Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
20,005,128

Chương 1: Ý Nghĩa Đạo Đức

Wednesday, December 1, 201000:00(View: 7986)
Chương 1: Ý Nghĩa Đạo Đức


ĐẠI THỪA PHẬT GIÁO TƯ TƯỞNG LUẬN
Tác Giả: Kimura Taiken

Hán Dịch: Thích Diễn Bồi - Việt Dịch: Thích Quảng Độ
Xuất Bản: Viện Đại Học Vạn Hạnh 1969 - Phật Học Viện Quốc Tế, USA 1986

THIÊN THỨ BA
ÐẠI THỪA PHẬT GIÁO THỰC TIỄN LUẬN

CHƯƠNG THỨ NHẤT

Ýٍ NGHĨA ÐẠO ÐỨC

TIẾT THỨ NHẤT: GỢI ÐỀ.

Ðiều mà tưởng không cần nói ai cũng biết rằng Phật Giáo là một tôn giáo đậm màu luân lý. Luân lý đó đã được thể hiện trong giáo pháp của phật, bắt đầu từ bốn câu kệ "Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành; Tự tinh kỳ ý, Thị chư Phật Giáo" rồi nêu lên những đức mục khác để chỉ dạy đường lối tu dưỡng. Ðối với tín chúng đức Phật đã chỉ dạy từ việc lớn như quốc gia chính sự, đến việc nhỏ như hòa khí trong gia đình. Ðó là sự thật ta thấy đầy dãy trong các kinh điển. Nếu chiếu theo lịch sử, ta thấy tại những nơi Phật Giáo thịnh hành, đạo Phật đã trở thành một tôn giáo của dân chúng. Nếu đứng về mặt xã hộinhận xét thì thay vì nói những giáo lý cao thâm, lại lấy đạo đức thực tiễn thiển cậngiáo hóa quốc gia dân chúng. Vua A-Dục (Ashoka) sau khi quy Phật, cũng như lịch sử Phật giáo Trung Quốc, Nhật Bản đã chứng minh điều đó. Bởi thế trong số các học giả Tây Phương có nhiều người cho Phật Giáo, nhất là Phật Giáo Nguyên thủy, chỉ là cải tạo nền luân lý của Bà-la-môn mà thôi. Dĩ nhiên đây là một nhận xét chưa hẳn đã xác đáng, nhưng nói một cách tổng quát thì Phật Giáo, thông qua Tiểu Thừa và Ðại Thừa, đều đề cao lòng từ bi, tôn trọng tâm-quý, (lương tâm) và lấy việc tu thiện, lành ác làm đặc chất, đó là sự thật hiển nhiên.

Song, đồng thời với việc làm lành lánh dữ, Phật Giáo còn là một tôn giáo lấy việc giải thoát hẳn mọi nỗi khổ đau trong ba cõi làm lý tưởng tối hậu, điều này tưởng không cần phải nhắc lại. Mà nội dung của Niết Bàn giải thoát, tuy có nhiều nhận xét khác nhau, nhưng bất luận thế nào cũng đều cho đó là cảnh giới sau khi đã siêu việt hiện thế, mà cảnh giới đó dĩ nhiên không còn việc ác, nhưng đến nay điều thiện cũng cần phải xả ly cả. Vì rằng cái gọi là thiện ác thuộc về sai biệt giới, còn giải thoát Niết-Bàn thuộc bình đẳng giới. Cho nên bất luận là Tiểu Thừa hay Ðại Thừa, một mặc tuy ca ngợi và khuyến khích việc làm thiện, nhưng mặc khác phải vượt hẳn lên trên mọi sự thị phi thiện ác.

Do đó vấn đề được đặt ra là: nếu đã vậy thì đứng trên lập trường lý tưởng tối cao kia mà nhận xét giáo lý đạo đức của Phật Giáo đã chiếm một địa vị như thế nào? Nói cách khác, trong Phật Giáo, yếu tố đạo đức là vật phụ thuộc, nếu có nó thì mặt phát huy Phật Giáo xã hội thực tế tuy có ích lợi , nhưng thí dụ không có nó thì có được hay không? Còn nếu nó là một thành phần tất yếu không thể thiếu thì ý nghĩa đó ra sao? Và Phật Giáo đã gieo lập trường nào để đưa ra những nguyên lý đạo đức? Ðó là những câu hỏi mà về phương diện giáo học của Phật Giáo đã trở thành một vấn đề to lớn.

Về vấn đề này ý kiến của những nhà nghiên cứu Phật Giáo có nhiều điểm dị đồng: có người cho yếu tố luân lý của Phật Giáo hoàn toàn là vật phụ thuộc. Trong số các học giả Tây-Phương hiện nay. Như đã nói ở trên, cũng có người một mặt cho Phật Giáo cũng chỉ là một phong trào cải tạo luân lý trong Bà-la-môn giáo, trên bản chất, rất nghèo nàn về phương diện đạo đức. Thêm vào đó, chính trong hàng ngũ những người theo Phật cũng có một số có vẻ coi thường yếu tố đạo đức: từ xưa trong một phái thuộc Tiểu Thừa đã cho rằng lòng từ bi cũng là một thứ phiền não của chính mình, và chủ trương Phật không có lòng từ bi (Kathvatthu XXIII,3) và chủ trương đó đã gây ảnh hưởng cho các cuộc vận động thực tế của Phật Giáo.
Phật Giáo Nhật bản đã đem lý tưởng cứu thế thích ứng với thời đại, tuy đã phát khởi nhiều công nghiệp xã hội vận động luân lý, nhưng làm thế nào để điều hòa nó với lý tưởng giải thoát? Về vấn đề này chưa có một giải pháp nào xác định cả.

Do đó, ở đây vấn đề được nêu lên là: như vậy thì luân lý trong Phật Giáo chỉ là phương tiện, hay vì muốn tăng thêm cái hữu dụng tính của Phật Giáo về mặt xã hội mà bổ sung và hoàn thành? Ðiều này, trên bề mặt, tuy có điểm khó điều hòa, nhưng trong các kinh điển cổ xưa đã giải thích rất cặn kẽ. Nếu cho tất cả những lời giáo huấn về đạo đức thế gian chỉ là phương tiện hoặc là những điều do hậu thế thêm thắt vào, thì bất luận thế nào đi nữa cũng không thể chấp nhận ý kiến đó. Ðương nhiên sự tu dưỡng đạo đức, đối với Phật Giáo, không phải là mục tiêu thực tiễn toàn thể, nhưng nó cũng lại là một nhiệm vụ căn bản không thể thiếu được. Theo một ý nghĩa nào đó, ta có thể nói điểm chủ yếu của Ðại Thừa là giải quyết vấn đề này, không phải căn cứ theo những sự giải thích do đời sau, thêm vào mà lấy hẳn thái độ hay lời thuyết pháp của chính đức Phật làm nền tảng để thuyết minh ý nghĩa nội tại của vấn đề.

TIẾT THỨ HAI: 
Ý NGHĨA ÐẠO ÐỨC TRONG PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY.

Trước hết hãy lập theo trường của Phật Giáo Nguyên thủy để nói qua về khả năng tính của đạo đức.

Tất cả các tôn giáo hữu thần đều cho rằng đạo đức bắt nguồn từ thần minh. Thần minhbiểu tượng của đạo đức, cho nên nhân loại do thần minh sáng tạo cũng là biểu tượng của đạo đức. Phật Giáo Nguyên thủy, trái lại, không thừa nhận một vị thần có giá trị tuyệt đối, mà chủ trương rằng sự tồn tại của chúng ta lấy dục vọng làm cơ sở, bởi vậy ta cần phải luận cú xem trong đó thành lập đạo đức như thế nào. Ðiểm này, chiếu theo các kinh điển, đức Phật một mặt cho rằng bản tính của ta là vô minh, mặt khác, về sự cần thiết của đạo đức, đưa ra những căn cứ có thể giải thích bằng nhiều cách. Theo tôi, có thể nêu lên ba căn cứ chủ yếu sau:

1) Ai cũng biết cái lý nhân quả thiện ác: làm điều thiện được quả báo tốt, làm điều ác được quả báo xấu. Do đó, muốn được quả báo tốt, tất nhiên cần phải làm việc thiện, đó là điểm xuất phát từ cái gọi là lập cước địa công lợi.

