Logo HHAD 2018 250
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
14,477,640
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Truyền Thuyết Đức Phật Di-lặc

02 Tháng Năm 201806:08(Xem: 696)
Truyền Thuyết Đức Phật Di-lặc
Truyền Thuyết Đức Phật Di-lặc


Phước Nguyên

Truyền Thuyết Đức Phật Di-lặc


Kể từ thời điểm Phật giáo khai sinh và nở hoa khắp mọi miềnthế giới, hễ mỗi khi nói đến hình ảnh một vị Phật xuất hiện trong tương lai, phần lớn người ta thường nhắc đến đầu tiên là Bồ-tát Di-lặc, hình ảnh vị Bồ-tát Đại sĩ được tôn thờ phổ biến trong truyền thống Phật giáo Bắc truyền. Danh hiệu ngài vốn không chỉ quen thuộc đối với Phật tử Đại thừa, mà cũngxuất hiện rất nhiều trong kinh điển Pāli thuộc bộ pháiTheravāda.

1. Danh hiệu

 “Di-lặc 彌勒”, tiếng Sanskrit gọi là Maitreya (Pāli: Metteyya), ngài Huyền Tráng phiên âm là: Mỗi-đát-lị-da 梅呾利耶, dịch làTừ thị 慈氏, xưa phiên là Xưng (Di?)-đế-lệ 稱帝麗 hay Di-lặc 彌勒, thảy đều nhầm với tiếng Sanskrit.

Về danh hiệu “A-dật-đa 阿逸多” cũng gọi A-di-đá, hay A-thị-đa, Sanskrit=Pali: Ajita, Hán dịch: Vô Năng Thắng 無能勝.Danh hiệu này các thư tịch ghi nhận không đồng nhất:

-Truyền thống bộ pháiCăn cứ vào các tài liệu Hán tạng, đại biểu là Trung A-hàm 13, kinh 66. Thuyết bản[1], đơn hành bản tương đương: No. 44, Cổ lai thế thời kinh, cho thấy trong Phật giáo bộ phái, A-dật-đa (Ajita) và Di-lặc (Mettaya), là hai nhân vật khác nhau, cả hai vị này đều là Tỷ-kheo trong chúng Thanh văn được Phật Thích-ca thọ kí, một vị làm vua Chuyển luân và một vị làm Phật.

-Truyền thống Đại thừa: Căn cứ Hán dịch, kinh Pháp hoa 6, phẩm Tùy hỉ công đức[2], đức Phật gọi Di-lặc là A-dật-đa (Ajita). Điểm này cũng được thấy tương đương trong thủ bản Saddharmapuṇḍarīkasūtrambằng tiếng Sanskrit[3], tức đồng nhất hai nhân vật là Di-lặc và A-dật-đa thành một[4].

2. Huyền kí thị hiện

Về kỉ nguyên của đức Phật Di-lặc, trong Trường A-hàm 6– kinh Chuyển luân vương tu hành nói rõ:

Trong lúc nhân loại sống tám vạn tuổi, con gái đến năm trăm tuổi mới gả chồng, và có chín thứ bệnh (…) Vào thời kì ấy thì có đức Phật ra đời hiệu là Di-lặc Như Lai.”[5]

Huyền kí này cũng được tìm thấy tương đương trong kinh 26Cakkavatti (Chuyển luân vương)[6] thuộcDīgha-nikāya:

Khi tuổi thọ loài người lên đến tám vạn tuổi, bấy giờ có Thế Tôn hiệu là Di-lặc xuất hiện ở đời.”

Hệ Pāli còn có một bản thi tụng nhan đề: Anāgatavaṃsa (Đương lai ký), kể riêng về chuyện đức Phật Di-lặc đương lai, được nói là do Trưởng lão Kassapa soạn; tài liệu Journal of the Pali Text Society, 1886.

