Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
19,291,432

Phần 02b: Giới Thiệu Bồ Tát Đạo Hay Con Đường Lý Tưởng (Tiếp Theo)

Saturday, May 22, 201000:00(View: 3982)
Phần 02b: Giới Thiệu Bồ Tát Đạo Hay Con Đường Lý Tưởng (Tiếp Theo)
KHÁI LUẬN TRIẾT LÝ KINH HOA NGHIÊM
Thích Đức Nhuận
Viện Triết Lý Việt Nam & Triết Học Thế Giới California, USA Xuất bản 2000

Phần II (TT)

Giới thiệu Bồ Tát Đạo
Con Đường Lý Tưởng
Của Minh Đức-Thanh Lương


Chương 20 - Ưu bà di Bất Động dạy pháp :

" Tinh Tiến Ba la mật"

Tinh Tiến (Viriya), với nghị lực, cố gắng khắc phục mọi khó khăn, lười biếng…, là siêng năng chuyên cần để mong đạt cho kỳ được mục đích cuối cùng.

Có những việc nếu xét thấy chưa yên tâm, không làm; việc trái lẽ phải, không làm, việc gây oan nghiệt, không làm. Chỉ việc nào xét thấy là đúng, hay, đẹp, nên làm, cần làm, phải làm thì làm cho kỳ được.

Người tu hạnh Bồ tát gặp thuận duyên không lấy làm đắc chí, gặp nghịch cảnh chẳng hề nản lòng, thoát chuyển: "càng nhiều gian lao, Bồ tát càng bền gancan đảm quyết tâm, khó khăn, nặng nhọc chỉ làm thoái chí kẻ yếu hèn, nhưng Bồ tát càng gặp chướng ngại, khó khăn lại càng thêm bền gancương quyết, càng hăng hái cố sức vượt qua…

"Thực ra, không phải người tu đạo mong cầu thử thách dồn dập đến với mình, nhưng phải chấp nhận trên đường hành đạo, Bồ tát gặp nhiều chông gai, nên luôn luôn cần cảnh giác và tự đặt mình vào mọi trường hợp khó khăn, để tìm cách vượt lên trên những cam go thử thách, thì mới tiến bước được"(BTD, trang 500)

Và dưới đây là những tấm gương sáng về hạnh tinh tiến:

  • "Bố tát thường Đề vì cầu chính pháp mà quên ngày đêm, quên mưa nắng, quên cả vũ trụ, cả thân tâm".
  • "Pháp sư Đạo An đem đổ chúng vào rừng khai khẩn, tự thực kỳ lực để duy trì chính pháp trong đời loạn, trống trận đánh thấu ngưỡng cửa mà Ngài vẫn ngồi sang định kinh A Hàm".
  • "Bồ tát Thường Bất Khinh gặp bất cứ ai cũng chúc cho họ (sẽ) thành Phật. Người đời cho là kẻ điên khùng, có khi còn bị chửi mắng, bị ném gạch và bị đánh đập nữa, nhưng ngài vẫn không lùi bước, giữ nguyên ý định.
  • "Ngài Đạo Sinh bị đuổi vào rừng cũng vẫn sắp đá lại thuyết pháp, khiến đá cũng cuối đầu nghe (ngoan thạch điểm đầu).
  • "Ngài Tuệ Viễn dám cải lại Ngụy Vũ đế và chống với những kẻ bất lương để giữ gìn chính pháp"
  • "(và gần đây nhất) Hòa Thượng Thích Quảng Đứcsáu vị Tăng, Ni tự thiêu để phản đối chính quyền nhà Ngô triệt hạ cờ Phật giáo…

Đó là những vì sao chiếu soi cho hậu thế cần phải lưu tâm suy nghĩthi hành cái nhiệm vụ của mình: Hy sinh bảo vệ chính pháp; thể hiện trọn vẹn ba đức đại hùng, đại lực, đại từ bi…

Chương 23_ Thuyền trưởng Bà Thi La dạy pháp:

" Nhẫn Nhục Ba La mật"

Nhẫn Nhục (Khanti) : là đức tính chịu đựng những nghịch cảnh não lòng và lấy những phiền muộn do người khác gây ra cho mình, mà không tỏ vẽ khó chịu , cũng chẳng thốt ra một lời oán trách kêu ca.

  • "Nhẫn" là kiên nhẫn, gánh chịu vui vẻ.
  • "Nhục " là hối nhục; bị tổn thương lòng tự ái mà vẫn không ta thán.

"Nhẫn nhục bao gồm mọi sự chịu đựng như nóng, lạnh, đói khát, bị đánh đập tra tấn, giam cầm, tật bệnh, đao binh, quở trách, chê bai, mạ lỵ…gây đau khổ cho thể xác lẫn tinh thần.

Nhẫn nhục thường phải dùng đến trong những trường hợp nghịch cảnh đau thương, nếu vượt được thì chóng thành Phật quả. Ngược lại, nếu trong cơn thử thách mà không lấy nhẫn nhục để đối trị lại, để cho ngọn lửa sân hận bùng lên, sẽ tiêu tan, tàn phá hết rừng công đức",(BTD, trang 525)

Nhẫn nhục không có nghĩa sợ sệt, hèn nhát mà, ngược lại, là một đức tính cao cả của bậc đại nhân: làm những việc khó làm và nhẫn những điều khó nhẫn, kẻ tầm thường không thể nào theo kịp hay bắt chước được.

Có hai cách nhẫn nhục: "Nhẫn nhục vì hoàn cảnh cô đơn, vì địa vị thấp hèn, hay vì danh, vì lợi, vì sợ thế lực uy quyền của của người có thế đè bẹp mình dể dàng, mà bắt buộc phải nuốt hận làm ngơ, là thứ nhẫn nhục còn ô nhiễm, chỉ vì muốn yên thân để tránh những sự bất lợi xảy đến cho mình. Nhưng nhẫn được với kẻ yếu hèn dưói mình mới thật là đáng quí.

"Nhẫn nhục không chấp tướng là thứ nhẫn nhục để tiêu trừ sân hận, kiêu căng, tham lam, vị kỷ. Nếu có người mắng nhiếc mình, hoặc phê bình, chỉ trích, thì hảy bình tâm tự kiểm điểm xem mình thực có lổi hay không, nếu quả thật có lổi, ta cầ phải sửa đổi để cải hóa lương tâm. Còn nếu không có lổi, mình hảy bỏ qua đừng trụ tâm vào đó, những lời vu cáo không đáng được lưu ý vì nó chẳng dính dáng gì đến ta, do đó chẳng nên chuốc lấy ưu phiền, sân hận, mà chỉ nên coi những lời nói, những cử chỉ khiêu khích như gió thoảng ngoài tai". (BTD, trang 533)

Nhẫn nhục là mầm sinh ra Giới, Định, Tuệ và là dụng cụ để nhổ hết mọi pháp ác, là vật trang điểm tâm hồn của bậc trí thức, là sức mạnh vô địch của người tu phạm hạnh…

Chương 24_ Trưởng giả Vô Thượng Thắng dạy Thiện Tài về

"Tứ Nhiếp Pháp"

Trưởng giả nói: "Tôi đã thành tựu Bồ tát đắc Nhất thiết chủng trí và các pháp thần thông vô ngại. Do đó tôi có thể thị hiện (vibhavana) khắp nơi trong đại thiên thế giới để thuyết pháp độ sinh, làm cho ai nấy đều bớt dần tâm sân hận, oán thù, phá mọi oan kết, trừ nạn chiến tranh, làm lành lánh ác, cắt đứt phiền não, diệt tham, sân, si, khiến cho chúng sinh xu hướng về việc Thiện mà tạo được nhân lành. Nhưng muốn hành đạohiệu quả, phải đem đạo vào đời. Lúc đầu, dùng phương tiện bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự, giúp ích mọi người trong đời sống hiện tiền, sau mới tiến dần tới sự lợi ích vĩnh viễn cho chúng sinh"

Tứ Nhiếp Pháp gồm bốn pháp môn đối trị ở đời. Hay nói cách khác là: 4 pháp cư xử thông thường mà người ta cần phải áp dụng nó trong những môi trường sinh hoạt tập thể, thường gọi là xã hội văn minh.

1..Bố Thí (dànam)_ Sự tương trợ, cứu giúp người về mặt vật chất cũng như tinh thần, một cách không vụ lợi.

2..Ái Ngữ (Priyavàdita)_ Lời nói hợp lý, tức lời nói không giận hờn, đặt điều, xu nịnh, dèm pha, mà chỉ nói những lời chân chính, hòa ái.

3..Lợi Hành (Arthacaryà)_Làm tất cả công việc gì hữu ích cho tự thể, tha nhân, và cho cuộc đời…

4..Đồng Sự (Samànàrthatà)_ Phục dịch công vụ. Ai nấy nên đem hết tài năng mình ra làm việc công ích để cùng xây dựng một xã hội người văn minh, Giác NgộGiải thoát.

"…Bồ tát không thể vui hưởng Niết bàn an lạc một mình nếu thấy còn có chúng sinh" mà hóa thân trong sáu đường, hòa mình vào cuộc sống trăm sai ngàn biệt để cùng làm, cùng hưởng, cùng chung nếp sống, bìng đẳng vô phân biệt, và dùng mọi phương tiện để diệt khổ, ban vui, khiến cho chúng sinh được an lạc, thù thắng, trong một thế giới từ bi, khoan dung, độ lượng".

Chương 25_ Tỳ khưu ni Sư Tử Tần Thân dạy pháp

"Trì Giới Ba La mật"

Căn bản của giới:

1.. Nguyện dứt tất cả điều ác (nhiếp luận nghi giới)

2.. Nguyện làm mọi việc lành (nhiếp thiện pháp giới)

3.. Nguyện độ hết thảy chúng sinh (nhiều ích hữu tình giới)

Trì Giới (sila) có nghĩa là thanh tịnh ba nghiệp: thân, khẩu, ý. Thân: không sát, đạo, dâm. Khẩu: không nói chia rẽ, nói lời hung ác, nói dối trá, nói thêu dệt. Ý: Không tham, sân, si. Chẳng những thân không vi phạm mà tâm cũng không hề nghĩ, tưởng đến những điều xấu ác đó, cho đến cả cái "biết mình đã đoạn trừ được những điều đó"cũng không còn nữa, tới lúc đó mới gọi là Trì giới ba la mật.