2) từ lập trường đồng tình. Khi mình gặp điều tốt lành mình lấy làm vui mừng, nếu gặp việc rủi ro mình thấy buồn khổ; cứ lý đó mà suy diễn ra thì đối với người khác mình cũng phải có sự đồng tình, nghĩa là đừng bao giờ gây khổ buồn cho ai nếu không giúp họ được điều tốt lành. Ðó là lập trường "hãy làm cho người khác những điều mình muốn người ta làm cho mình", hay " đừng bao giờ làm cho người khác những điều mà mình không muốn người ta làm cho mình".

3) Vì thế giới này được thành lập bởi nhân duyên (quan hệ) nên cần phải phù trì giúp đỡ lẫn nhau, đó là căn cứ vào điều kiệnquy luật thành lập thế giớ (xin xem Nguyên Thủy Phật Giáo Tư Tưởng Luận).

Vượt lên tất cả những căn cứ trên đây là căn cứ Vô Ngã Luận lấy Niết-Bàn làm lý tưởng tối cao. Người đời thường chấp ngã, cho cái ta là hơn hết, rồi tìm mọi cách để thỏa mãn mọi ngã-dục, nhưng trong cái ngã chấp, ngã-dục đó thật sự ta không thể tìm thấy cái ngã-thể nào cả, cho nên gọi là Vô-ngã. Ngăn ngừa ngã-dục để hăng hái làm việc thiện là muốn mở rộng con đường giải thoát tối cao.

Căn cứ vào những điểm trên mà đức Phật đã tưởng lệ việc thiện ở tất cả mọi trình độ, đó là giáo điều luân lý của Phật Giáo.

Nhưng ở đây vấn đề được đặt ra là: sự tưởng lệ đạo đức như thế đối với đạo giải thoátý nghĩa va giá trị gì không? Nếu nói một cách đại thể thì ở đây ta có thể nhận thấy hai lớp quan hệ:
1) Ý nghĩa phương tiện để đạt đến giải thoát.
2) Ý nghĩa hoạt động sau khi giải thoát.
Ðiểm thứ nhất chuyên lấy giải thoát làm tiêu chuẩn để đi đến kết luận chỉnh lý tất cả những lời dạy của Phật. Dĩ nhiên đây không phải là sự phân biệt do chính đức Phật nói ra, nhưng nếu ta giải thích Nguyên thủy Phật Giáo như một tôn giáo có chứa đựng nhân cách cũng như lời dạy của Phật thì đại khái ta có thể nhận xétkết luận theo hai phương diện kể trên, nhưng sợ vẫn chưa đúng với nghĩa của Nguyên thuỷ Phật Giáo. Bởi thế, giờ đây tôi xin căn cứ vào những nhận xét trên đây để bàn qua về ý nghĩa luân lý của Phật Giáo Nguyên thủy.

1) Ðạo đức là phương tiện:

Nói một cách tổng quát thì có nhiều cách để đạt đến giải thoát, nhưng phương pháp hiệu quả nhất là đức hạnhtiếp tâm, và phương pháp này đã được đức Phật triệt để lưu ý, tức là làm việc thiệntu Thiền định. Nhưng vấn đề được đặt ra là: do Thiền-định Nhiếp-tâm mà diệt trừ vọng niệm. ức chế ngã dục, khiến cho tâm hồn giải phóng đến cảnh giới vô ngã, thấy rõ được đạo giải thoát rồi thì đạo đức phải có một ý nghĩa như thế nào mới có được quan hệ trực tiếp với đạo giải thoát? Như đã nói ở trên, thế giới đạo đức dù có giải thích theo cách nào đi nữa cũng vẫn thuộc về sai biệt giới, còn thế giới giải thoát thì trái lại lấy bình đẳng làm chân tướng. Về mặt giáo lý học, đối với điểm này tuy có nhiều giải thích khác nhau, nhưng theo chỗ tôi biết trong những yếu tố đạo đứcliên quan trực tiếp đến giải thoát, tất nhiên là phương diện tiêu cực trước hết, nghĩa là thay vì tích cực làm lành lại tiêu cực lánh ác. Mà theo đức Phật thì bất cứ điều ác nào cũng đều do tham, sân, si, lấy ngã-dục, ngã-chấp, làm nền tảng trung tâm. Do đó, làm ác có nghĩa là tăng cường thêm ngã-chấp, ngã-dục, còn nếu lánh ác, theo ý nghĩa xả ly ngã-chấp, ngã-dục, có quan hệ trực tiếp với giải thoát rồi. Bởi vậy, tuy không tích cực vì người mà mưu đồ thiện sự (theo ý nghĩa thế gian), nhưng tuyệt đối không được làm việc ác. Ðó là ý nghĩa đạo đức của Phật Giáo. Trong những đức mục của Phật Giáo, như Ngũ-Giới, Thập-Thiện, nhận xét theo lập trường trên đây, chủ yếu là những đức mục tiêu cực cũng vì lý do đó. Nếu căn cứ theo ý nghĩa trên đây thì ta thấy, trên bản chất, Phật Giáo là một tôn giáo rất nhẹ màu sắc đạo đức, vì quan niệm rằng dù tích cực làm lành hay phát đại từ bi tâm, tất cả chẳng qua cũng chỉ là một loại phiền não. Song, nói đúng ra đây mới chỉ là một nhận xét phiến diện thôi. Nếu chỉ một mặt tiêu cực lánh ác không thôi thì chưa phải là đạo phá trừ ngã-chấp một cách chân chính. Vì những người "độc thiện kỳ thân" chưa phải đã hẳn hết ngã-chấp. Nếu muốn đả phá hết ngã -chấp để đạt đến cảnh tự do giải thoát thì tất nhiên cần phải tiến thêm một bước nữa vì người đời mà tích cực nỗ lực làm thiện mới được. Nhân loại xã hội đã như thế thì không thể không thực hiện cái đạo đã phá ngã-chấp ngay giữa xã hội để tạo cho xã hội thành một cảnh giới cởi mở. Ðức Phật trước sau vẫn chủ trương chủ nghĩa bất để kháng, diệt trừ tất cả mọi dục vọng cá nhân, mưu hạnh phúc cho nhân loại để cuối cùng đạo giải thoát tuyệt đối. Vô ngã luận (đứng về phương diện tích cực mà nói) chẳng qua cũng chỉ hàm ngụ cái ý nghĩa trong lịch trình xả thân tu thiện của hạnh nguyện Bồ-Tát mà thôi. Ðiều này đã được biểu hiện rõ ràng trong kinh Bản Sinh và từ thời đại Phật Giáo Nguyên thủy đến nay, hàng phật tử vẫn lấy đó làm lý tưởng tối cao của mình.

