nên mấy hôm nay tôi cứ thấy ngậm ngùi... Bây giờ anh em ở một phòng sáu người thì tuy có hơn chúng tôi thời bấy giờ đôi chút, nhưng so với tiện nghi mà anh em có ở nhà thì ở đây còn chật chội quá! Không biết anh em có suy nghĩ gì không. Nếu thật tình mà nói như lời Phật dạy "Nhất thiết duy tâm tạo" thì chúng ta có thể vì sự học mà quên đi những thiếu thốn vật chất. Vì khi chúng ta để để hết tâm trí vào việc học rồi, thì đâu còn nghĩ đến những tiện nghi vật chất nữa. Lúc ấy đáng lẽ khổ mười phần, chúng ta chỉ thấy khổ một phần hoặc không còn thấy khổ nữa.

Lại như ngày xưa các cụ Nguyễn Trãi, Lê Quý Đôn, Nguyễn Du... các cụ đâu có những tiện nghi vật chất như chúng ta bây giờ, mà sao các cụ cũng trở thành đại thi hào, nhà bác học lỗi lạc và còn để lại cho chúng ta những kiệt tác như thế? Xem đó, đủ biết những tiện nghi vật chất chỉ là những trợ duyên bên ngoài, cái chính nhân của sự học là tâm cầu học, là sự cố gắng nỗ lực, tích cực phát huy khả năng, trí tuệ của mình. Có thể nói anh em bây giờ học chỉ chú trọng bề rộng mà ít chú trọng bề sâu. Phật pháp có nhiều môn, môn nào hợp với khả năng của mình thì nên chú trọng môn ấy hơn, chuyên tâm sưu tầm một cách thấy đáo mới được lợi ích. Cũng như ngoài đời người ta thường nói: "Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh", nghĩa là có một nghề cho thật tinh tường, rồi khéo tay tức là thân được vinh hiển. Cũng vậy chúng ta chỉ cần một môn tinh, sâu, sau này chúng ta mới có thể làm một vị giảng sư vững vàng được.

5. Thái độ học tập

Người xưa nói người có tinh thần học là người:

Bất sỉ hạ vấn: Là không hổ thẹn khi cúi mình học hỏi người kém nhỏ hơn mình. Vì sao? Vì có người kém hơn mình nhiều điều nhưng có thể có một điều nào đó người ấy giỏi hơn mình, mình nên cúi mình học hỏi họ.

Dũ học dũ ngu: Nghĩa là càng học càng thấy ngu. Không bao giờ chúng ta được phép tự phụ cho là mình biết đủ và có ý khinh mạn sư trưởng, phải luôn luôn tự thấy mình thiếu thốn về kiến thức, về tri thức.

Tinh tiến đạo hạnh: Không những về kiến thức, tri thức mà về đạo hạnh cũng vậy. Đức Phật ngày xưa đã từng tắm rửa cho một vị Tỷ-kheo đau ốm và xâu kim cho một bà già loà mắt. Thấy vậy, có người đệ tử hỏi Ngài: "Đức Thế Tôn đã đầy đủ, viên mãn phước đức rồi, sao Ngài còn làm những việc phước nhỏ như thế nữa làm gì?" Ngài bảo: "Phước đức đối với ta không bao giờ đủ cả". Đó là một bài học cho chúng ta, Phật mà còn như vậy, huống hồ chúng ta là kẻ thiếu học, thiếu đức, chưa có gì đáng để tự phụ. Như vậy, chúng ta phải luôn luôn giữ tâm hồn trong trắng, vô tư, khiêm tốn, không kiêu căng ngạo mạn. Đó là những đức tính cần thiết để làm việc trong tương lai. Có những người rất giỏi nhưng không ai dùng cả vì quá tự phụ, vì họ thiếu đức, thiếu tu. Ở đời mà thiếu đức, thiếu tu cũng không nên làm việc lớn, huống gì trong Đạo. Vì thế, tôi mong rằng trong Viện chúng ta, anh em giữ tư cách đàng hoàng về học cũng như về hành. Học viện này tốt hay xấu, có tồn tại lâu dài hay không, còn tùy cả ở tư cách đạo đức của anh em. Chúng ta không nên chạy theo tiện nghi vật chất quá đáng, vì đã gọi là "bần Tăng tam thường bất túc" mà chúng ta xa xỉ, thừa thãi quá thì đó là điều đáng hổ thẹn.