  • "Trì giới chấp tướng là chỉ làm lấy lệ, vụ hình thức bề ngoài, chứ thực tâm vẫn còn nhiễm ô. Đó là lối trì giới để lấy tiếng khen, hoặc bị miễn cưỡng, ép buộc, thiếu tự nguyện và thành thực, như vậy chẳng có ích lợi gì cả".
  • "Trì giới chấp tướng là giữ theo giới luật mà mình đã trụ trì, không vì danh lợi, hiếu thắng, mà chỉ vì theo đức tính thanh tịnh của tâm không nhiễm trược. Khi đã biết là lẽ phải thì vui vẽ tự làm. Chẳng vì bó buộc, giữ giới một cách tự nhiên, lúc nào cũng nghiêm trì giới luật mà không thấy mình giữ giới nữa. Thân, khẩu, ý hoàn toàn thanh tịnh , đó là nghĩa câu : "xưng tính tác Phật sự" (làm việc Phật theo bản tính), (BTD,trang 558-559)

Chương 26 _ Thiện nữ Ba Tu Mật Đa dạy về tâm bình đẳng

Ly dụcvô phân biệt hay hành "Ngũ Đình Tâm Quán"

Tức năm pháp quán tưởng để chặn đứng vọng niệm và lìa ái dục, đầu mối của sinh tử luân hồi.

Phương pháp quán này phải dùng trí tuệ để phân tích, suy nghiệm và quán sát. Đó là :
1.. Quán thân bất tịnh, trừ diệt tham ái.
2.. Quán từ bi, trừ diệt sân hận.
3.. Quán nhân duyên, trừ diệt mê hoặc, si cuồng.
4.. Quán giới phân biệt, trừ diệt ngã chấp.
5.. Quán sổ tức, trừ diệt loạn tâm.

Ghi chú : - Quán giới phân biệt : phép quán này chia thân, cảnh làm 18 (6 căn, 6 trần, 6 thức).

Trong 18 giới này không làm sao tìm thấy cái gì là cái "ta"cả. Cái ta chỉ là một số Sắc phápTâm pháp tạm thời hợp lại thành ngũ uẩn (Skandha): sắc, thụ, tưởng, hành, thức) mà có, và chỉ có tên gọi chứ không có thực thể.

Pháp quán này dùng để đối trị với ngã kiến, ngã mạn, ngã ái, ngã si, và làm cho ta thấy được tất cả pháp là vô ngã, vô thường…

Và dưới đây xin lược kê những chương thuộc "Pháp môn Bát Nhã":

  • Chương 27, Cư sĩ Tỳ Sắc Chi La dạy Lý "Chân Không Diệu Hữu".
  • Chương 28, Quán Tự Tại bồ tát dạy "Tâm Bi Vô Lượng".
  • Chương 32, Dạ thần Bà San Bà Diễm Đề dạy lý "Nhị Không".
  • Chương 37, Dạ thần thủ hộ nhất thiết Thành Đăng Trưởng Uy Lực

Dạy về chữ "Không"

  • Chương 38, Dạ thần Khai Phu Nhất thiết thụ Hoa dạy về "Chân

Như".

* Chương 39, Dạ thần Đại Nguyện Tinh Tiến Lực Cứu Hộ Nhất Thiết

Chúng Sinh dạy " thu thúc 6 căn".

Chương 41, Thích nữ Cù Ba dạy "Đạo lý Nhân Duyên sinh".
* Chương 43, Thiện nữ Thiện Chủ Quang dạy về "Thực Tại Siêu Việt

Của Các Pháp".

  • Chương 45, Ưu bà di Hiền Thắng dạy pháp môn "Vô Tận Tam

Muội Giải Thoát Vô Y Xứ Đạo Tràng"( Phàm các sự

Hiểu biếtdo lục thức đem lại, Bà đều đắc pháp thần

Thông cả).

  • Chương 47, Trưởng giả Diệu Nguyệt dạy pháp môn "Tịnh Trí

Quang Minh" (biện giải lẽ chân giả).

  • Chương 48, Trưởng giả Vô Thắng Quân dạy về "Kiến Tính thành

Phật"và "Giác Ngộ Giải thoát".

  • Chương 50, Đồng tử Đức Sinh và đồng tử Hữu Đức dạy về "Chân

Lý Tuyệt Đối".

  • Chương 51, Bồ tát Di Lặc giảng pháp môn "Bát Nhã và Duy

Thức" (Luận về chữ "Tâm".

Tất cả những chương nói về "Pháp môn Bát Nhã"trên đây đều hàm ẩn những giáo lý cao siêu, mầu nhiệm của triết học đại thừa Phật giáo, đã được tác giả trình bày với một bút pháp linh hoạt, trong sáng, khúc chiết và dễ hiểu, tôi không muốn làm mất nhiều thời giờ quí báu của các bạn bằng cách đi sâu vào chi tiết trong mỗi chương, chỉ xin mời bạn hãy đọc …để được thưởng thức những cái Hay, Đẹp về cả ý lẫn lời của mỗi chương nói trên.

Chương 29- Bồ tát Chính Thụ ban ơn thí Chính pháp.

Bồ tát nói: "Tôi từ thế giới Diệu Tạng ở phương Đông, là cỏi của Đức Phật Phổ thắng Sinh, cách đây hằng hà sa số vi trần thế giới mà tới. Mỗi bước chân tôi đi là trải qua vô lượng cõi Phật, và tôi đã cúng dường vô số chư Phật mười phương. Tôi biết rõ tâm tính của mỗi chúng sinh trong khắp cõi mà tôi đã đi qua, và thấu rõ nguyện vọng cùng căn tính của mỗi người, nên đã vì tất cả mà tùy thuận thuyết pháp độ sinh theo tiếng nói, âm thanh của từng giống, loại. Tôi cùng Bồ tát Quán Tự Tại dùng tâm bi vô lượng để ban vui cứu khổ cho nhân loại, chúng sinh. Tôi khuyên Thiện nam tử nên cố gắng mở rộng thêm tâm Bi …cho thực vô bờ bến để hàng Bồ tát đạo". (BTD, trang 636)

Đại Bi là lòng thương yêu rộng lớn và sáng suốt, là tôn trọng sự sống và quyền sống của hết thảy chúng sinh. Cuộc đời vốn dĩ đã phức tạp, khổ đau, kiếp sống con người thì ngắn ngủi và đầy bất trắc, chúng ta hãy thương yêu nhau. Vì mỗi con người đều đáng thương và cần được phụng sự.

Chương 30- Thần Đại Thiên dạy : "Phá Chấp Ngã và Chấp

Pháp"

( Thần Đại Thiên): Tôi đã thành tựu quả Bồ tát giải thoát, tên là "Vân Võng". Nói xong, Thần liền hóa phép thần thông hiện ra trước mắt Thiện Tài từng đống châu báu, thất bảo cao như núi, cùng những hương hoa, y phục, dụng cụ, âm nhạc, nhiều vô số kể. Rồi, Thần lại bảo Thiện Tài.

" Tôi đã vì tất cả chúng sinhbiến hóa ra những thứ này để dạy hạnh Bồ tát. Nếu kẻ nào ham mê dăm dục, tâm thường phóng dật, thì tôi liền hiện ngay ra những cảnh bất tịnh. Nếu kẻ nào lòng sân hận, kiêu căng, tật đố thì tôi hiện ra những hình tướng đáng sợ như Thiên lôi, La sát uống máu, ăn thịt để răng đời. Nếu ai hôn trầm, lười biếng, giải đãi, tôi sẽ hiện ra những cảnh đao binh, nước lửa, bệnh tật, trộm cướp v.v…buộc họ phải cố gắng, tinh tiến, siêng năng , chăm lo công việc. "Vân Võng"có nghĩa là lưới mây . Mây tuy thưa mỏng nhưng khó thoát. Nó vây bọc quanh mình như nghiệp quả. Người đời, không ai tránh khỏi nghiệp, dù là nghiệp nhỏ, cho nên tôi đã dùng đủ mọi phương tiện khiến chúng sinh phải từ bỏ hết mọi nết hư, tật xấu, mà tinh tiến tu tập các pháp lành để trở thành người lương thiện, xa lánh đường hiểm ác, tới nơi vô ngại, an lành.

"Người nào có đạo tâm trong sạch thì không còn mong cầu điều chi cả, bởi lẽ đã rõ biết các pháp đều hư huyễn, sinh rồi diệt, diệt rồi sinh, có gì đâu là chân thật mà mong cầu?

"Người nào có đạo tâm đã rõ các pháp thế gian đều tương đối, trong họa có phúc, trong phúc có họa, cho nên tâm lúc nào cũng bình thản

ở trong cảnh thịnh suy, họa phúc mà tâm chẳng hề giao động, luôn luôn phẳng lăạng như tờ.