Như vậy, về mặt tiêu cực, không làm ác, nhưng về mặt tích cực tất nhiên phải làm thiện. Tuy nói thế, nhưng tiến thêm bước nữa mà nhận xét trong phạm vi Dục-giới, lấy "dục" làm cơ sở để làm thiện (nói theo thuật nghữ là hữu lậu thiện) Cũng có thể cho là tư lương để đi đến đạo giải thoát. Ðạo đức vô ngã tuy là lý tưởng của Phật Giáo, nhưng con đường đạt tới đó thật vô cùng khó khăn. Nếu muốn đạt được con đường đó, điều kiện tiên quyết là phải chuẩn bị ngay từ đạo đức công lợi. Nói cách khác, nếu muốn hoàn toàn vô ngã, người ta phải coi lợi ích của người khác như lợi ích của chính mình. Ðức Phật thường đặc biệt dạy tính đồ cái đạo lý "thiện nhân, thiện quả, ác nhân, ác quả) để họ tu thiện; ngừa ác , chính là ý ấy. Dự tưởng quả báo mà làm thiện tuy là có tính cách ngã chấp. Nhưng trong đó không nhiều thì ít, nếu không hy sinh một phần ngã-dục thì quyết không thể làm thiện được, và cứ như thế dần dần tiến lên diệt trừ ngã-dục mà tiến sâu vào đạo giải thoát. Phương pháp suy tiến đạo đức này ta thấy đầy dẫy trong các kinh điển. Vì thế đã có người cho rằng đạo đức Phật giáo có nhiều sắc thái công lợi, nhưng thực ra đó chỉ là những giai đoạn để tiến đến đạo đức vô ngã mà thôi. Ðó là điều chúng ta cần lưu ý. Tóm lại, như đã nói ở trên, đạo đức Phật Giáo trước sau vẫn chỉ là nấc thang để đạt đến đạo hạnh giải thoát, còn chính nó không có một giá trị tuyệt đối độc lập nào cả. Hành vi đạo đức dĩ nhiên là nấc thang cần thiết, đối với vấn đề giải thoátbao gồm một giá trị tôn giáo, nhưng nó quyết không phải là toàn bộ tôn giáo. Lý tưởng tôn giáo trước sau vẫn chỉ là cảnh giải thoát, bình đẳng tuyệt đối, siêu việt tất cả mọi sự thị phi, thiện, ác. Bởi thế ý kiến cho rằng Phật Giáo chỉ là cuộc vận động luân lý của Bà-La-Môn-Giáo là một ý kiến sai lầm.

Von hartmanni chia giá trị con người thành ba giai đoạn để khảo sát. Giai đoạn thứ nhất là tự- nhiên-Thái, thứ hai là Ðạo-đức-thái, thứ ba là siêu đạo-đức-thái. Mà khi nào đạt đến siêu-đạo-đức-thái thì lý tưởng tối cao của con người mới có thể được thực hiện ( Echische Studien 1898). Ở đây ta nhận thấy có điểm rất lý thú là cách khảo sát trên cũnng tương đương với cách thuyết minh của phật giáo lấy giải thoát làm lý tưởng. Nghĩa là, theo Phật Giáo, cái bản tính của ta khi còn là Vô-minh hay khát ái, chưa hề tu dưỡng thì cũng tương đương như cái gọi là tự-nhiên-thái, nói theo kiến giải của Phật Giáo thì đó lá phàm phu chưa biết ức chế ngã-dục.Dĩ nhiên nếu giải thích đúng với tinh thần của đức phật thì tự-nhiên-thái đó tuy lấy dục vọng làm cơ sở nhưng phần nội dung vẫn đã sẵn có cái động lực mong cầu một sự giải thoát vĩnh viễn Ðại Thừa gọi đó là Phật tính, nhưng về mặt biểu hiện nó chỉ được coi là tự nhiên Thái. Rồi từ cái động lực nội dung đó dẫn đến yêu cầu tự do giải thoát, mà bước đầu là phải qua giai đoạn đạo đức công lợi, rồi dần dần tiến lên quá trình đạo đức vô-ngã thì lúc đó có thể được coi là đạo đức thái. Cứ như thế cho đến khi đạt đến cảnh giới giải thoát tuyệt đối, trong đó không còn có gì gọi là thiện hay ác nữa, vì lúc đó không còn thấy có thiện để làm hay ác để tránh, nghĩa là cảnh giới tuyệt đối bình đẳng, và ta có thể gọi dó là siêu đạo-đức-thái.

Tóm lại, cách khảo sát của Von Hartmanni trên đây có thể nói là nhất trí với tu dưỡng quan của Phật Giáo, đó là điểm rất thú vị. Dĩ nhiên, trong Phật Giáo, nếu chỉ trau dồi đứ hạnh không thôi chưa đủ để đạt đến giải thoát, mà phải hoàn thành Tam học, nghĩa là Giới (đạo đức), Ðịnh (nhiếp tâm) và Tuệ (trí tuệ) mới có thể đạt được giải thoát hoàn toàn . Ðó là một cách nghiêm khắc, còn nếu chỉ chuyên lấy đạo đức làm cơ sở để khảo sát thì ta có thể nhận định như trên.

2) Ðạo đức sau khi giải thoát:

Những điểm được trình bày trên đây tuy chỉ bàn về ý nghĩa đạo đức lấy sự hướng thượng làm chủ yếu, nhưng thật ra nếu chỉ có thế thôi thì ý nghĩa đạo đức của Phật Giáo chưa phải hoàn toàn. Tất cả sự giải thích ở trên đều thuộc Tiểu Thừa. Nếu chỉ giải thích như trên thì người sau khi đã được giải thoát mà còn hoạt động đạo đức trong thế giới hiện thực thì người đó có thể nói là trụy lạc, vì lẽ cứ theo cách xử lý ở trên, người đã giải thoát rồi không cần đến đạo đức nữa, vì đạo đức chẳng qua chỉ là phương tiện để đạt đến giải thoát mà thôi.Trên thực tế trong hàng ngũ La Hán của Tiểu Thừa tuy cũng có người nghĩ như thế, nhưng nếu đứng trên phương diện toàn thểnhận xét thì lập trường của đức Phật quyết không phải thế. Ở đây ta hãy tạm gác sang một bên tất cả những giáo điều liên hệ mà chỉ cần nói lên sự kinh lịch của vị Thủy-Tổ của Phật Giáo tức là Phật Thích-Ca.

Lúc ba mươi lăm tuổi đức Phật đã được giải thoát, tức là cảnh giới đại Niết-Bàn, nhưng sự hoạt động của Ngài ở thế giới hiện thực vẫn cứ được tiếp tục ròng rã trong bốn muơi lăm năm sau đó gần như không lúc nào gián đoạn, mà mục đíchhoạt động để cứu độ thế nhân. Và những hoạt động cứu thế đó, như đã nói ở trên, không phải chỉ đề xướng đạo xuất gia giải thoát, mà đối với tất cả đạo đức thế gian, Phật đều quan tâm đến. Có lúc Phật đứng ra làm trọng tài để dàn xếp các cuộc tranh chấp giữa các quốc gia để chấm dứt chiến tranh, cũng có lúc tự lãnh lấy trách nhiệm hòa giải các cuộc cãi lẫy giữa những cặp vợ chồng trong gia đình, thậm chí còn nói đến sự cần thiết tích trữ của cãi để dành nữa. Ở đây có một điểm ta cần đặc biệt chú ý là : tại Ấn Ðộ thuở xưa tất cả các bậc thánh nhân đều được đặt cái tên hiệu là Mâu-Ni có nghĩa là trầm mặc, mà những người đã đạt đến giải thoát thường ở trong cảnh thâm u tịch mịch chính là do ý nghĩa đó mà ra. Nhưng chỉ có đức Phật theo tập quán phổ thông, tuy cũng được liệt vào hàng Mâu-Ni, song thật thì Ngài chẳng có vẻ Mâu-Ni chút nào. Nghĩa là Ngài không phải là người ưa sự tịch mịch, bất động, mà trái lại, trong suốt 45 năm hoạt động cứu đời không lúc nào gián đoạn, không biết mỏi mệt. Ngài đã tỏ ra là người đã phá chủ nghĩa ẩn-tuẫn trầm mặc, thật là một sự kiện độc đáo trong hàng ngũ Mâu-Ni tại Ấn Ðộ thuở xưa.