Huyền ký tương tự cũng được nói đến trong Trung A-hàm 13, kinh 66. Thuyết bản. Ở kinh này có thêm chi tiết khác:

Sau khi nghe đức Thế Tôn huyền ký về sự xuất hiện của một Chuyển luân vương tên Loa[7], bấy giờ tronghội chúng có một vị Tỷ-kheo tên là A-di-đá[8] đứng dậy bạch Phật, ông muốn trong tương lai ông sẽ là vịChuyển luân vương đó: “Bạch Thế Tôn! Một thời gian lâu dài ở vị lai, lúc con người thọ đến tám vạn tuổi, con sẽ có thể được làm vua, hiệu là Loa, là Chuyển luân vương”[9]. Ước nguyện này bị Phật khiển trách: “Ngươi là kẻ ngu si, chỉ nên chết thêm một lần, sao lại mong một lần tái sanh nữa”[10]. Tỷ-kheo này bị quở trách, vì không mong cầu chấm dứt bóng tối của đêm dài sinh tửchứng nghiệm vô thượng Niết-bàn; lại muốn tái sinh nhiều đời kiếp nữa để làm vua chúa. Sau đó Phật lại huyền ký về sự xuất hiện của vị Phật tương lai hiệu Di-lặc, trong triều đại Loa Chuyển luân vương. Bấy giờ tôn giả Di-lặc cũng hiện diện trong hội chúngđứng dậy chắp tay bạch Phậtphát nguyện sẽ là vị Phật được huyền ký đó: “Bạch Thế Tôn! Mộtthời gian lâu dài ở thời vị lai, lúc con người thọ mạng đến tám vạn tuổi, con sẽ thành Phật hiệu là Di-lặc Như Lai”[11]. Phát nguyện này được Thế Tôn tán thán: “Lành thay! Lành thay! Di-lặc, ngươi phát tâm cực diệulà lãnh đạo đại chúng”[12]. Ngay khi ấy, đức Thế Tôn dạy ngài A-nan mang ra chiếc y được dệt bằng kim tuyến do bà Kiều-đàm-di hiến cúng Phật, trao cho Di-lặc: “Này A-nan, ngươi hãy lấy tấm y được dệt bằng sợi tơ vàng mang lại đây. Nay Ta muốn cho Tỷ-kheo Di-lặc”[13]. Tuy ước nguyện tái sinh nhiều đời nữa, nhưng Di-lặc được Phật khen ngợi, vì ước nguyện quảng đại: “vì muốn cứu hộ thế gian và mong cầu thiện lợi và hữu ích, mong an ổn khoái lạc (cho thế gian)” [14].

Tuy có một vài điểm sai khác giữa các truyền thống kinh điển, nhưng điểm được thừa nhận chung và phổ biến: Tỷ-kheo Di-lặc là vị Phật tương lai, sau một thời gian dài, kế tiếp đức Phật Thích-ca để tuyên thuyếtvà truyền thừa Chánh PhápHiện tại, Ngài đang là Bồ-tát trú tại cung trời Đâu-suất (Tuṣita)[15]. Sự hiện hữu này được kinh điển gọi là là nhất sinh bổ xứ Bồ-tát[16], hay nhất sinh sở hệ Bồ-tát[17]. Phật giáo Bộ phái và Đại thừa đều chấp nhận quan điểm này. Địa vị đã chứng nghiệm của Ngài hiện tạiavaivartya-bhūmi, Hán dịch là A-duy-việt-trí địa hay A-bệ-bạt-trí địa (bất thối chuyển).

3. Khảo sát về danh hiệu “A-dật-đa 阿逸多

Bài khảo luận này dành riêng một mục để khảo sát về danh hiệu A-dật-đa, vì như đã nói ở phần 1, danh hiệu này các truyền thống ghi nhận không đồng nhất.

“A-dật-đa”, tiếng Sanskrit: Ajita, Pāli: Ajita, Tây Tạng: Mi tham pa. Hán phiên âm: A dật 阿逸, A thị đa 阿嗜多, A thị đa 阿恃多, A chế đa 阿制多, A di đà 阿夷陀, A thì đa 阿時多, A di đầu 阿夷頭, A dật đa阿逸多, A thệ đảm 阿誓擔, Kha dật đa 呵逸多, A di đa 阿夷多, Ai di đà 哀駘它 v.v… Dịch là: Vô thắng 無勝[18] Vô năng thắng 無能勝[19], Vô tam độc 無三毒[20], Thiên thắng天勝.