"Quan niệm về một cái ngã thường tồn, bất biến và luôn luôn đồnh nhất, là một quan niệm sai lầm, hoàn toàn phi lý. Chính nó là nguyên nhân phát sinh ra những tình cảm và tư tưởng ích kỷ, ty tiện, những tham vọng vô bờ bến, những quyến luyến đam mê, oán thù bất tận. Chính nó là tác giả những cuộc xô sát ác liệt giữa người và người, không giây phút nào ngơi. Tất cả thống khổ, thương đau trên cõi trần gian này đều bắt nguồn từ quan niệm sai lầm về ngã kiến (thấy có ta) cấu tạo ra cả. Vậy, người tu cần phải diệt trừ cho được cái quan niệm sai lầm đó, tức là phải phá chấp ngã và luôn cả chấp pháp một cách triệt để, và có phá được cả hai món chấp ấy mới mong giải thoátnổi hoàn toàn khỏi mọi khổ đau và ác nghiệp_ Đó là mục tiêu đầu tiên và cuối cùng của người hành Bồ Tát Đạo" (BTD, trang 644-646)

Trong chương này tác giả đề cập hai phương pháp phá chấp: một của "pháp môn Duy Thức", và một của "Không Tông Bát Nhã"với những lý luận chính xác, đanh thép. Cuối cùng đưa đến nhận thức: Tuy cùng nhằm mụv đích phá chấp ngã, phá chấp pháp mà hai pháp môn Duy ThứcBát Nhã đã áp dụng hai phương pháp khác nhau;

"Không Tông Bát Nhã" thì lặng nhìn Bản thể sự vật, không nói năng gì, và phóng sẳn tầm mắt vào nơi sâu thẳm của tâm thức im lìmđể nhận thấy rõ cái chân tính rỗng lặng của vạn hữu".

"Pháp Tướng Duy Thức"lại dừng chân ở phía ngoài hiện tượngquan sát và phân tích tỉ mỉ từng khía cạnh mọi cảm giác của nội tâm để rồi cùng tiến sâu phía bên trong Thể tính của vạn vật, và cùng nhận ra ngay cái Thực Tướng Vô Tướng của muôn pháp hóa sinh. Rốt cuộc, cả hai phái pháp Tínhpháp Tướng đều gặp nhau ở điểm siêu tuyệt nơi Bản Thể Chân Như, hay Chân Không của vạn pháp" (BTD, trang 692)

Chương 31 _ Thần An Trụ dạy "Pháp môn lục thông"

1.. Thiên Nhãn Thông : mắt nhìn thấy được thật xa, trông thấu xuốt mọi pháp, nhận rõ những vật li ti như vi trùng, v.v…

2.. Thiên Nhĩ Thông : tai nghe rõ âm ba ngoài nghìn dặm tựa như máy thu thanh.

3.. Thần Túc Thông : hay Như Ý Thông , hoặc Bất Tư Nghị Lực: là những hoạt lực tự tại vô ngại, không thể suy lường được về khả năng. Với pháp này có thể bay bổng như chim trời, đi trên mặt nước hay duy chuyển nhẹ nhàng nhanh chóng, tựa như cưỡi gió lướt đi, biến hóa vô cùng mau lẹ.

4.. Túc Mệnh Thông : là biết rõ kiếp quá khứ, vị lai, thấu suốt nghiệp chướng của mình và của mọi người trong nhiều đời nhiều kiếp.

5.. Tha Tâm Thông : là biết rõ những tư tưởng thầm kín và hiểu thấu ý muốn của mọi người, do đó dể cảm thông và đáp đúng được mọi nguyện vọng của tha nhân.

6.. Lậu Tận Thông : là vượt lên mọi phiền não, nghiệp chướng, sống ngoài vòng sinh tử, luân hồi, hoàn toàn giải thoát, không bị vướng mắc nghiệp duyên ràng buộc nữa.

"Trong sáu phép thần thông chỉ có Lậu Tận Thông là được Đức Phật khuyến khích, vì đây là lối luyện cho tâm hư, nhập Niết bàn (Nirvana) thanh tịnh, và khi đã đắc pháp này rồi, tự nhiên thông trên đều rộng mở, không cần tu mà cũng được .." (BTD, trang695- 696)

Chương 33_ Dạ thần Phổ Đức Tịnh Quang dạy về "Thực Tướng của các Pháp"

Dạ Thần nói : "Bồ tát muốn hành đạo phải phát tâm cao dày. Khi đã thành tâm phát nguyện vô thượng Bồ đề thì có thể thành tựu được mười hạnh Phổ Hiềnviên mãn được thanh tịnh tâm. Tâm thanh tịnh thì trông thấy được chư Phật. Mắt thanh tịnh thì nhìn thấy được tướng tốt trang nghiêm của Như Lai. Trí tuệ thanh tịnh thì biết rõ công đức rộng lớn như biển cả của chư Phật, và thấy rõ được vô lượng Phât Pháp quang minh khắp pháp giới, trông thấy từ mỗi lổ chân lông của Như Lai phóng ra, và trong một niệm thấy chư Phật xuất hiện khắp pháp giới, lại nghe hiểu âm thanh của chư Phật chuyển pháp luân trong tam thế, biết tường tận danh hiệu của hằng hà sa số chư Phật mười phương, lại biết đụoc cả chư Phật dùng bất tư nghị tự tại thần thông lực để đều phục muôn loài…Khi tâm chẳng còn khởi vọng phân biệt, và nhìn thấy rõ chư Phật tam thế xuất hiện ở khắp các đạo tràng, thấy Như Lai chẳng còn tùy thuộc vào không gianthời gian, thấy Như Lai không từ đâu đến, không đi về đâu, không sinh cũng không diệt, không thực cũng không hư, chẳng chân cũng chẳng vọng , chẳng hoại cũng chẳng đổi dời, vì Thể tínhvô sinh , và Pháp thânbình đẳng, vì Như Lai là nguồn sống bất tận, là ánh sáng vô biên độ khắp chúng sinh , vì tính của Như Lai thường còn chẳng biến đổi, vì Như Lai vốn vô tướng, và Tính, Tướng bất nhị, chính là "Chân Không Diệu Hữu".

"Còn ở trong vòng điên đảo mê mờ thì chưa rõ được cảnh Viên Giác của chư Phật, vì thế mà người tu cần phải gạn lọc tâm hồn sao cho cái tâm vọng động si mê của mình được thanh tịnh, hầu cho ánh sáng nhiệm mầu của Chân Tâm được tỏ bày vi diệu.." (BTD , trang 705- 706)

Chương 34 –35 -Dạ thần Hỷ mục Quan Sát Chúng Sinh và Dạ thần Phổ Cứu Chúng Sinh Diệu Đức dạy "37 đạo Phẩm"

Đạo đếcon đường dẩn chúng sinh đến quả vị giải thoát, ra khỏi tam giới sinh tử, luân hồi. Pháp môn dẩn tới chổ cứu cánh giải thoát có nhiều vô kể, trong đó phải nói đến 37 đạo phẩm. Phàm người tu đạo Bồ tát ai cũng phải hành trì 37 đạo phẩm, mới mong đạt tớ chỗ rốt ráo Bồ đề.

I. Tứ Niệm Xứ:

  1. Không sạch cho là sạch ( Quán thân bất tịnh).
  2. Không vui cho là vui (Quán thụ thị khổ).
  3. Vô thường cho là thường (Quán tâm cho là thường ).
  4. Vô ngã cho là ngã (Quán pháp vô ngã).

II. Tứ Chính Cần:

  1. Việc ác đã làm, quyết không làm nữa (Dĩ sinh ác pháp linh đoạn).
  2. Việc ác chưa làm, quyết không bao giờ làm (Vị sinh ác pháp linh bất sinh).
  3. Việc thiện đã làm, thì quyết tâm làm thêm nhiều nữa (Dĩ sinh thiện pháp linh tăng trưởng).
  4. Việc thiện chưa làm, quyết làm cho kỳ được (Vị sinh thiện linh sinh).

III. Tứ Như Ý Túc hay Tứ Thần Túc:

  1. Do quyết tâm tu hành cho định tuệ ngang nhau mà đắc thần thông (Dục như ý túc).
  2. Tinh tiến tu hành cho đắc định tuệ ngang nhau mà đắc thần thông (Tinh tiến như ý túc).
  3. Do tu chính định mà đắc thầ thông (Định như ý túc).
  4. Do chính quán mà đắc thần thông (Quán như ý túc).

IV. Ngũ Căn:

  1. Lòng tin sâu sắc ở Tam Bảo, ở pháp Tứ Diệu Đế (Tín Căn).
  2. Siêng năng tu hành theo chính đạo (Tinh tiến căn).
  3. Luôn nhớ nghĩ đến chính pháp ( Niệm căn)
  4. Giữ tâm không tán loạn (Định căn).
  5. Tâm trí sáng suốt, phân biệtchính tà (Tuệ căn).

V. Ngũ Lực:

  1. đức tin chân chính (Tín lực).
  2. Quyết tiến bước trên đường tu đạo (Tinh tiến lực).
  3. Sức suy tưởng sâu rộng (Niệm lực).
  4. Định lực kiên cố (Định lực).
  5. Thần trí sáng láng( Tuệ lực).

VI. Thất Giác Chi, còn gọi là "Thất Bồ đề phận".

  1. Thường xuyên ở trong sinh không quán, tạo cho định tuệ được thăng bằng (Niệm giác chi).
  2. Dùng trí tuệ vô lậu để quán chiếu sự vật, không sai lầm (Trạch Pháp giác chi).
  3. Dũng mãnh trừ diệt các tư hoặc, thực hành chính pháp (Tinh Tiến giác chi).
  4. Vui mừng được giải thoáttùy hỷ tất cả việc thiện (Hỷ giáic chi).
  5. Những cảm khoái an lạc, vui tươi là do sự diệt trừ kiếnn hoă�c (Khinh an giác chi).
  6. Dùng pháp không sinh quán đối trị các tư hoặc làm cho tâm không tán loạn (Định giác chi).
  7. Dùng sinh không quán đối trị phóng xả tất cả pháp thế gian, không lưu giữ một bóng dáng gì trong tâm, tạo cho tâm hồn luôn luôn thanh tịnh sáng suốt (Hành Xả giác chi).