Nhưng tất cả hoạt độnglời nói của Phật trong khoảng 45 năm có ý nghĩa gì? Vấn đề này đứng về phương diện giáo nghĩa học tuy có nhiều điểm bàn cãi, nhưng nếu nói tóm tắt cái cốt tủy của nó và hoạt động đó quyết không phải là phương tiện để được đạt đến giải thoát, đó là điều mà tưởng không cần nói ai cũng biết. Vì lúc ba mươi lăm tuổi đức Phật đã được giải thoát và như thế là Ngài đã đạt đến mục đích mong muốn rồi. Những hoạt động trong 45 năm của Ðức Phật là những hoạt động giải thoát, do đó là sự giáo hóa về Ðạo đức giải thoát. Dĩ nhiên, khi đức Phật giảng giải đạo hòa hợp giữa vợ chồng không có nghĩa là Phật nói chính mình sau khi giải thoát còn cần phải thực hành điều đó, cũng như khi Ngài nói đến chính trị không có nghĩa là tự ngài cũng muốn tham gia việc quốc chính. Bản thân đức Phật lúc nào cũng là một người xả thế, vượt hẳn lên trên mọi rằng buộc và thèm muốn của cuộc đời, đứng ra ngoài vòng tranh chấp của nhân thế, siêu việt, tự tại, sống cuộc đời ăn xin: đó là một sự thật lịch sử. Tóm lại, đức Phật hoạt độngchỉ đạo mọi lĩnh vực vì Ngài cho đó là cái chức vụ của Ngài, và ta có thể nói đó là phạm vi hoạt động sau khi giải thoát.

Như vậy, nếu căn cứ vào những nhận xét trên đây, ta thấy đạo đức quan của Phật Giáo nguyên thủy không phải chỉ là phương tiện để đạt đến giải thoát. Nhận xét theo kiểu kiến giải ở đoạn trên thỉ đạo đứcphương tiện để từ tự-nhiên-thái đạt đến siêu-tự-nhiên-thái (giải thoát); còn nếu nhận xét theo đoạn này thì đạo đức từ siêu-tự-nhiên-thái trở lại chiếu rọi vào tự-nhiên-thái mà đề cao cái giá trị tất yếu của nó trong lịch trình tiến đến giải thoát. Song trường hợp trên đây lấy ngã-chấp, ngã-dục và tâm sở đắc, dù ở bất cứ hoàn cảnh nào cũng hoàn toàn vô-ngã: có thể nói hoạt động đạo đức ở giai đoạn này chẳng qua chỉ là cái thiên chức tối cao tự mình qui định. Bởi thế đến đây, đạo đức không còn là phương tiện nữa mà là giá trị của giải thoát vậy.

Tóm lại, giữa sự đề cao giải thoát và tưởng thưởng đạo đức của Phật Giáo Nguyên thuỷ, ta thấy một sự thực nhất trí rất hiển nhiên, mà về sau khi Ðại Thừa Phật Giáo phát triển, cũng phải thừa nhận.

TIẾT THỨ BA: 
ÐẠI THỪA GIÁO TỔNG HỢP.

Trở lên, ta thấy giáo lý của Phật Giáo Nguyên thủy đối với đạo đức có hai phương diện, nghĩa là nếu coi đạo đứcphương tiện để đạt đến giả thoát, và đạo đức ứng dụng sau khi giải thoát. Nhưng nói đúng ra, nếu chỉ có thế thì vẫn chưa được hoàn toàn sáng tỏ, vì những lẽ sau đây: 

1) Nội dung của giải thoát, ít ra cũng trên bề mặt chưa được được xác định.

2) Muốn đạt đến giải thoát phải lấy đạo đức làm phương tiện, nhưng sau khi giải thoát rồi trở lại hiện thực giới thì hoạt động đạo đức dựa trên căn cứ nào, đều đó vẫn chưa được thuyết minh.

3) Sự hoạt động trở lại này tất kính có thể được thành như Phật, bất luận người nào đều có thể làm được hay có nghĩa vụ phải làm, điều này trong các kinh điển cũng chưa nói rõ.

4) Hãy tưởng tượng Phật đã nhập vô-dư Niết-Bàn mà sau trở lại hoạt động thì sự hoạt động ấy cũng sẽ khó mà thực hành được một cách trọn vẹn.

Như vậy, địa vị đạo đức trong Phật Giáo rốt cuộc cũng vẫn chỉ là một giai đoạn_một giai đoạn ở trình độ thấp_để đạt đến giải thoát. Còn hoạt động đạo đức sau giải thoát chẳng qua cũng chỉ là một hoạt động làm cảnh. Trong giáo lý Phật Giáo cho lập trường này là lập trường Tiểu Thừa. Dĩ nhiên, trong thực tế, vị La Hán của tiểu thừa cũng vì thế gianhoạt động nhiều cho các việc thiện, nhưng bất luận trong trường hợp nào đều lấy siêu thoát làm chủ đích, không thừa nhận đạo đức thế gian có một ý nghĩa to lớn: đó là đặc chất của giáo lý Tiểu Thừa. Nói một cách đơn giản, các học giả Tiểu Thừa, căn cứ vào kinh điển Nguyên thủy, tuy lấy việc thuyết minh ý nghĩa nhiệm màu của kinh điển đó làm mục đích, nhưng vì quá chuyên môn hóa và đề cao đạo xuất gia, nên đối với những đức mục mà Phật đã nói cho hàng tại gia hầu như không đề cập tới. Ðó là một sự thật lịch sử.

Không thỏa mãn với lập trường trên đây, muốn trở về với tinh thần của đức Phật, tổng hợp cả hai pháp môn hướng thượnghướng hạ mà trước kia mới chỉ được thể nghiệm bởi chính đức Phật chứ trên giáo lý nó vẫn chưa được chỉnh lý, giờ muốn chỉnh lý vấn đề đó chính là Ðại Thừa Phật Giáo, và chính đây là điểm khu biệt gữa Tiểu Thừa và Ðại Thừa. Nói một cách cực đơn giản thì: Tiểu Thừa chủ yếu là chú trọng về mặt biểu hiện của những lời Phật nói, mà cái chân lý của Phật lại nằm ở phía sau những lời nói đó. Trái lại, Ðại Thừa chỉ muốn chuyên căn cứ vào nhân cách của Phật để tìm hiểu tinh thần của Ngài. Tiểu Thừa chuyên hướng về chủ nghĩa xuất gia, Ðại thừa lấy Bồ-Tát_người thế tục cầu đạo_ làm lý tưởng, cho nên hiển nhiên là có tính cách thông tục. Còn về học phong, Tiểu Thừa thích biến những lời Phật nói thành hình thức cố định rồi cố gắng đem phân tích nó một cách tinh tế, Ðại Thừa, trái lại, muốn tổng hợp để quan sát hết thảy, đó là đặc trưng của Ðại Thừa. Do đo, đối với vấn đề hiện tại, nghĩa là sự quan hệ giữa giải thoátđạo đức, Ðại Thừa đã phát huy cái đặc trưng đó như thế nào? Dĩ nhiên, về vấn đề này, tuy cùng là Ðại Thừa, nhưng cũng có nhiều tôn phái khác nhau, cho nên không thể định đoán một cách nhất khái được. Mặc dầu vậy, nhưng điểm then chốt mà các tôn phái căn cứ để xác lập đạo đức vẫn là điểm dùng hình thức nào để thống nhất cáii chung kết Niết-Bàn sau khi ngộ và cái nguồn gốc vô minh khi còn mê? Về vấn đề này, có thể nói các tôn phái đều có điểm cộng thông (xem lại Thiên thứ hai, chương ba và bốn).

TIẾT THỨ TƯ: 
CHÂN KHÔNG DIỆU HỮU.