Ý thức trách nhiệm: Mở được Học viện này là điều rất quý hóa, là niệm hoan hỷ chung cho hàng Phật tử xuất gia cũng như tại gia. Cho nên, chúng ta phải cố gắng làm sao để Học viện xứng đáng là một Học viện Phật giáo khiến cho hàng Phật tử tại gia tin tưởng vào chúng ta, tin tưởng vào tương lai đạo pháp. Đó cũng chính là một cách chúng ta hoằng dương rồi, chứ không phải đợi sau này ra thuyết giảng cho họ mới là hoằng đạo. Nếu Học viện không xứng đáng là một Học viện Phật giáo, làm cho hàng Phật tử tại gia mất tin tưởngchúng ta, ở tương lai đạo pháp, thì vô hình chung chúng ta làm cho họ thoái thất tín tâm.

Học viện đòi hỏi sự đóng góp tích cực của anh em để xây dựng Học viện vững chắc, xứng đáng là một Học viện Phật giáo bằng chính thái độ học tập nghiêm túc, ý thức giữ gìn oai nghi tế hạnh của anh em. Tôi nói như thế là để anh em thấy cái trách nhiệm chung đối với Học viện. Ngay bản thân tôi bây giờ đã gần 80 tuổi rồi, tôi không còn ham muốn gì nữa mà đành phải ra gánh vác việc chung, vì tôi nghĩ rằng mình được ngày hôm nay là nhờ ai, nhờ Tam Bảo, nên tôi phải làm việc hết mình. Trang Tử ngày xưa có nói: "Người ta ở đời có tam bất hủ là lập ngôn, lập công và lập đức". Chúng ta bây giờ cũng vậy, cái tâm cầu học, cái chí nguyện hoằng pháp lợi sinh làm sự nghiệp của chúng tathời gian không gian không thể chi phối được. Mong rằng chúng ta luôn luôn giữ vững lập trường trong giảng dạy cũng như trong học tập tấn tu Đạo nghiệp.