VII. Bát Chính Đạo:

  1. Sự thấy biết đúng như thật bốn Thánh Đế, hay nói cách khác: sự nhận thức các hệ thống giữa vũ trụ và các luận lý siêu hình chi phối vạn vật (Chính Tri Kiến).
  2. Tư tưởng chính đáng, không tham, không giận, những tư tưởng từ bi (Chính Tư Duy)
  3. Lời nói chân chí�nh, không thô lỗ, đặt điều, xu nịnh, dèm pha (Chính Ngữ).
  4. Đời sống trong sạch, không sát sanh, trộm cắp, tà dâm (Chính Mệnh)
  5. Hành động đúng theo lẽ phải, phù hợp với chân ly, tránh làm thiệt hại phiền não cho kẻ khác (Chính Nghiệp).
  6. Chăm chỉ làm những việc thiện, tránh những hành động, tư tưởng, ngôn ngữ tà ác, tu luyện thân tâm cho mỗi ngày thêm tốt đẹp (Chính Tinh Tiến)
  7. Suy xét �và tưởng nhớ những việc hay, lành, gột bỏ mọi ý nghĩ xấu để giữ cho ba nghiệp (thân, khẩu, ý) luôn luôn trong sạch (Chính Niệm)
  8. Chuyên chú tâm trívề mọi điều lành. Tâm có định thì trí mới sáng suốt, và một khi đi vào hành động ít bị sai lầm đến nổi gây ra những khổ đau, phiền não cho mình và cho kẻ khác (Chính Định).

*. Chính Ngữ- Chính nghiệp- chính tinh tiến- chính mệnh thuộc về Giới (Sila)

*. Chính niệm- chính định- thuộc về Định (Samàdhi)

*. Chính tri kiến- cfhính tư duy thuộc về Tuệ (Prajna).

Chương 36 – Thần Tịnh Tĩnh Âm Hải dạy: "Pháp môn Trung Đạo"

Và dưới đây tác giả bàn về thuyết Trung Đạo của Phật giáo đã áp dụng một Biện chứng pháp kỳ thú xây dựng trên Tam luận:

Chấp nhận – Phủ nhận- Chấp nhận…

" Cứu cáng của biện chứng pháp này có thể là một chấp nhận hay một phủ nhận, nhưng đây lại là cái "chấp nhận của chấp nhận" hoặc cái "phủ nhận của phủ nhận", vượt hẳn ra ngoài giới hạn của biện chứng, và chỉ có thể thực hiện được nhờ vào diệu dụng của tâm linh mà thôi.

Trong kinh Kim Cương có câu:

Nhất thiết pháp giả, tức thị nhất thiết pháp, thị cố danh nhất thiết pháp.

"Cái gì gọi là hết thảy pháp, tức không phải là hết thảy pháp, đấy chỉ là cái tên để gọi các pháp (sự vật). Ta thấy Phật nói: "có", rồi lại phá luôn "có", và lập ngay cái "không", và trong khi cái "có" và cái "không" đang giằng co nhau, thì Phật lại đưa ngay một nhát gươm thượng thừa để, chặt đứt cả Có lẫn Không, cắt đôi dòng suy tưởng để đi ngay vào cái Thực Tướng Không Tướng nên cũng gọi là hết thảy pháp.

"Nói pháp mà nói như thế mới thật là "Không có pháp nào để mà nói cả". Cũng trong tinh thần nói trong im lặng ấy, Phật đã mở pháp Tiểu thừa dạy lý Vô Ngã cho những đệ tử quen chấp cái "tôi"là thực có. Thực hành Pháp Vô Ngã, hàng tiểu thừa tiêu diệt được cái "tôi"và cầu mong được giải thoát. Tuy nhiên, vì người đời chấp Hữu Ngã nên Phật mới dạy Vô Ngã, nhằm tạo đòn đối nghịch, nhưng nếu còn đối nghịch là còn chân lý tương đối có hai chiều, chưa phải là lẽ Đạo.

"Trung Đạo, không có nghĩa là nơi trung giangiữa "có" và "không" mà có ý nghĩa vượt ra ngoài vòng sai biệt. Ngoài sự so đo. Đó là con đường người ta từ Mê tới Ngộ, từ phàm tới thánh, thoát khỏi mọi tà kiến chấp trước.

"Không có cái "Có"mà cũng không có cái "Không". Cả hai thuộc về trường hợp "ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt". Chân lý của Đạo không ở vào biên giới nào cả, và bất cứ quan niệm tương đối nào cũng có cái lý Trung Đạo nằm ở trong.

"Trong kinh A Hàm có nhiều đoạn nói rằng: "Nhờ lý duyên khởi mà ta xa lánh được nhị biên, thoát khỏi thường, đoạn, hữu, vô, nhất, dị, và có năng lực phá chấp triệt để đưa từ thế tục đế đến Thắng nghĩa đế.

"Biện chứng pháp lấy tên là " Bát Bất Trung Đạo"là con đường giữa bác bỏ tám cái chống đối nhau: sinh- diệt- thường- đoạn- nhất- dị- lai- khứ, vì đó chỉ là những quan niệm, thì không thể nói là có hay không, hay vừa có vừa không, hay chẳng có chẳng không. Những gì tương đối đều là giả có, không chân thật.

" Khi tâm con người còn bị vọng tưởng mê hoặc, thấy mọi sự quanh mình đều có thực thì còn bị mê lầm. Chẳng những mọi hiện tượng, mọi sắc tướng đều trống rỗng, đều là KHÔNG, bởi vì chúng tuỳ nhân duyên sinh mà chẳng có thực thể, thậm chí đến cái tuyệt đối, chính nó cũng là "Không"vì nó ở ngoài trí nhận định và khái niệm của con người. Nó là bất khả tư nghị, không thể nói lên lời hay bày tỏ bằng văn tự được.

" Nói tuyệt đối là "Không"thì làm sao đạt được cái "Không"ấy? Chạy theo cái "Không" này phải chăng chúng ta sẽ rơi vào hư vô trống rỗng ?- Không. Nếu vạn vật đều là giả có, đều là "Không" theo ý nghĩa trống rỗng, thì cái "tuyệt đối Không"của Trung Đạo lại hết sức chân thật và chẳng trống rỗng chút nào cả, bởi vì nó hàm chứa cả vạn hữu bên trong. Thực khó lấy trí phàm của ta mà phán đoán, dò xét và nhận thức được cfái tuyệt đối mầu nhiệm này, và phải dùng trí Bát Nhãlà cái trực giác siêu phàmbén nhạy để chứng nhận cái "Không"ấy mới biết rõ nó như thế nào. Trực giác ấy chỉ đến với ta trong lúc tịch tĩnh của tâm hồn. Khi ta biết từ bỏ mọi lý luậnlý trí so sánh nhị nguyên để diễn đạt tư tưởng. Trong cái thực chứng ấy, mọi đối đãi đều tiêu tan, không còn Ngã, Pháp, Khách, Chủ gì nữa.

"Muốn tìm cái chân lý tuyệt đối ấy phải bới tìm nơi đáy lòng mình, cũng như muốn thấy Bồ Đề, Niết bàn phải đi sâu vào tận cùng tâm khảm, dùng phương pháp "hồi quang phản chiếu"mà thu gọn không – thời gian vào một điểm "đương xứ" để cho dĩ vãng và tương laivô tận gặp được nhau trong một khoảnh khắc hiện tiền.

"Nói vạn pháp là "không"là muốn nói vạn pháp không chân thật, không thực có bền bỉ, và từng sát na sinh diệt. Tuy vậy, mọi vật lại từ cái thể "không" ấy mà ra cả. Sắc trần tuy không phải là biểu hiện của sự thật tuyệt đối, nhưng nó vẫn hàm chứa một sự thật tương đối, ước lệ. Vậy, cái chân thật, cái tuyệt đối vốn ở trong cái sắc trần tương đối. Nhưng ở vào một mức độ nào đó thôi, mức độ phù hợp với hoàn cảnh của thế gian.

"Sóng không phải là nước mà chỉ là biểu tượng của nước, nhưng sóng vẫn có nước là gốc ở bên trong. Vì nhận rõ lẽ này mà người tu chứng đạo, dù đã nắm được cái lý tuyệt đối, mà vẫn không lìa bỏ thế giới sắc tướng bên ngoài của những sự thật tương đối. Sau khi đắc Bồ đề rồi, các vị Bồ tát lại hồi nhập thế giới Sa bà, trở về chung sống với thế gian ô trược, có thế mới độ được chúng sinh đương bị trầm luân trong sinh tử.

"Nếu đứng trên mặt hiện tượng mà xét, thì sự sống chỉ là những dòng sinh hoạt… biến động, hòa hợpliên tục. Mọi sự vật hỗ tương ảnh hưởng, quan hệ mật thiết với nhau trùng trùng điệp điệp trong không gianthời gian vô tận vô biên. Bởi luôn luôn sinh diệt, nên sự vật chẳng phải là những thực thể thường còn, và cũng vì sự lưu chuyển tiếp nối nhau không dứt, cho nên sự sống bất tận không bao giờ diệt mất.

"Phật giáo không hề xác nhận có một tự ngã hằng hữu và cũng hề chấp nhận sự diệt vong. Không diệt mất; cùng không còn mãi, mọi sinh hoạt của hiện tượng giới chỉ là một đại dương liên tục (Rien ne se perd, rien ne se crée). Nhận thức được sự biến động liên tục đó là đi vào con đường nhận thức Trung Đạo về mặt hiện tướng. (BTD, trang754).

Chương 40- Thần Diệu Đức Viên mãn dạy Thiện Tài về những Quả vị tu chứng được trong đạo Phật.

Muốn được những quả vi đó phải có những đại nguyện:

  1. Nguyện cúng dường chư Phật mười phương.
  2. Nguyện phát tâm đại Bồ đề.
  3. Nguyện siêng năng tu tậpquán tưởng các pháp của Phật.
  4. Nguyện dùng tâm thanh tịnh chiếu soi tam thế.
  5. Nguyện phát tâm bình đẳng vô phân biệt.
  6. Nguyện sinh vào nhà Như Lai.
  7. Nguyện có đầy đủ Phật lực quang minh chính đại.
  8. Nguyện thấu hiểu tường tận các pháp môn.
  9. Nguyện hiện ra thân tướng trang nghiêm khắp pháp giới.
  10. Nguyện được sống trong cõi Phật. (chép theo kinh).