Từ rất sớm, tư tưởng Bát-nhã đã trở thành tư tuởng căn bản của tất cả các tôn phái Ðại Thừa. Mà tư tưởng căn bản có thể thâu tóm vào bốn chữ Chân-Không Diệu-Hữu. Nếu đứng trên lập trường tu dưỡng mà nói thì Chân-Không là cái đương thể tối hậu của sự phủ định hoàn toàn ngã-chấp, ngã-dục, siêu việt hiện thực, nhưng tuyệt nhiên không có nghĩa là hư vô, mà trái lại có thể nói đó là cái tâm cảnh sung thực, tự do tuyệt đối. Về mặt giáo lý, Bát-Nhã không lập ngẫn tượng, cho nên cái đương thể tối hậu đó, về phương diện biểu tượng, không làm cách nào để diễn tả được. Trên quan hệ, vì phải thoát ly cái cảnh giới cá biệthạn chế này, nên về mặt tiêu cực, nói là không, nhưng thật thì không ngoài việc thể nghiệm cái năng động thái thuần tuý. Do đó, nếu nói theo tâm cảnh ấy thì tất cả hoạt động của chúng ta đều là để thanh tịnh hóa thế giới này, mà tất cả sự vật đều là cái ánh sáng phóng từ tướng Chân-như ra (Diệu-Hữu). Ðứng ở một phương diệnnhận xét thì thế giới quan của Bát-Nhã có vẽ như vô vũ trụ luận; không những thế, nếu nhận xét ở một khía cạnh khác, thế giới quan tuy hiển nhiên đã biến thành Phiếm thần luận, nhưng rốt cuộc cũng không ngoài cái kết luận được rút tỉa được từ tư tưởng Chân-Không Diệu-Hữu. Sự khảo sát về Chân-Không Diệu-Hữu tuy đã trở thành xuất phát điểm căn bản của tất cả triết học Ðại Thừa sau này, nhưng vấn đề ở đây_mối quan hệ giữa giải thoát và đạo đức_theo lập trường Bát-Nhã, nên xử lý như thế nào?

Theo Bát-Nhã, nếu nói một cách phiếm diện thì đạo đức vẫn chỉ là một trong những phương tiện để đạt đến cảnh giải thoát của Chân-Không. Ðể đạt mục đích đó, như mọi người đều biết, cần phải tu hạnh Lục Ðộ, mà trong Lục Ðộ bao gồm những đức mục đạo đức như sự nghiệp từ thiện (bố thí), đức hạnh (trì giới), nhận nại, nỗ lực v.v. Nhưng sở dĩ Bát-Nhã có cái đặc sắc Bát-Nhã thay vì chú trọng vào pháp môn hướng thượng thì lại đặt trọng tâm vào pháp môn hướng hạ. Dĩ nhiên, thật ra trong quá trình tu dưỡng, tuy không có hướng thượng hay hướng hạ khác nhau, nhưng giữ hướng thượnghướng hạ, không thể không có một thái độ bất đồng. Ðó là đặc sắc của Bát-Nhã. Do đó, cái địa vị của đạo đức đối với giải thoát, nếu nói một cách phiến diện, thì tuy chỉ là phương tiện, nhưng ở một phương diện khác mà nói, thì trái lại nó phải là một căn cứ giải thoát mới có thể hoàn thành được đạo đức chân chính. Nghĩa là Lục Ðộ là phương tiện để đi đến Chân-Không, nhưng đồng thời, Lục Ðộ chân chính phải đạt đến Chân-Không, mới có thể được hoàn thành, và như vậy nó lại là yếu tố không thể thiếu để tạo thành thế giới Diệu-Hữu. Nói thế tuy có vẻ biến thành trừu tượng, nhưng nếu nói một cách cụ thể thì tuy nó là sự nghiệp từ thiện. Nhưng sự nghiệp từ thiện bất luận là xuất phát từ động cơ nào đi nữa, nó cũng hàm chứa một sự hy sinh tự kỷ, đã phá ngã-chấp, ngã-dục làm phương tiện để thể hiện thế giới Chân-Không. Theo ý nghĩa đó, Lục Ðộ được coi là hàng đầu. Nhưng bố thí mà nhắm cầu lợi cho chính mình dù chỉ một mảy may thôi, thì lập tức Bố-thí Ba-la-mật biến thành vô nghĩa, mất chân chính. Bố thí chân chính là phải có tính cách của cái gọi là "Tam-luân-thể-không", nghĩa là đừng bao giờ phân biệt mình là người cho, có kẻ nhận của mình cho, có kẻ nhận của mình cho, và có vật để mình cho; coi hành động bố thí của mình chỉ là một phận sự cao cả nên làm, thế thôi. Có như thế thì bố thí mới có được nghĩa chân chính. Mà quan điểm này chỉ khi nào đạt tới cảnh giới Chân- Không mới có thể được hoàn thành, đồng thời, khi bố thí với tinh thần Tam-luân không Diệu- Hữu, đó là tinh thần của Bát Nhã. Và tinh thần ấy không phải chỉ hạn cục trong lĩnh vực bố thí từ thiện, mà bất cứ nỗ lực làm một việc gì có tính cách vì người, giúp đời, đều cũng phải xuất phát từ lập trường đó, nếu không sẽ trái ngược hẳn với tinh thần Bát-Nhã. Cái gọi là vô duyên từ bi chính là chỉ tinh thần đó. Kinh Kim Cương nói "Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm" chẳng qua qua cũng chỉ biểu thị cái tinh thầnthái độ căn bản đó mà thôi. Chỉ khi nào theo tinh thần đó mà đạo đức xã hội thì mới có thể thực hiện được Tịnh-Ðộ Diệu-Hữu. Cho nên tôi tưởng ta có thể giải thích thế giới quan Phiếm-thuần luận của Bát-Nhã như sau chỉ hạn cục ở phương diện đạo đức thôi: Xây dựng tên cơ sở của tâm-vô-sở-đắc để hoàn thành việc đạo đức hóa xã hội. Trong kinh Bát-Nhã thường nói: "Nhờ năng lực của Bát-Nhã: người điếc được nghe, người mù được thấy, người què được đứng". Những câu trên đây vốn ám chỉ trí kiến lực, nhưng ta cũng có thể giải thích nó là kết quả của năng lực đạo đức cứu tế xã hội theo tinh thần Tam-luân-thể-không vậy.

Tóm lại, vào thời đại Nguyên thủy Phật Giáo, Bát-Nhã đã hoàn toàn thực hiện cái nhân cách của đức Phật, đem dung hợp nhất ban hóa giải thoátđạo đức để tạo cho triết học Chân-Không Diệu-Hữu một cơ sở mà có thể nói thật đã thấu triệt được chỗ lập cước của tinh thần chân thực của Phật. Ðó cũng là lý do tại sao Bát-Nhã, vốn thừa kế chân tinh thần của Phật Giáo Nguyên thủy, được nhận là căn đề của Phật Giáo Ðại Thừa ( xem lại tiết mục Chân-như quan của Bát- Nhã ở trên).

TIẾT THỨ NĂM: 
BẤT TRỤ NIẾT BÀN.