Tôi nói chuyện với anh em bấy nhiêu. Mong rằng anh em cố gắng, chúng ta cùng nhau xây dựng Học viện một cách tốt đẹp, làm cơ bản cho các lớp hậu học, hầu mong sau này có được những bậc Tăng Ni có thực học, thực đức để ra phục vụ Đạo pháp, báo Phật ân đức.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 14318)
Toàn bộ lý do vì sao phải học tập về Giáo Pháp (Dhamma), những lời dạy của Đức Phật, là để tầm cầu một con đường vượt qua khổ não, đạt đến an bìnhhạnh phúc.
(Xem: 14578)
Trong Phật giáo, chúng ta không tin vào một đấng Tạo hóa nhưng chúng ta tin vào lòng tốtgiữ giới không sát hại sinh linh. Chúng ta tin vào luật nghiệp báo nhân quả...
(Xem: 11854)
Ðạo Phật cốt đào luyện tâm hồn người hoàn toàn trong sạch, nên cực lực sa thải những tính: tham lam, sân hận, oán thù... đang trú ẩn trong tâm giới người.
(Xem: 14376)
Với niềm vui lớn lao, vua Tịnh Phạn chúc mừng hoàng hậu và thái tử vừa mới đản sinh. Dân chúng tổ chức các buổi hội hè tưng bừng và treo cờ kết hoa rực rỡ trên toàn quốc.
(Xem: 13284)
Tập sách này gồm có những bài viết đơn giản về Phật Pháp Tại Thế Gian, Cốt Tủy Của Ðạo Phật, Vô Thượng Thậm Thâm Vi Diệu Pháp, những điều cụ thể, thiết thực...
(Xem: 14653)
Tập sách này là kết tập những bài báo viết trên Bản Tin Hải Ấn và Phật Giáo Việt Nam trong cùng một chủ đề. Đó là Con Đường Phát Triển Tâm Linh.
(Xem: 12649)
Chúng tôi viết những bài này với tư cách hành giả, chỉ muốn đọc giả đọc hiểu để ứng dụng tu, chớ không phải học giả dẫn chứng liệu cụ thể cho người đọc dễ bề nghiên cứu.
(Xem: 25282)
Cư sĩ sống trong lòng dân tộc và luôn luôn mang hai trọng trách, trách nhiệm tinh thần đối với Phật Giáo và bổn phận đối với cộng đồng xã hội, với quốc gia dân tộc.
(Xem: 27920)
Chúng tôi viết quyển sách này cho những người mới bắt đầu học Phật. Bước đầu tuy tầm thường song không kém phần quan trọng, nếu bước đầu đi sai, những bước sau khó mà đúng được.
(Xem: 26389)
Pháp môn Tịnh Độ cao cả không cùng, rộng lớn như trời che đất chở. Đây là Pháp môn tổng trì của chư Phật ba đời, là đạo mầu đặc biệt trong một đời giáo hóa của đức Thích Ca.
(Xem: 17248)
Đôi khi mọi người nghĩ cái chết là sự trừng phạt những việc xấu xa mà họ đã làm, hoặc là sự thất bại, sai lầm, nhưng cái chết không phải như vậy. Cái chết là phần tự nhiên của cuộc sống.
(Xem: 16537)
Sách này nói về sự liên quan chặt chẽ giữa con người và trái đất, cả hai đồng sinh cộng tử. Con người không thể sống riêng lẻ một mình nếu các loài khác bị tiêu diệt.
(Xem: 15933)
Cuốn sách “Tin Tức Từ Biển Tâm” của nhà văn Phật giáo Đài Loan – Lâm Thanh Huyền – quả là một cú “sốc” tuyệt vời đối với các nhà Phật học Việt Nam.
(Xem: 22165)
Người cư sĩ tại gia, ngoài trách nhiệm và bổn phận đối với gia đình, xã hội còn có nhiệm vụ hộ trì Tam Bảo. Cho nên trọng trách của người Phật Tử tại gia rất là quan trọng...
(Xem: 17147)
Mỗi sáng lúc mới thức dậy, trong trạng thái mơ màng chưa tỉnh hẳn, chúng ta phải bắt đầu lôi kéo tâm thức vào một đường hướng rõ ràng: tự đánh thức lên lòng ngưỡng mộ cao rộng đến buổi rạng đông...
(Xem: 24950)
Làm sao tôi có thể hành thiền khi quá bận rộn với công việc và gia đình? Làm sao tôi có thể phối hợp hoạt động với ngồi yên một chỗ? Có các nữ tu sĩ không?
(Xem: 22006)