Khi đã lập nguyện như vậy rồi phải phát tâm Bồ đề, khởi lòng đại bi, cứu giúp muôn loài, đem tâm càu nhất thiết trí, dùng Tâm từ vô lượng độ tận chúng sinh, lấy tâm Bi, dũng mãnh tế độ muôn loài…

Những quả tu chứng được minh giải trong các phẩm của kinh Hoa Nghiêm:

  • Thập Tín: …………………………….6 phẩm, từ 7 tới 12


Thập Trụ:……………………………………………1 phẩm,-15

Thập Hành: ……………………………………..1 phẩm,-22

  • Thập Hồi Hướng………………………………..1 phẩm,-25
  • Thập Địa: ……………………………………………..1 phẩm,-26
  • Đẳng giác, Diệu Giác:…………11 phẩm,-27 đến 37

Nghĩa là hành giả phải trải qua ba vô lượng (A tăng kỳ) kiếp tu hành, và lần lượt đi hết các chặng trênn đường đạo, từ thấp đến cao, từ gần tới xa, qua đủ 53 cấp bậc, từ Tam hiền đến thập thành, học đủ các môn từ dể đến khó, đi từ tướng ra tính, lại từ tính trở về tướng, không trụ nơi Niết bàn an vui thanh tịnh, mà lại tự nguyện "hòa quang đồng trần", lăn lộn trong đường trần để độ tận chúng sinh cương cường ương ngạnh…

Chương 46- Trưởng giả kiên Cố Giải Thoát dạy pháp môn "Bất Nhị"

Trưởng giả nói: "Trong lý siêu việt tuyệt đối hay Thắng Nghĩa Đế thì các pháp trên thế gian này đều bình đẳng, không khác nhau trên mặt Bản Thể Chân Như Tuyệt Đối. Và chỉ khán nhau trên mặt hình tướng tương đối bề ngoài mà thôi. Do đó, phiền não tức Bồ đề, chúng sinh tức Phật, Sự tức Lý, Vật tức Tâm, và Hiện tượng tức Bản thể…Tất cả chỉ lả Một, không Hai".

Và dưới đây là lời bàn của tác giả về pháp môn "Bất Nhị"

  1. Theo Kiến Giải của Phái Thiền Tông

Thuyết "Chân Không Diệu Hữu" hay Trung Đạo của Bồ tát Long Thụ trong pháp môn Bát Nhã là cái nhân đưa tới thuyết "Bất Nhị pháp môn" của Tổ Tuệ Năng trong phái Thiền Tông Đốn Ngộ Trung Hoa. Tổ Tuệ Năng cho rằng "Phiền não tức Bồ đề" và khẳng định rằng : sinh hoạt hiện thếthực hiện cảnh quan Cực Lạc, thế giới lý tưởng ở ngay chốn trần gian đầy khổ lụy này. Đó cũng là thuyết "chúng sinh tức Phật"hay "tức thân thành Phật".

Khi nói "Phiền não tức Bồ đề" không có nghĩa là để mặc cho tấm thân ươn hèn trôi dạt vật vờ, như con thuyền không lái trong biển khổ mênh mông, phó thác cho con tạo mặc sức xoay vần, đầy đưa mình trên làn sóng để đạt tới những bến bờ vô định, rồi một ngày kia, chẳng chóng thì chầy, cuối cùng vẫn cứ được hưởng an vui hạnh phúc. Nói như thế nên phải hiểu theo ý nghĩa là phải can đảm nhìn nhận sự khổ đau, cắn răng chịu đựng, đừng kêu la khóc than vô ích, mà phải đương đầu giải quyết các vấn đề khổ đau trên đường đời một cách kiên gan, không lẩn tránh, tìm mọi cách khắc phục gian khổ và chính ở chổ kiếm cách giải thoát cho mình và cho mọi người. "Chán nản cuộc đời, tìm đến cửa Phật" để được an thân, điều đó không hẳn….đáng trách, nhưng hoài bão cao cả của đức Phật khi ngài xuất gia cầu đạo không phải chỉ hướng đến mục đích tầm thường và hẹp hòi như vậy. Sống cuộc đời xuất gia không để trốn tránh đau khổ mà là để chiến thắng đau khổ. Muốn chiến thắng đau khổ, phải can đảm đương đầu với khổ đau không chút sợ hãi, bởi vì xưa nay không ai sợ địch mà lại chiến thắng được địch bao giờ. Cũng vì thế mà cuộc đời trở nên có giá trị và đầy ý nghĩa thanh cao đệp đẽ, vì đau khổ chính là cái nhân tạo nên sự an lạcgiải thoát cho tâm hồn. Cũng như đóa sen thơm ngát và tinh khiết, thoát thai từ chốn bùn tanh hôi, lý tưởng đẹp đẽ nhất là phải giải trừ đau khổ cho mọi người, mọi loài, giải phóng tất cả nhân loại ra khỏi tình trạng bi thảm đau thương trong đó họ đang dở sống dở chết. Chính ở trong nghịch cảnh mà chiến thắng được tâm vọng động, làm chủ được tham, sân, si mới là cuộc chiến thắng vinh quang nhất khôngsánh bằng.

" Tổ Tuệ Năng khuyên ta nên từ bỏ tất cả để được tất cả, đó là lời chỉ đạo sáng suốt để đi đến chân lý tuyệt đối.

*. Trên phương diện nhất nguyên thì Niết bàn do sinh tử mà có, cũng như Thị do Phi sinh ra, Ác do Thiện mà thành vậy. Sinh tửNiết bàn chẳng qua chỉ là những lẽ đối đãi với nhau, và cả dai chỉ là một.

*. Trên phương diện hiện tượnghình thức nhị nguyên tương đối thì có cặp mâu thuẫn sinh tử, Niết bàn, luân hồi, giải thoát. Nhưng trên bình diện Bản thể, bìng đẳng tuyệt đối, vô sai biệt thì không thể phân ra làm hai thứ riêng biệt được . Bậc tu hành đạt đạo và giác ngộ rồi không còn tham sinh úy tử, vào Niết bàn không thấy lưu luyến, đắm say mà ở cõi trần hoàn tục lụy cũng chẳng thấy đau khổ, chán ghét, thản nhiên sống, thời theo xử thuận, ở cảnh nào thì vui với cảnh đó, vui với những gì mình hiện có, vì vậy mà không ham muốn trụ ở Niết bàn, cũng chẳng chán cảnh trần gian.

Người đã hiểu rõthế gian, tà kiếnchính kiến thì chẳng còn chấp việc lìa nhiễm theo tịnh, bỏ tà qui chính, mà phải tìm cách tháo gỡ cả hai cực đoan thường và đoạn, để thân tâm được rỗng lặng, và chân tâm không gián đoạn, tự nhiên sẽ được kiên tính thành Phật.

b. Theo lối kiến giải của Phái Duy thức

"Sự vật chung quanh mà ta nhận thấy được, là do tính biến kế sở chấp và tính ý tha khởi gây ra, Duy Thức gọi đó là đới chấn cảnh, tức là cảnh chân thật của Bản thể (còn gọi là Tính cảnh). Kèm theo một chút phân biệt so sánh chủ quan, do thức thứ 6 (ý thức) đem đến.

" Nếu ta không tri giác, không khởi vọng niệm thì cảnh Đới Chất đó cũng tan biến ngay,

"Sự chứng ngộnhất thừa có nghĩa là sự diệt trừ mọi vọng tưởng (vikalpa) cho rằng mình với người, chủ và khách, năng và sở, tâm và vật, kiến phầntướng phần, Bồ đềphiền não, Bản thể và hiện tượng…. nghĩa là tất cả những gì đối đãi nhau là hai thực thể riêng biệt hẳn, mà không biết rằng chúng chỉ là một, cùng chung một Bản thể Chân Như. Khi đã nhận chân được lẽ nhất thừa vô thượng đó, hay là đạt tới Lý- Sự và Sự sự vô ngại pháp giới của kinh Hoa Nghiêm thì sẽ cỡi bỏ được mọi ngã chấp, không còn khổ đau, sinh tử luân hồi nữa, và như vậy đã liễu ngộ được lý Bất Nhị pháp môn.

"Chúng ta có ngờ đâu rằng những cảm giác do giác quan đem đến cho chúng ta thường hay sai lạc. Tỷ dụ: hai dây dọi không phải hai đường thẳng song song mà chính là hai đường xéo góc, vì chúng cùng châu vào tâm điểm của địa cầu. Cũng như sự chuyển động, đâu có đi theo đường thẳng, bởi ta không tính đến việc trái đất quay và xoay quanh mặt trời, ngoài ra lại còn chưa xét tới sự xê dịch của toàn thể thái dương hệ nữa. Một viên đạn hay một chiếc phi cơđã bay theo đường xoáy ốc chứ không phải đường thẳng.

" Một thoi sắt theo mắt thường, tưởng là dầy đặc, nhưng kỳ thực, chiếu qua quang tuyến X lại thấy nó xốp như một miếng bánh; và đường ở lưỡi dao cạo, ta tưởng là thẳng , nhưng thực ra, soi kính hiển vi, lại thấy mấp mô như một lưỡi cưa lồi lõm. Cũnh như một viên đá sỏi, thực ra được cấu tạo bởi hàng triệu triệu vũ trụ tí hon, không dính với nhau và luôn luôn chuyển dịch vô cùng mau lẹ, chứ không bất động như ta tưởng đâu.

‘Theo các bộ luận của Duy thức học (Vijinadvada) bà về Chân Như thì ta nhìn một sự vật gì thì không bao giờ ta đạt tới Bản thể chân thật của sự vật đó cả, mà chỉ nhận được cái ảnh tượng mờ ảo phảng phất giống như vật ấy do giác quan thu lượm được mà thôi.