Theo lập trường của Bát-Nhã thì mục đích cuối cùng của chúng ta là phải cùng với hết thảy chúng sinh cùng tiến tới mới có thể đạt đến giả thoát. Nhưng, ở đây vấn đề được đặt ra là: xuất phát từ lập trường này thì phải xử trí như thế nào về Niết-Bàn quan ở bên kia? Ở trên, đặc biệt là sự giải thích của Tiểu Thừa, Niết-Bàn có hai loại: Hữu Dư Niết-Bàn, và Vô-Dư Niết-Bàn. Hữu- Dư Niết-Bàn là quả vị trong đó hành giả tuy đã được giải thoát nhưng vẫn còn có thân thể lưu lại ở đời; Vô-Dư là quả vị sau khi chết, nghĩa là cái quả vị tịch diệt không còn trở lại hiện thực giới nữa. Ðó là giải thoát quantính cách cá nhân đã từ lâu chi phối Phật Giáo giới. Song đến thời kỳ Ðại Thừa. Vì giải thoát quan được mở rộng nên nếu chỉ có hai loại Niết Bàn như trên thì không thể nào khiến cho người ta thỏa mãn được cái lý tưởng hay thề nguyện cứu độ. Niết-Bàn quan trên đây, như vừa nói, là bản vị cá nhân, còn Niết-Bàn quan ở thời kỳ Ðại Thừa có thể nói đã tiến đến bản vị xã hội. Nếu chỉ hoàn thành sự giải thoát của chính mình vốn là một bộ phận nhỏ bé trong tập thể cộng đồng, mà hoàn thành sự giải thoát cho những người kác thì chưa có thể nói là Niết-Bàn là chân chính. Do đó, để thích ứng với lập trường này, Niết-Bàn quan đã thừa nhận từ trước không thể không được mở rộng hoặc thay đổi ý nghĩa: đó là quan niệm đặc biệt về Niết-Bàn của giới Ðại Thừa. Nói theo thuật ngữ của Phật Giáo thì đó là Bất-Trụ-Niết-Bàn (Apratis thitanirvana).

Bất-Trụ-Niết-Bàn tuy lấy bình đẳng giới làm lý tưởng tối hậu, nhưng không trụ ở bình đẳng giới, mà trái lại, trụ ở sai biệt giới để cùng hết thảy chúng sinh cùng tiến tới, như vừa nói ở trên, dần dần đả phá sự tồn tạiđịa vị hạ đẳng mà tiến tới sự tồn tạiđịa vị cao đẳng, và chính đối với quá trình đó là mệnh danh Bất-Trụ-Niết - Bàn. Trên văn hiến; danh từ này đã được dùng trong các kinh Giải-Thâm-Mật và Nhập-Lăng-Già, v.v… Dĩ nhiên về phần nội dung tư tưởng thì tuy đã có trong kinh Bát-Nhã, kinh Pháp-Hoa, nhưng danh từ Bất-Trụ-Niết-Bàn được thêm vào và được coi là một loại riêng hoàn toàn phát sinh sau thời đại tư tưởng Như-Lai-tạng và tư tưởng Chân- Như đã được kiện toàn. Chẳng hạn phái Duy-Thức, ngoài Hữu DưVô Dư, thêm tự sinh thanh tịnh Niết-Bàn (tự thể của Chân-như) cùng với Bất-Trụ-Niết-Bàn để cộng lại thành bốn lại Niết- Bàn.

Tóm lại, Bất-Trụ-Niết-Bàn điều hòa giữa hai tư tưởng luân hồigiải thoát, tuy ở trong thế giới luân hồi,nhưng điều đó không phải là kết quả của nghiệp lực trói buộc, mà trái lại hoạt động một cách tự do, tự tạitích cực cứu độ chúng sinh. Tuy lấy giải thoát làm lý tưởng, nhưng khác hẳn với trạng thái tịch tĩnh của Vô-Dư Niết-Bàn. Có thể nói Bất-Trụ-Niết-Bàn là cái đương thể mà một mặt là vĩnh viễn luân hồi, mặt khác là vĩnh viễn giải thoát. Tức như đức Phật lấy hạnh nguyện của Bồ-Tát để hoật động và đem sự hoạt động đó làm sự khảo sát vĩnh viễn. Do đó, để thực hiện Niết-Bàn này, hành giả không nhất định phải xa rời thực tế, trụ vào cái tâm giải thoát vô sở đắc, cùng với hết thảy mọi người, tích cực hoạt động để chân thiện mỹ hóa cõi đời này, ta có thể nói đây là một tinh thần đã được phát huy đến cực điểm vậy.

Trong Phật Giáo Ðại Thừa nói sinh tử tức Niết-Bàn, tất cả các pháp thế gian đều là Phật pháp, v.v… chính là muốn thuyết minh cái ý nghĩa chân chính của Bất-Trụ-Niết-Bàn này. Do đó, sự thực hiện Niết-Bàn này không phải chỉ hạn cục ở ngừoi xuất gia, mà những người sinh sống ngay giữa đời trần tục mà nhà Phật thường gọi là tại gia Bồ-Tát cũng có thể thực hiện một cách dễ dàng. Như Bồ-Tát Quan Âm hiện thân tướng tại giabiến hóa ra vô số thân để cứu độ chúng sinh chẳng hạn, chính là thuyết muốn biểu hiện và cụ thể hóa tư tưởng Bất-Trụ-Niết-Bàn đó.

Sự quan hệ giữa đạo đứcgiải thoát trong Phật Giáo đến đây đã dung hợp làm một và điều đó chẳng qua cũng chỉ là hệ thống hóa cái bản ý và chân tinh thần của chính đức Phật mà thôi.

TIẾT THỨ SÁU: KẾT LUẬN.

Trở lên tôi đã trình bày một cách rất sơ lược về sự phát triển tư tưởng giải thoátđạo đức trong Phật giáo. Sau đây xin tóm tắt tất cả những điểm đã được nhận xét ở trên.

1) Lý tưởng tối hậu của Phật Gíao, dù nói cách nào đi nữa, vẫn là siêu việt giới, bỉ ngạn giới. Mà siêu biệt giới hay bỉ ngạn giới tuy được gọi là điều thiện tối cao, nhưng nói theo ý nghĩa phổ thông thì không phải thiện cũng không phải ác, mà là thế giới siêu đạo đức.

2) Ðạt đến thế giới đó, trong nhiều phương thức khác nhau, phương thức đạo đứctrọng yếu nhất. Nghĩa là dựa vào đạo đức để đả phá ngã-chấp ngã-dục, làm chủ tự nhiên thái, đồng thời khai sáng một thế giới tự chủ mới, đó là con đường chủ yếu hướng đến giải thoát.

3) Tuy giải thoát giớilý tưởng tối cao của Phật Giáo, nhưng đó không phải là nơi để cá nhân ngừng lại, mà trở về thế giới hiện thực, đi thẳng vào cuộc đời, dùng đạo đức hướng thượng để dắt dẫn hết thảy chúng sinh cùng xu hướng tới thế giới lý tưởng. Ðó là điều mà đức Phật đã thực hành và đó cũng là một đặc sắc lớn của Phật Giáo Ðại Thừa.

4) Như vậy, nói theo Phật Giáo, đạo đức gồm có hai ý nghĩa hướng thượnghướng hạ. Hướng thượngđạo đức còn chỗ mong được, hướng hạđạo đức không còn tâm mong được. Nhưng đứng về mặt thực hành mà nói thì xuyên qua đạo đức "hữu sở đắc" (có chỗ mong được) để đạt đến thế giới siêu đạo đức, rồi lại xuyên qua siêu đạo đức giới để mà trở xuống đạo đức "vô sở đắc" (không còn tâm mong được), như vậy về thủ tục khái niệm không khỏi có điểm phiền phức và xa vời. Do đó, muốn điều hòa và thống hợp cả hai thái độ trên đây để tiến hành thì phải có một đường lối khác: đó là tư tưởng Bất-Trụ-Niết-Bàn (hay Bất-Trụ sinh tử) vậy. Ðạo đức, lấy thế giới vĩnh viễn làm lý tưởng, làm bối cảnh là con đường trực tiếp đưa đến giải thoát mà trong đó muốn gạt bỏ hẳn sự phân biệt hướng thượng, hướng hạxuất gia, tại gia.