An Lạc phải bắt đầu từ nơi mỗi chúng ta mà từ, bi, hỉ, xả là nền tảng. Có từ, bi, hỉ, xả, thì đi đâu ta cũng gieo rắc tình thương và sự hòa hợp...
(Xem: 19089)
Tập sách này không phải là một tiểu luận về tâm lý học nên không thể bao quát hết mọi vấn đề nhân sinh, mục đích của nó nói lên sự tương quan của Ý, Tình, Thân và tiến trình phiền não...
(Xem: 16180)
Đức Phật tuy đã nhập diệt trên 25 thế kỷ rồi, nhưng Phật pháp vẫn còn truyền lại thế gian, chân lý sống ấy vẫn còn sáng ngời đến tận ngày hôm nay. Đây là những phương thuốc trị lành tâm bệnh cho chúng sanh...
(Xem: 21733)
Những gì chúng ta học được từ người xưa và cả người nay dĩ nhiên không phải trên những danh xưng, tiếng tăm hay bài giảng thơ văn để lại cho đời, mà chính ngay nơi những bước chân của người...
(Xem: 16800)
Đối với Phật giáo, tính cách quy ước của tâm thức biểu lộ từ một sự sáng ngời trong trẻo. Những khuyết điểm làm ô uế nó không nội tại nơi bản chất của nó mà chỉ là ngoại sanh.
(Xem: 14679)
Đọc “Trung bộ kinh” chúng ta có được một đường lối tu hành cụ thể như một bản đồ chỉ rõ chi tiết, đưa ta đến thành Niết bàn, cứu cánh của phạm hạnh.
(Xem: 16724)
J. Krishnamurti, cuộc sống và những lời giáo huấn của ông trải dài trong phần lớn thế kỷ hai mươi, được nhiều người tôn vinh là một con ngườiảnh hưởng sâu sắc nhất vào ý thức của nhân loại...
(Xem: 25042)
“Cái tiến trình” là một hiện tượng thuộc cơ thể, không nên lầm lẫn với trạng thái tinh thần mà Krishnamurti viết trong quyển này bằng nhiều từ khác biệt như là “phước lành”, “cái khác lạ”...
(Xem: 18794)
Quyển sách này là kết quả của những cuộc nói chuyện và những cuộc thảo luận được tổ chức ở Ấn độ bởi J. Krishnamurti với học sinh và giáo viên của những trường học tại Rishi Valley...
(Xem: 21203)
Gốc rễ của xung đột, không chỉ phía bên ngoài, nhưng còn cả xung đột phía bên trong khủng khiếp này của con người là gì? Gốc rễ của nó là gì?
(Xem: 14783)
Với hầu hết mọi người chúng ta, sự liên hệ với một người khác được đặt nền tảng trên sự lệ thuộc, hoặc là kinh tế hoặc là tâm lý. Lệ thuộc này tạo ra sợ hãi...
(Xem: 14380)
Bàn về Cách kiếm sống đúng đắn tìm hiểu những phương cách cho chúng ta tham gia, nhưng không đắm chìm, công việc của chúng ta. Trong một thế giới điên cuồng để sản xuất...
(Xem: 16628)
Phật Giáo dạy nhân loại đi vào con đường Trung Đạo, con đường của sự điều độ, của sự hiểu biết đứng đắn hơn và làm thế nào để có một cuộc sống dồi dào bình anhạnh phúc.
(Xem: 18021)
Đọc Tu Bụi của tác giả Trần Kiêm Đoàn, tôi có cảm tưởng như nhìn thấy một mảnh bóng dáng của chính mình qua nhân vật chính là Trí Hải. Đời Trí Hải có nhiều biến cố.
(Xem: 12939)
Suy nghĩ không bao giờ mới mẻ, nhưng sự liên hệ luôn luôn mới mẻ; và suy nghĩ tiếp cận sự kiện sinh động, thực sự, mới mẻ này, bằng nền quá khứ của cái cũ kỹ.
(Xem: 14955)
Hầu hết mọi người sẽ vui mừng để có một sự an bình nào đấy của tâm hồn trong đời sống của họ. Họ sẽ hân hoan để quên đi những rắc rối, những vấn đề...
(Xem: 12733)
Sau thời công phu khuya, tôi được phân công quét chùa. Tay cầm chiếc chổi chà, tôi nhẹ bước ra sân và leo lên cầu thang phía Ðông lang chính điện.
(Xem: 13899)
Điều làm cho một người trở thành một Phật tử chân chính là người ấy tìm nơi nương tựaĐức Phật, Giáo pháp, và chư Thánh Tăng - gọi là Quy Y Tam Bảo.