Tỷ dụ ( như khi nói): bông hồng này tươi thắm và thơm ngát quá, đó là ta đã kết hợp cảm giác màu hồng tươi và mùi hương thơm của bông hoa do thị giáckhứu giác đem lại, chứ thực ra ta không trực tiếp được với Bản thể của bông hồng. Duy thức tông dạy ta phải cố gắng tìm đến một thế giới thực là căn bản của thế giới đới chất này. Đạt tới thế giới thực (tính cảnh) tức là thoát khỏi sự ràng buộc của ngoại giới. Như vậy, ngoài thế giới chủ quan của ý thức, Duy thức xác nhận còn có một thế giới khách quan tồn tại, và đó là thế giới Tính cảnh. Tuy nhiên, thế giới tính cảnh đó cũng không phải làthần ngã như Bà la môn giáo.

"Đạt tới Bản chất của sự vật, tức là quan niệm xa lìa hẳn cuộc sống hàng ngày bằng cảm giác, tri giác, tư duy hạn hẹp, tức được giải thoát hay thể nhập Niết bàn.

"Nhưng cao hơn bậc nữa, Phật giáo đại thừa lại cho rằng: Thế giới bản chất tồn tại ngoài ý thức đó, chỉ là cảnh sở biến của một tâm thức khác gọi là A lại gia thức (Alayavijnànam), và cần phải vận dụng a lại gia thức làm cho nó loại trừ được biến tướng của nó thì mới đạt đến giải thoát thực sự.

" Phái Duy Thức cho rằng: A lại gia thức (tạng thức hay xứ của sinh tử, luân hồi) bản tính vốn thanh tịnhvô phân biệt, chỉ vì bị ô nhiễm bởi vô minh, tà kiến nên mới sinh ra phân biệtngã và ngã sở, chủ thể và đối tượng, kiến phầntướng phần, người nhận thức và vật bị nhận thức ….Chủ thể là Mạt na thức thứ bảy chấp ngã (Adànavijnànam) mà đối tượng là thế giới ngoại cảnh, hay ngã sở…

" Do đó, lập trường của nhà Duy thức học là: Từ trạng thái vô minh, tham ái, che lấp tính linh minh của Chân như thanh tịnh,mục đích cứu cánh của những công phu tu tậptrở về với trạng thái thanh tịnh Niết bàn nguyên thủy của mình, hay trở về với Bình đẳng tính trí và Đại viên kinh trí, ở đó không còn ta và người, ngã và ngã sở nữa.

"Sự chứng ngộ chỉ có nghĩa là trở về nguồn gốc tức Tâm Chân như hai cái thức đại đồng, ngoài ra, thế giới hiện tượng chỉ là hư giả do thức biến mà thôi. Chủ tử (bijà) của hết thảy sự vật trong thế gianxuất thế gian đều chứa đựng trong Tạng thức ấy, vì nó là cỗi rễ của vạn pháp, cho nên A lại gia thức có cả chủng tử ô nhiễm lẫn thanh tịnh hóa thức A lại gia, diệt trừ mọi chủng tử hữu lậu ở đó để Tạng thức trở nên vô cấu,

" Vượt lên trên sự lý phân ly giữa hiện tượngBản thể, tìm được sự dung hợp giữa đối tượng và chủ thể, chúng ta đi vào con đường bất Nhị pháp môn". (BTD ,trang 913- 933)

Chương 49- Bà la môn Tối Thắng Tĩnh dạy về "Tự Nghiệp,

Cộng Nghiệp"và " Chuyển Nghiệp thành Nguyện".

"Phàm đã gieo nhân nào tất phải hái quả ấy, không chút sai lầm, vì thế mà tôi không lo phải chịu những hậu quả do nghiệp báo đã gây ra, mà chỉ sợ thân, khẩu, ý gieo lầm những quả báo xấu xa chua chát. Tôi ước mong rằng chúng sinh đều hiểu thấu luật nhân quả để vượt lên luật nhân quả, tạo những nghiệp lành, tránh những nghiệp dữ, sửa đổi cộng nghiệp mỗi ngày một thêm nhẹ bớt, và cố gắng cải biến cõi Sa bà này thành một thế giới Cực Lạc an vui".

Và dưới đây là ý kiến của chúng sinh – dù thiện hay ác- đều tạo nghiệp cả. Chỉ có hàng động của chư Phật và Bồ tát mới không tạo nghiệp mà thôi.

‘ Gây nghiệp ở kiếp này thì thụ quả ở kiếp sau hay ở ngay kiếp này. Quả ấy lại trở thành nhân để tạo thành nghiệp khác nữa. Nhân cách (co người)do chính con người tạo lấy, và nghiệp quả do mình gây ra lúc nào cũng ở trên con đường "trở thành", vì nó luôn luôn thay đổi, do ảnh hưởng của những hành động thiện hay ác của mình. "Nha36t thiết duy tâm tạo" Chính điều trở thành người tốt hay xấu là sự thưởng phạt công minh do tự mình gây ra.

"Nếu một kẻ đã nhúng tay vào máu, giết hại mạng sống khác hay đồng loại, thì hình phạt không phải chỉ bị kết án tù tội bởi xã hội, chưa hẳn là bị Thượng đế nào đó trừng trị, bị đọa xuống hỏa ngục, hay bắt phải lầm than khổ sở, nhưng chính quả đó đã làm cho kẻ giết người trở thành một tên sát nhân. Những hành động dù là tự ý hay bị xúi giục, kể từ lúc hoàn thành đều là hành động "giết", nếu không có gì, hoặc hành vi thiện hoặc cứu cánh thiện xoay đổi nhân cách hắn.

" Một nhân cách tốt hay xấu, sẽ kèm theo những hành vi thiện hay ác và, dĩ nhiên, hưởng quả ngon ngọt hay cay đắng tùy theo…. nhân cách làm một cái gì sống động, biến đổi luôn luôn, khó nguyên một trạng thái. Bản chất của cây xoài không phải là quả xoài, mà chính là cây xoài đó. Bản chất của con bướm chẳng phải là con nhộng nằm trong kén, mà chính là con bướm đã thoát xác và trưởng thành. Sự sống của cây xoài, cũng như mầm sống của con bướm được chứa đựng trong con nhộng . Cũnh như thế, bản ngã của con người hiện tại- chúng ta nhận lầm cái bản ngãđầy tội lỗi vọng động hiện thời trong kiếp của ta là thật có, thực ra, cái "bản lai diện mục"từ vô thủy, hay cái bản ngã của ta trong tương lai, toàn thiện, toàn mỹ, toàn chân, toàn giác mới đích thực là của ta. Vì vô minh che lấp ta mới có những quan niệm sai lầm, khác nào cái vỏ kén dầy đặc bên ngoài đã làm cho con nhộng không nhìn thấy cảnh huy hoàng, xán lạn mà con bướm được nhìn ngắm trong bầu trời xuân ấm áp, cùng với hoa thơm gió mát…. Muốn cho con bướm được thoát thai thì con nhộng lại phải lột xác và lìa bỏ cái vỏ bên ngoài của mình, đặng bướm ra khỏi cái vỏ giam hãm đen tối, hưởng ánh xuân quang tươi đẹp nơi cảnh vườn hoa thơm cỏ lạ. Khi còn là chúng sinh, phải nô lệ theo nghiệp, bị nghiệp lôi cuốn, nhờ Phật chỉ rõ cho biết thế nào là "chân", "vọng" để chuyển nghiệp thành nguyện lớn, rồi tùy hoàn cảnhtiến tu qua các cảnh giới, tiến lên quả vị Phật.

"Chuyển nghiệp thành nguyện"là một nghệ thuật của người hành đạo Bồ tát (hành giả). Hành giả chủ động (tự tại) đối với hoàn cảnh, không chịu bị hoàn cảnh chi phối làm nô lệ cho xác thân vật chất, mà phải vương lên, nhất là trong nghịch cảnh lại là bước thử thách tốt.

*. Tự nghiệp hay biệt nghiệp (nghiệp riêng mỗi cá nhân).

*. Cộng nghiệp hay nghiệp chung của tập thể ( một hay nhiều gia đình, một hay nhiều quốc gia xã hội ). Mội người phải gánh chịu nghiệp riêng cộng với nghiệp chung. Khoa học ngày nay xác nhận: chỉ một cử động nhỏ của cá nhân cũng đủ phát sinh những luồng điện ba động …dội vào khắp vũ trụ, và từ năng lực chuyển thành ánh sáng điện lực hay nhiệt lượng do ta gây ra và đồng thời cũng chịu ảnh hưởng của những ba động từ khắp nơi trong vũ trụ phóng ra, ta và vủ trụ có ảnh hưởng hỗ tương.

Kinh Hoa Nghiêm có câu: "Một vị Phật phát ra một ý nghĩ thì chư Phật mười phương đều hưởng ứng. Vũ trụảnh hưởng dây chuyền lẫn nhau, biến ra tướng này tướng khác trong "Lý sự vô ngại"trùng trùng duyên khởi".

" Trong một cộng đồng dân tộc, khi mọi người đều có ý thức xây dựng một cộng nghiệp chung ngày thêm tốt lành, thì tự nghiệp của mỗi người tuy khác nhau nhưng vẫn có ảnh hưởng tốt lành hơn do cộng nghiệp chung".(BTD,trang 999- 1006)

Chương 52- Đồng Tử Thiện Tài được gặp lại Bồ tát Văn Thù Sư Lợi.

Sau khi được Đức Di Lạc (Maitreya) dạy cho pháp môn Bát NhãDuy Thức, Thiện Tài cất bước lên đường, vượt qua 110 thành nữa mới đến được nước Phổ Môn, vào xứ Tô Ma Na để mong sớm được gặp vị minh sư là Ngài Văn Thù Sư Lợi. Quá nửa đời người bôn ba học đạo, nhưng sở đắc mà chàng thu lượm được không ngoài một chữ "Không" rỗng lặng!

Thời gian, theo thế nhân, là luôn luôn xê dịch, đổi thay…nhưng với Thiện Tài thì vả làvô nghĩa vì, khi đã giác ngộ, chàng thấy núi vẫn là núi, sông vẫn là sông, gió vẫn thổi và nước vẫn chảy, trăng vẫn cứ sáng, bởi lẽ chân tính bản lai của muôn vật là như thế (Pháp nhĩ như thị).