5) Duy trì cái lý luận đó mà phát khởi là từ tư tưởng Chân-Không Diệu-Hữu đến thuyết Như-lai- tạng hoặc thuyết Chân-như v.v… trong triết học Đại Thừa. Nói về mặt biểu hiện, tất cả chúng ta, tuy lấy chấp-ngã, ngã-dục làm trung tâm, nhưng đều có khả năng tính thành Phật, đó là lý luận mình, người bình đẳng. Do sự bình đẳng đó mà phát huy lòng từ bi vô hạn, thực hiện khả năng tính thành Phật của mình, của người một cách bình đẳng, nổ lực khai triển Tịnh độ: đó là Bất-Trụ -Niết-Bàn. Nếu nói một cách đơn giản thì cái đương thể của Bất-Trụ Niết Bàn là cái tướng của Niết Bàn vĩnh viễnhoạt động vĩnh viễn.

6) Căn cứ vào những điểm nhận xét trên đây những người cho Phật Giáo chỉ là cuộc vận động luân lý là do đã không chú ý đến giải thoát vĩnh viễn mà có sự hiểu lầm đó. Ðồng thời, những người cho rằng sắc thái luân lý trong đạo Phật rất bạc nhược là do đã không lưu tâm đến ý nghĩa đạo đức Bất-Trụ-Niết-Bàn mà có sự hiểu lầm như thế.

7) Từ trước tới nay, các nhà học Phật chyuên đóng khung trong quan niệm giới, thiếu hẳn tính cách thực tế hóa Ðạo và Ðời. Như thế thât đã không phù hợp với tinh thần của Ðại Thừa Phật Giáo lấy nhân cách của đức Phật làm trung tâm để phát triển. Bởi vậy, ở đây tôi đã lấy hoạt động làm bản vị để thảo luận một cách sơ lược như trên về sự quan hệ giữa giải thoátđạo đức trong Phật Giáo. Mong được các bậc cao minh phủ chính.


Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
(View: 2265)
Các chuyên gia đã từng nói cơ năng não bộ của con người so với máy vi tính phức tạp nhất trên thế giới lại càng phức tạp hơn.
(View: 1757)
Phật Đà Thập Đại Đệ Tử Tán - Hòa thượng Tuyên Hóa giảng thuật, Nguyễn Minh Tiến Việt dịch
(View: 3473)
Các tác phẩm của Thầy phần lớn được dịch từ Hán tạng, gồm giới kinh và các nguồn văn học Phật giáo Đại thừa với tư tưởng uyên thâm về triết họctâm lý học.
(View: 24686)
Đã phát khởi chí nguyện Đại thừa, lại kiên quyết thực hiện chí nguyện ấy, đó thực sự là cung cách hùng dũng của con sư tử đang vươn mình, và do đó phải được nhìn đến bằng cung cách của con voi chúa.
(View: 24633)
Vua và phu nhân gởi thơ cho Thắng Man, đại lược ca ngợi công đức vô lượng của Như Lai, rồi sai kẻ nội thị tên Chiên Đề La đem thư đến nước A Du Xà... HT Thích Thanh Từ dịch
(View: 3233)
Tất cả các nhà đạo học và thế học muốn thành tựu kết quả tốt đẹp trong cuộc đời, thì trước hết, họ phải trải qua quá trình kham nhẫn, nỗ lực, tu, học, rèn luyện tự thân, giúp đỡ, và đem lại lợi ích cho tha nhân.
(View: 7361)
Bảy Đức Thế Tôn quá khứ từ Thế Tôn Tỳ Bà Thi, Thế Tôn Thích Ca, và chư Thế Tôn vị lai đều chứng ngộ Vô Thượng Bồ Đề từ sự chứng ngộ sự thật Duyên khởi.
(View: 6739)
Trong các bản Kinh Pháp Cú, phổ biến nhất hiện nay là Kinh Pháp Cú Nam Truyền, tức là Kinh Pháp Cú dịch theo Tạng Pali.
(View: 4981)
Có lần Đức Phật sống tại Rajagaha (Vương Xá) trong Khu Rừng Tre gần Nơi Nuôi Những Con Sóc. Lúc bấy giờ, vị Bà La Môn tên là Akkosa Bharadvaja đã nghe người ta đồn đãi như sau:
(View: 4410)
Tôi nghe như vầy. Có lần Đức Phật, trong khi đi hoằng pháp ở nước Kosala nơi có một cộng đồng rất đông Tỳ Kheo, ngài đi vào một tỉnh nhỏ nơi cư trú của người Kalama
(View: 14115)
Quy Sơn Cảnh Sách Học Giải - Tác Giả: Thiền Sư Quy Sơn Linh Hựu; Thích Thiện Trí (Thánh Tri) Phỏng Việt Dịch và Viết Bài Học Giải
(View: 4687)
Kinh này khởi đầu bằng lời người Bà La Môn hỏi rằng làm thế nào người ta có thể tự thanh tịnh hóa khi nhìn thấy một vị Thượng nhân đã Thanh tịnh,
(View: 42073)
Nguyên xưa ngài Quán Nguyệt Pháp sư đem hai thời kinh khóa tụng: Mai đóng chung và chiều nhập chung lại làm một đại thể làm một tập lớn. - Chú giải: Ngài Quán Nguyệt; Dịch giả: HT Thích Khánh Anh
(View: 5616)
Tôi nghe như vậy: Một thời, đức Thế Tôn trú tại thành phố Śrāvastī (Xá-vệ), nơi rừng cây Jeta (Kì-đà), vườn của Ông Anāthapiṇḍada (Cấp-cô-độc),
(View: 4455)
Bài kinh này trong đoạn cuối (bài kệ 787), câu “không nắm giữ gì, cũng không bác bỏ gì” được Thanissaro Bhikkhu ghi chú rằng ...
(View: 5361)
Lúc bấy giờ, Bồ tát Đại sĩ Akṣayamatir[1] từ chỗ ngồ đứng dậy, vắt thượng y[2] qua một bên vai, chắp hai tay[3] hướng về đức Thế Tôn và thưa rằng:
(View: 4610)
Khi khảo sát về PHÁT BỒ-ĐỀ TÂM, chúng tôi tự nghĩ, chúng ta cần phải biết Bồ-Đề là gì? Bồ-Đề Tâm là thế nào? Phát Bồ-Đề Tâm phải học theo những Kinh, Luận nào?
(View: 5401)
Đại ý bài kinh này Đức Phật dạy chúng đệ tử không nên truy tìm quá khứ, không nên ước vọng tương lai vì quá khứ đã đoạn tận.
(View: 7320)
Evaṃ me sutaṃ, “như vầy tôi nghe”, là lời Ngài Ananda bắt đầu mỗi bài kinh mà có lẽ không Phật tử nào là không biết.
(View: 13835)
Nếu tính từ thời điểm vua Lương Vũ Đế tổ chức trai hội Vu lan ở chùa Đồng Thái vào năm Đại Đồng thứ tư (538), thì lễ hội Vu lan của Phật giáo Bắc truyền đã có lịch sử hình thành gần 1.500 năm.
(View: 4645)
Phật dạy giới này áp dụng chung cho tất cả các Phật tử tại gia, không phân biệt Phật tử này thuộc thành phần hay đẳng cấp xã hội nào.
(View: 3583)
Sa-môn Thích Đàm Cảnh dịch từ Phạn văn ra Hán văn, tại Trung-quốc, vào thời Tiêu-Tề (479-502). Cư sĩ Hạnh Cơ dịch từ Hán văn ra Việt văn, tại Canada, năm 2018.
(View: 6145)
Đức Phật A Di Đà tự thân có ánh sáng vô lượng, chiếu khắp cả mười phương mà không có vật gì có thể ngăn che. Vì vậy nên Phật A Di Đà có nghĩa là Vô Lượng Quang Phật.
(View: 6721)
Nguyên tác Hán văn: Tì-kheo Linh Diệu, tông Thiên Thai soạn - Dịch sang tiếng Việt: Thích Thọ Phước
(View: 6724)
Ngài Buddhaghosa sanh ra và lớn lên nước Magadha, thuộc Trung Ấn Độ, vào thế kỷ thứ V trong ngôi làng Ghosa, gần địa danh nơi đức Phật thành đạo Bodhigaya
(View: 8163)
Nghiên Cứu Về Kinh A Hàm (Ãgama, Sanscrist)
(View: 7760)
Ai nói như sau, này các Tỷ-kheo: "Người này làm nghiệp như thế nào, như thế nào, người ấy cảm thọ như vậy, như vậy".
(View: 6090)
Đây là những điều tôi nghe hồi Bụt còn ở tại tu viện Cấp Cô Độc trong vườn cây Kỳ Đà ở thành Vương Xá.
(View: 6866)
Vào thời Đức Thích-ca-mâu-ni, không có hệ thống chữ viết được phổ biếnẤn Độ. Do đó, những thuyết giảng của Ngài được ghi nhớ và ...
(View: 6643)
"Lại nữa, lúc bấy giờ Mahāmati thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, ngài đã từng dạy rằng: từ lúc Như Lai chứng nghiệm giác ngộ cho đến...
(View: 8374)
Kinh Địa Tạng là một trong các kinh Đại thừa được phổ biến rộng rãi trong quần chúng Việt Nam từ hơn nửa thế kỷ nay song song với các kinh Kim Cương, Di Đà, Phổ Môn...
(View: 8795)
Nguyên tác: Tôn giả Thế Thân (Acarya Vasubandhu) - Hán dịch: Tam Tạng Pháp sư Huyền Tráng; Việt dịch: Tỳ khưu Tâm Hạnh
(View: 5710)
No. 1613 - Nguyên tác: Tôn giả An Huệ; Dịch Hán: Tam Tạng Pháp sư Địa-bà-ha-la; Dịch Việt: Tâm Hạnh
(View: 6947)
Duy thức nhị thập luận, do bồ tát Thế Thân soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường... được thu vào Đại chính tạng, tập 31, No.1590.
(View: 7341)
Bồ-tát Trần Na tạo luận. Tam tạng Pháp sư Huyền Trang phụng chiếu dịch. Việt dịch: Quảng Minh
(View: 9555)
Nghe như vầy, một thời Đức Phật ở nước Xá Vệ ở vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc cùng chúng đại Tỳ Kheo năm trăm vị. Bấy giờ các thầy Tỳ Kheo...
(View: 7052)
No. 699; Hán dịch: Đời Đại Đường, Trung Thiên Trúc, Tam tạng Pháp sư Địa bà ha la, Đường dịch là Nhật Chiếu
(View: 7515)
Đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni, bắt đầu chuyển pháp-luân, độ cho năm vị Tỳ-Khưu là Tôn-giả Kiều-Trần-Như v.v... Sau cùng, Ngài thuyết pháp độ cho ông Tu-bạt-đà-la.
(View: 6286)
Kinh Phạm Võng nằm trong Đại Chánh Tạng, tập 24, ký hiệu 1484, gọi đủ là Phạm võng kinh Lô xá na Phật thuyết bồ tát tâm địa giới phẩm đệ thập
(View: 7147)
Phật thuyết-giảng Kinh Phạm-Võng để dạy về giới-luật, và các pháp cao-siêu vượt thoát được sáu mươi hai kiến-chấp vốn là các tà-kiến đã...
(View: 6658)
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana, vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc). Ở đây,,,
(View: 11558)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Kinh Tập, Kinh số 0434; Dịch Phạn - Hán: Tam Tạng Cát-ca-dạ, Dịch Hán - Việt và chú: Tỳ-kheo Thích Hạnh Tuệ; Hiệu đính: HT Thích Như Điển
(View: 6254)
Đời Đường, Thận Thủy Sa Môn Huyền Giác Soạn; Thánh Tri dịch nghĩa Việt và viết bài học giải...
(View: 6620)
Phật giáo được khai sáng ở Ấn-độ vào năm 589 trước kỉ nguyên tây lịch (năm đức Thích Ca Mâu Ni thành đạo), và đã tồn tại liên tục, phát triển không ngừng trên ...
(View: 7075)
Trong truyền thống Phật giáo Bắc truyền, Dược Sư là một bản kinh thường được trì tụng nhằm mục đích giải trừ tật bệnh, cầu nguyện bình an...
(View: 6947)
Thích-ca là phiên âm của tiếng Phạn. Phiên âm Hán Việt là Năng Nhân. Tức là họ của đấng hóa Phật ở cõi Ta-bà...
(View: 9163)
Kinh chuyển Pháp luân là bài thuyết Pháp đầu tiên của Đức Phật Thích-ca sau khi Ngài đã đắc đạo.
(View: 7956)
Ba Ngàn Oai Nghi Của Vị Đại Tỳ Kheo - Được xếp vào tập T24 - Kinh số 1470 - Tổng cộng kinh này có 2 quyển
(View: 7885)
Những gì xảy ra trong thế giới này đều bị qui luật Nhân quả chi phối. Mọi thứ xuất hiện ở đời đều có nhân duyên. Hạnh phúcthế gian hay Niết bàn của người tu đạo không ra ngoài qui luật ấy.
(View: 8230)
Satipatthana Sutta là một bản kinh quan trọng làm nền tảng cho một phép thiền định chủ yếu trong Phật giáo là Vipassana...
(View: 11604)
Kinh Tứ Thập Nhị Chương là một bài Kinh được truyền bá khá rộng rải ở các Tồng Lâm Tự Viện của Trung QuốcViệt Nam từ xưa đến nay.
(View: 7007)
Bản dịch này được trích ra từ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh Vol. 48, No. 2010. Bởi vì lời dạy của Tổ Tăng Xán quá sâu sắc, súc tích, và bao hàm trong 584 chữ Hán,
(View: 7394)
Dịch từ Phạn sang Tạng: Kluḥi dbaṅ-po, Lhaḥi zla-ba; Dịch Tạng sang Việt: Phước Nguyên
(View: 12580)
Trí Phật là trí Kim – cang, Thân Phật là thân Kim – Sắc, cõi Phật là cõi Hoàng – kim, lời Phật tất nhiên là lời vàng.
(View: 8262)
Bấy giờ Hòa Thượng Vakkali nhìn thấy Đức Phật đang đi đến từ xa, và ông đã cố gắng ngồi dậy.
(View: 12865)
Xin dâng hết lên Tam Bảo chứng minh và xin Quý Ngài cũng như Quý Vị tùy nghi xử dụng in ấn tiếp tục hay trì tụng cũng như cho dịch ra những ngôn ngữ khác...
(View: 11946)
Niệm Phật Tâm Muội do HT Hư Vân soạn, Sa môn Hiển Chơn dịch; Tọa Thiền Dụng Tâm Ký do Viên Minh Quốc Sư soạn, HT Thích Thanh Từ dịch
(View: 8406)
Khi Bồ-tát Quán Tự Tại hành sâu Bát-nhã Ba-la-mật-đa, ngài soi thấy năm uẩn đều KHÔNG, liền qua hết thảy khổ ách.
(View: 24250)
Viết ra các bài Phật học thường thức này, chúng tôi không có tham vọng giới thiệu toàn bộ Phật pháp và chỉ cốt giúp cho các bạn sơ cơ hiểu được một cách đúng đắn, đạo lý năm thừa trong Phật giáo mà thôi.
(View: 7015)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, Kinh văn số 1675. Tác giả: Long Thọ Bồ Tát; Sa Môn Sắc Tử dịch Phạn sang Hán; HT Thích Như Điển dịch Việt
Quảng Cáo Bảo Trợ