(Xem: 14620)
Sống cùng với xã hộicần phải đi đến việc cùng chung có một tinh thần trách nhiệm cộng đồng. Còn kiến thức thì giúp chúng ta khám phá thiên nhiên đồng thời với nội tâm của chúng ta.
(Xem: 28059)
Đây là một quyển sách căn bản dành cho người muốn tìm hạnh phúc và sự bình an trong cuộc sống qua con đường tâm linh. Con đường Đạo của Đức Phật rất đơn giản, thích hợp với mọi người.
(Xem: 27235)
Trong Đường Xưa Mây Trắng chúng ta khám phá ra Bụt là một con người chứ không phải là một vị thần linh. Đó là chủ tâm của tác giả...
(Xem: 14360)
”Vượt Khỏi Giáo điều” không phải chỉ đề cập đến những vấn nạn đời thường, nó còn tiến xa hơn một bước nữa là vạch ra cho con người một hướng đi, một hành trình tu tập tâm linh hầu có thể đạt đến cứu cánh giác ngộ giải thoát ngay trong kiếp sống này.
(Xem: 20999)
Cuốn sách này là một bản dịch của Ban Dịch Thuật Nalanda về tác phẩm Bản Văn Bảy Điểm Tu Tâm của Chekawa Yeshe Dorje, với một bình giảng căn cứ trên những giảng dạy miệng do Chošgyam Trungpa Rinpoche trình bày.
(Xem: 14676)
Duy tâm của Phật giáo không công nhận có cảnh nào là cảnh thật, hết thảy các cảnh đều do tâm hiện, lá chuối cũng tâm hiện, bóng người cũng tâm hiện, như hoa đốm giữa hư không.
(Xem: 24214)
Để hỗ trợ cho việc phát triển và thực thi tâm hạnh từ bi, việc chủ yếu là phải vượt qua những chướng ngại. Nơi đó, hạnh nhẫn nhục đóng vai trò quan trọng...
(Xem: 28728)
Guru (Đạo Sư) giống như một viên ngọc như ý ban tặng mọi phẩm tính của sự chứng ngộ, một người cha và bà mẹ dâng hiến tình thương của mình cho mọi chúng sinh...
(Xem: 14747)
Cuốn sách nhỏ này không phải đã được viết ra để phô bày kiến thức của tác giảkiến thức ấy không có gì đáng để được phô bày. Nó mong ước được là một người bạn hơn là một cuốn sách.
(Xem: 13307)
“Không có tẩu thoát khỏi sự liên hệ. Trong sự liên hệ đó, mà là cái gương trong đó chúng ta có thể thấy chính chúng ta, chúng ta có thể khám phá chúng ta là gì...
(Xem: 16470)
Quyển sách này đã đem lại cho độc giả một cái nhìn mới của Tây phương đối với Phật giáo trước đây vốn hoàn toàn xa lạ và hiện nay đang rất thịnh hành ở châu Âu và châu Mỹ.
(Xem: 27272)
Milarepa là Thánh St. Francis của Tây Tạng. Chúng ta không thể nhầm lẫn âm điệu của những ca khúc này với âm điệu của những ca khúc Fioretti...
(Xem: 12025)
Trí Phật là trí kim cương. Thân Phật là thân kim sắc, cõi Phật là cõi hoàng kim, thì Đạo Phật tất nhiên là Đạo Vàng. Ánh Đạo Vàngkim quang của đức Từ bi rộng lớn phá màn vô minh, chỉ rõ đường chánh.
(Xem: 16081)
Milarepa là một trong những đạo sư tâm linh nổi tiếng nhất của mọi thời. Ngài không những là một nhà lãnh đạo kiệt xuất của dòng phái Kagyu, mà cũng là một đạo sư rất quan trọng đối với mọi trường phái của Phật giáo Tây Tạng.
(Xem: 21522)
Nếu bạn không suy nghĩ sự đau khổ của chu trình sinh tử, sự tan vỡ ảo tưởng với vòng sinh tử sẽ không sinh khởi.
(Xem: 12385)
Cuốn sách nhỏ này do Hòa Thượng Tiến Sĩ K. Sri Dhammananda là một cuốn sách có giá trị, đáp ứng được những câu hỏi như chết đi về đâu và chết rồi đã hết khổ chưa...
Quảng Cáo Bảo Trợ
Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Get a FREE Online Menu and Front Door: Stand Banner Menu Display for Your Restaurant