"…Từ xa xa trông thấy bóng Bồ tát Văn Thù Sư Lợi tận cuối chân trời, Thiện Tài rảo bước như bay về phía Thầy, mong chóng quì gối ôm lấy chân Sư Phụ cho rõ lòng thiết tha mong nhớ; đồng thời ngài Văn Thù Sư Lợi, thoạt nhìn thấy hình bóng người đệ tử yêu quí của mình ở tận mù khơi, lòng cũng rộn lên niền vui mừng khôn xiết. Ngài liền dơ tay qua khỏi 110 do tuần, rồi đặt nhẹ lên đầu Thiện tài, đợi đến khi chàng vừa tới, chưa kịp làm lễ bái yết, Ngài đã cất tiếng khen: "Tốt lắm! Tốt lắm! Kế đó Ngài lại diễn nói cho người đệ tử thân yêu được nghe vô số pháp lành vi diệu, vô biên tế Đà la ni, vô lượng đại nguyện, vô biên đại trí tuệ quang minh, và thần thông tam muội sao không kể xiết, khiến cho Thiện Tài nhập vào đạo tràng Phổ Hiền hạnh. Nhờ thế mà chàng thực sự viên mãn được tâm đại bi, trừ được mọi vi tế vô minh, chướng ngại…Thiện Tài định thần, đắm chìm trong tư duy, quán tưởng, trong lúc bồ tát Văn Thù Sư Lợi dùng thần thông ẩn hình, biến dạng lúc nào cũng không hay…" (BTD,trang1119)

Chương 53- Bài học do Bồ tát Phổ hiền dạy "Phương Pháp

Hành Bồ Tát Đạo".

Do lòng khát ngưỡng công đức hạnh nguyện của đức Phổ Hiền (Samantabhadra), và nhờ sự gia hộ của Như lai, Thiện Tài dùng tuệ nhãn quán chiếu khắp pháp giới bao la, nhập vào Tri kiến Phật, ước mong được nghe lời dạy bảo cùng được nhìn thấy hình tướng của Bồ tát Phổ Hiền. Và do thiện căn của Thiện Tài nhất tâm cầu nguyện nên đức Phổ Hiền đã hiện ra thân tướng trang nghiêm cùng với vgô số Bồ Tát vây quanh…

Thiện Tài chiêm ngưỡng thân tướng của Bồ tát tỏa ánh hào quang sáng ngời soi tỏa khắp mười phương pháp giới, phát ra vô lượng hạnh nguyện Ba la mật thanh tịnh. Bồ tát xoa đầu Thiện Tài nói:

" Người có thấy thần lực của ta chăng? Thuở quá khứ, trong nhiều vi trần số kiếp, ta đã thực hành Bồ Tát Đạo để thanh tịnh tâm Bồ đề và kính thờ vô lượng chư Phật. Ta ở trong vô số kiếp mà chưa từng có một niệm nhỏ chẳng theo lời giáo huấn của Như Lai. Ta chẳng bao giờ có tâm sân hận và trụ vào ngã và ngã sở, không một sát na nào rời bỏ Bồ đề. Ta chỉ an trụ tâm trong đại bồ đề� vô thượng và dùng tâm đại bi cứu giúp chúng sinh, trang nghiêm cõi Phật. Trong nội tâm và ở ngoài cảnh giới đều xả hết, cho đến cả mạng sống của ta cũng không hề tiếc rẻ. Nếu nói những việc ta đã làm thì vô cùng tận. Đại dương bát ngát còn có thể cạn khô, chứ những hạnh nguyện của ta bình đẳng, thanh tịnh, tùy thuận chúng sinhứng hiện khắp nơi, làm cho ai nấy đều được an vui, hết khổ. Chúng sinh nào được nghe danh hiệu của ta, tưởng nhớ, hoặc mộng thấy ta, đều được chứng Bồ đề tâm bất thoái.

‘ Muốn kiên cố tâm bồ đềtăng trưởng tâm đại bi, phải năng quan sát chúng sinh đau khổ, không chổ tựa nương, và hay làm những việc ác, như loài bướm tự thiêu thân lao mình vào lửa đỏ, lăn lộn trong biển luân hồi không lối thoát, lại chẳng ưa thích các pháp lành ….

" Thiện Tài tiếp thu được tất cả hạnh nguyện rộng lớn của đức Phổ Hiền, cuối cùng, chàng cũng được như Bồ tát Phổ hiền, cũng có những hạnh nguyện, những thần thông, những biện tài ngôn ngữ vô ngại cùng trí tuệ và tâm đại bi cao cả rộng lớn" (BTD, trang 1121)

" Thiện Tài đã học đủ hết các môn, và pháp nào cũng đều đưa đến Pháp Vương Thành cả.

" 84.000 pháp môn của Phật dạy, tuy chia ra nhiều bộ phái, tính tướnglý sự khác nhau, dị biệt ở phần tiểu tiết, nhưng pháp nào cũng chỉ nhằm vào một mục tiêu: cứu khổ chúng sinh, đưa tới giác ngộ, giải thoát cho mình và cho muôn loài." (BTD ,trang1122)

Đạo Phật là đạo Như Thật, "chuộng sự thực hành, không ưa lý thuyết suông, rườm rà, trừu tượng, chỉ để thỏa mãn óc tò mò của lý trí mà thôi. Đạo Phật vụ ở chỗ "thân chứng" tức thực nghiệm bản thân, và coi nhẹ những sự hiểu biết qua sách vở, kinh điển, vì HỌC mà không HÀNH thì không thể nào tới được bờ bến Giác, đạt tớ Chân lý…

Và để thực thi "BỒ TÁT ĐẠO, hay Con Đường Lý Tưởng" được viên mãn, chúng ta hãy nhất tâm phát nguyện:

*.. Chúng sinh chưa được cứu độ, nguyện xin được cứu độ (Khổ đế)

*..Chúng sinh chưa được giải thoát, nguyện xin được giải thoát (Tập đế)

*..Chúng sinh chưa được giác ngộ, nguyện xin được giác ngộ (Đạo đế)

*..Chúng sinh chưa được Niết bàn, nguyện xin được Niết bàn (Diệt đế).

 

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
(View: 563)
Phật Đà Thập Đại Đệ Tử Tán - Hòa thượng Tuyên Hóa giảng thuật, Nguyễn Minh Tiến Việt dịch
(View: 1985)
Các tác phẩm của Thầy phần lớn được dịch từ Hán tạng, gồm giới kinh và các nguồn văn học Phật giáo Đại thừa với tư tưởng uyên thâm về triết họctâm lý học.
(View: 23413)
Đã phát khởi chí nguyện Đại thừa, lại kiên quyết thực hiện chí nguyện ấy, đó thực sự là cung cách hùng dũng của con sư tử đang vươn mình, và do đó phải được nhìn đến bằng cung cách của con voi chúa.
(View: 23366)
Vua và phu nhân gởi thơ cho Thắng Man, đại lược ca ngợi công đức vô lượng của Như Lai, rồi sai kẻ nội thị tên Chiên Đề La đem thư đến nước A Du Xà... HT Thích Thanh Từ dịch
(View: 2306)
Tất cả các nhà đạo học và thế học muốn thành tựu kết quả tốt đẹp trong cuộc đời, thì trước hết, họ phải trải qua quá trình kham nhẫn, nỗ lực, tu, học, rèn luyện tự thân, giúp đỡ, và đem lại lợi ích cho tha nhân.
(View: 6404)
Bảy Đức Thế Tôn quá khứ từ Thế Tôn Tỳ Bà Thi, Thế Tôn Thích Ca, và chư Thế Tôn vị lai đều chứng ngộ Vô Thượng Bồ Đề từ sự chứng ngộ sự thật Duyên khởi.
(View: 5575)
Trong các bản Kinh Pháp Cú, phổ biến nhất hiện nay là Kinh Pháp Cú Nam Truyền, tức là Kinh Pháp Cú dịch theo Tạng Pali.
(View: 3841)
Có lần Đức Phật sống tại Rajagaha (Vương Xá) trong Khu Rừng Tre gần Nơi Nuôi Những Con Sóc. Lúc bấy giờ, vị Bà La Môn tên là Akkosa Bharadvaja đã nghe người ta đồn đãi như sau:
(View: 3162)
Tôi nghe như vầy. Có lần Đức Phật, trong khi đi hoằng pháp ở nước Kosala nơi có một cộng đồng rất đông Tỳ Kheo, ngài đi vào một tỉnh nhỏ nơi cư trú của người Kalama
(View: 10834)
Quy Sơn Cảnh Sách Học Giải - Tác Giả: Thiền Sư Quy Sơn Linh Hựu; Thích Thiện Trí (Thánh Tri) Phỏng Việt Dịch và Viết Bài Học Giải
(View: 3620)
Kinh này khởi đầu bằng lời người Bà La Môn hỏi rằng làm thế nào người ta có thể tự thanh tịnh hóa khi nhìn thấy một vị Thượng nhân đã Thanh tịnh,
(View: 40211)
Nguyên xưa ngài Quán Nguyệt Pháp sư đem hai thời kinh khóa tụng: Mai đóng chung và chiều nhập chung lại làm một đại thể làm một tập lớn. - Chú giải: Ngài Quán Nguyệt; Dịch giả: HT Thích Khánh Anh
(View: 4507)
Tôi nghe như vậy: Một thời, đức Thế Tôn trú tại thành phố Śrāvastī (Xá-vệ), nơi rừng cây Jeta (Kì-đà), vườn của Ông Anāthapiṇḍada (Cấp-cô-độc),
(View: 3448)
Bài kinh này trong đoạn cuối (bài kệ 787), câu “không nắm giữ gì, cũng không bác bỏ gì” được Thanissaro Bhikkhu ghi chú rằng ...
(View: 4368)
Lúc bấy giờ, Bồ tát Đại sĩ Akṣayamatir[1] từ chỗ ngồ đứng dậy, vắt thượng y[2] qua một bên vai, chắp hai tay[3] hướng về đức Thế Tôn và thưa rằng:
(View: 3647)
Khi khảo sát về PHÁT BỒ-ĐỀ TÂM, chúng tôi tự nghĩ, chúng ta cần phải biết Bồ-Đề là gì? Bồ-Đề Tâm là thế nào? Phát Bồ-Đề Tâm phải học theo những Kinh, Luận nào?
(View: 4331)
Đại ý bài kinh này Đức Phật dạy chúng đệ tử không nên truy tìm quá khứ, không nên ước vọng tương lai vì quá khứ đã đoạn tận.
(View: 5857)
Evaṃ me sutaṃ, “như vầy tôi nghe”, là lời Ngài Ananda bắt đầu mỗi bài kinh mà có lẽ không Phật tử nào là không biết.
(View: 12752)
Nếu tính từ thời điểm vua Lương Vũ Đế tổ chức trai hội Vu lan ở chùa Đồng Thái vào năm Đại Đồng thứ tư (538), thì lễ hội Vu lan của Phật giáo Bắc truyền đã có lịch sử hình thành gần 1.500 năm.
(View: 3861)
Phật dạy giới này áp dụng chung cho tất cả các Phật tử tại gia, không phân biệt Phật tử này thuộc thành phần hay đẳng cấp xã hội nào.
(View: 2839)
Sa-môn Thích Đàm Cảnh dịch từ Phạn văn ra Hán văn, tại Trung-quốc, vào thời Tiêu-Tề (479-502). Cư sĩ Hạnh Cơ dịch từ Hán văn ra Việt văn, tại Canada, năm 2018.
(View: 5278)
Đức Phật A Di Đà tự thân có ánh sáng vô lượng, chiếu khắp cả mười phương mà không có vật gì có thể ngăn che. Vì vậy nên Phật A Di Đà có nghĩa là Vô Lượng Quang Phật.
(View: 5466)
Nguyên tác Hán văn: Tì-kheo Linh Diệu, tông Thiên Thai soạn - Dịch sang tiếng Việt: Thích Thọ Phước
(View: 5785)
Ngài Buddhaghosa sanh ra và lớn lên nước Magadha, thuộc Trung Ấn Độ, vào thế kỷ thứ V trong ngôi làng Ghosa, gần địa danh nơi đức Phật thành đạo Bodhigaya
(View: 6827)
Nghiên Cứu Về Kinh A Hàm (Ãgama, Sanscrist)
(View: 6652)
Ai nói như sau, này các Tỷ-kheo: "Người này làm nghiệp như thế nào, như thế nào, người ấy cảm thọ như vậy, như vậy".
(View: 5193)
Đây là những điều tôi nghe hồi Bụt còn ở tại tu viện Cấp Cô Độc trong vườn cây Kỳ Đà ở thành Vương Xá.
(View: 5669)
Vào thời Đức Thích-ca-mâu-ni, không có hệ thống chữ viết được phổ biếnẤn Độ. Do đó, những thuyết giảng của Ngài được ghi nhớ và ...
(View: 5572)
"Lại nữa, lúc bấy giờ Mahāmati thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, ngài đã từng dạy rằng: từ lúc Như Lai chứng nghiệm giác ngộ cho đến...
(View: 7337)
Kinh Địa Tạng là một trong các kinh Đại thừa được phổ biến rộng rãi trong quần chúng Việt Nam từ hơn nửa thế kỷ nay song song với các kinh Kim Cương, Di Đà, Phổ Môn...
(View: 7618)
Nguyên tác: Tôn giả Thế Thân (Acarya Vasubandhu) - Hán dịch: Tam Tạng Pháp sư Huyền Tráng; Việt dịch: Tỳ khưu Tâm Hạnh
(View: 4898)
No. 1613 - Nguyên tác: Tôn giả An Huệ; Dịch Hán: Tam Tạng Pháp sư Địa-bà-ha-la; Dịch Việt: Tâm Hạnh
(View: 6045)
Duy thức nhị thập luận, do bồ tát Thế Thân soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường... được thu vào Đại chính tạng, tập 31, No.1590.
(View: 6405)
Bồ-tát Trần Na tạo luận. Tam tạng Pháp sư Huyền Trang phụng chiếu dịch. Việt dịch: Quảng Minh
(View: 8550)
Nghe như vầy, một thời Đức Phật ở nước Xá Vệ ở vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc cùng chúng đại Tỳ Kheo năm trăm vị. Bấy giờ các thầy Tỳ Kheo...
(View: 6172)
No. 699; Hán dịch: Đời Đại Đường, Trung Thiên Trúc, Tam tạng Pháp sư Địa bà ha la, Đường dịch là Nhật Chiếu
(View: 6506)
Đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni, bắt đầu chuyển pháp-luân, độ cho năm vị Tỳ-Khưu là Tôn-giả Kiều-Trần-Như v.v... Sau cùng, Ngài thuyết pháp độ cho ông Tu-bạt-đà-la.
(View: 5447)
Kinh Phạm Võng nằm trong Đại Chánh Tạng, tập 24, ký hiệu 1484, gọi đủ là Phạm võng kinh Lô xá na Phật thuyết bồ tát tâm địa giới phẩm đệ thập
(View: 6198)
Phật thuyết-giảng Kinh Phạm-Võng để dạy về giới-luật, và các pháp cao-siêu vượt thoát được sáu mươi hai kiến-chấp vốn là các tà-kiến đã...
(View: 5758)
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana, vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc). Ở đây,,,
(View: 10673)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Kinh Tập, Kinh số 0434; Dịch Phạn - Hán: Tam Tạng Cát-ca-dạ, Dịch Hán - Việt và chú: Tỳ-kheo Thích Hạnh Tuệ; Hiệu đính: HT Thích Như Điển
(View: 5480)
Đời Đường, Thận Thủy Sa Môn Huyền Giác Soạn; Thánh Tri dịch nghĩa Việt và viết bài học giải...
(View: 5638)
Phật giáo được khai sáng ở Ấn-độ vào năm 589 trước kỉ nguyên tây lịch (năm đức Thích Ca Mâu Ni thành đạo), và đã tồn tại liên tục, phát triển không ngừng trên ...
(View: 6188)
Trong truyền thống Phật giáo Bắc truyền, Dược Sư là một bản kinh thường được trì tụng nhằm mục đích giải trừ tật bệnh, cầu nguyện bình an...
(View: 6090)
Thích-ca là phiên âm của tiếng Phạn. Phiên âm Hán Việt là Năng Nhân. Tức là họ của đấng hóa Phật ở cõi Ta-bà...
(View: 8037)
Kinh chuyển Pháp luân là bài thuyết Pháp đầu tiên của Đức Phật Thích-ca sau khi Ngài đã đắc đạo.
(View: 7124)
Ba Ngàn Oai Nghi Của Vị Đại Tỳ Kheo - Được xếp vào tập T24 - Kinh số 1470 - Tổng cộng kinh này có 2 quyển
(View: 6862)
Những gì xảy ra trong thế giới này đều bị qui luật Nhân quả chi phối. Mọi thứ xuất hiện ở đời đều có nhân duyên. Hạnh phúcthế gian hay Niết bàn của người tu đạo không ra ngoài qui luật ấy.
(View: 7322)
Satipatthana Sutta là một bản kinh quan trọng làm nền tảng cho một phép thiền định chủ yếu trong Phật giáo là Vipassana...
(View: 9679)
Kinh Tứ Thập Nhị Chương là một bài Kinh được truyền bá khá rộng rải ở các Tồng Lâm Tự Viện của Trung QuốcViệt Nam từ xưa đến nay.
(View: 6185)
Bản dịch này được trích ra từ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh Vol. 48, No. 2010. Bởi vì lời dạy của Tổ Tăng Xán quá sâu sắc, súc tích, và bao hàm trong 584 chữ Hán,
(View: 6687)
Dịch từ Phạn sang Tạng: Kluḥi dbaṅ-po, Lhaḥi zla-ba; Dịch Tạng sang Việt: Phước Nguyên
(View: 11008)
Trí Phật là trí Kim – cang, Thân Phật là thân Kim – Sắc, cõi Phật là cõi Hoàng – kim, lời Phật tất nhiên là lời vàng.
(View: 7195)
Bấy giờ Hòa Thượng Vakkali nhìn thấy Đức Phật đang đi đến từ xa, và ông đã cố gắng ngồi dậy.
(View: 11461)
Xin dâng hết lên Tam Bảo chứng minh và xin Quý Ngài cũng như Quý Vị tùy nghi xử dụng in ấn tiếp tục hay trì tụng cũng như cho dịch ra những ngôn ngữ khác...
(View: 10761)
Niệm Phật Tâm Muội do HT Hư Vân soạn, Sa môn Hiển Chơn dịch; Tọa Thiền Dụng Tâm Ký do Viên Minh Quốc Sư soạn, HT Thích Thanh Từ dịch
(View: 7409)
Khi Bồ-tát Quán Tự Tại hành sâu Bát-nhã Ba-la-mật-đa, ngài soi thấy năm uẩn đều KHÔNG, liền qua hết thảy khổ ách.
(View: 23336)
Viết ra các bài Phật học thường thức này, chúng tôi không có tham vọng giới thiệu toàn bộ Phật pháp và chỉ cốt giúp cho các bạn sơ cơ hiểu được một cách đúng đắn, đạo lý năm thừa trong Phật giáo mà thôi.
(View: 6227)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, Kinh văn số 1675. Tác giả: Long Thọ Bồ Tát; Sa Môn Sắc Tử dịch Phạn sang Hán; HT Thích Như Điển dịch Việt
(View: 9937)
Thuở đó đức Phật đang ngự tại rừng Ta-la-song-thọ, ở ngoại ô thành Câu-thi-na, thuộc lãnh thổ trị vì của bộ tộc Lực-sĩ.
Quảng Cáo Bảo Trợ