Từ Ajita trong tiếng Sanskrit và kinh tạng Pāli là danh hiệu của nhiều nhân vật khác nhau, nên khi truyền sang Trung quốc nó không được phiên âm một cách thống nhất. Thậm chí cùng một người mang tên Ajita, nhưng văn bản Trung quốc có đến ba bốn từ phiên âm khác nhau, tùy theo nhận thức của dịch giả. Dưới đây là sự khảo sát những nhân vật chính yếu, khác nhau, cùng mang danh hiệu Ajita xuất hiện trong văn học Phật giáo.

a. Tên một Tỷ-kheo đệ tử Phật

Trung A-hàm 13 (kinh Thuyết bản)[21], Hiền ngu kinh 12[22] ghi nhận A-dật-đa là danh hiệu một vị đệ tửPhật được huyền kí sẽ trở thành vị Chuyển luân vương tên Loa[23]. Đồng thời kinh cũng ghi rằng có tôn giả Di-lặc, cũng là đệ tử Phật Thích-ca, được huyền kí trở thành Phật Di-lặc.

Như thế, A-dật-đa và Di-lặc từ nguyên ủy là hai nhân vật khác nhau cùng là đệ tử Phật. Sự kiện này, đượcxác nhận cụ thể trong văn hệ Pāli:

Sutta Nipāta (kinh Tập) có kinh Tissamet­tey­ya (Đế-tu Di-lặc)[24], Tissa­met­teyya­māṇava­pucchā (câu hỏi của Đế-tu Di-lặc)[25] và Ajitamāṇavapucchā (câu hỏi của A-dật-đa)[26] xác định sự khác nhau như vậy giữa A-dật-đa và Di-lặc.

-Sutta Nipāta 5.1, có Vatthugāthā[27] còn ghi rằng họ là hai Phạm chí đệ tử của Bāvari:

Bāvarissa vaco sutvā,
Sissā soḷasa brāhmaṇā;
Ajito tissametteyyo,
Puṇṇako atha mettagū

“Nghe lời Bāvari,
mười sáu người đệ tử Bà-la-môn:
Ajita, Tissametteyya,
Punnaka, Mettagu ...”

Theragāthāpāḷi (Trưởng lão kệbài kệ 20. Ajitattheragāthā, do Ajita là tác giả[28].

Aṅguttaranikāya (Tăng chi bộ) có kinh Ajita[29], thuật lại tăng sĩ Ajita hỏi đức Phật: Thế nào là lời nói đúng pháp? Thế nào là lời nói phi pháp?

-Apadāna (1. 397) kể về thượng tọa Ajita và tiền thân của Ajita dưới thời Thế Tôn Padumuttara đượchuyền kí sẽ trở thành đệ tử của Thế Tôn Gotama.

Như vậy, căn cứ các thư tịch được liệt kê ở trên, cùng với nền văn học chú giải của hệ Pāli, chúng ta có thể phác họa lại hình ảnh Ajita như sau:

Ajita thuộc giai cấp Bà-la-môn, sinh ra tại Śrāvastī (Xá-vệ). Cha làm quan thời vua Kośalā, lớn lên Ajita trở thành một ẩn sĩ của Bāvari sống trong vùng Assaka và Mulaka, dọc theo bờ sông Godhāvari củaDakkhinajanapada (cộng hòa miền nam). Sau này, Ajita hội kiến đức Phật, với tư cách ẩn sĩ, đã hỏi Phật về pháp và phi pháp (như được tường thuật trong kinh Ajita của Aṅguttaranikāya). Đến khi Bāvari nhờ Ajita đến thưa hỏi đức Phật về việc bị vỡ đầu, Ajita được Phật giải đáp, rồi ông xin được xuất giatu tập vàchứng quả A-la-hán.

Điểm cần chú ý ở đây là nhân vật Ajita này lại khác với Tissametteyya. Chính kinh Thuyết bản dẫn trên, đã nói rõ tôn giả A-di-đa (Ajita) và Di-lặc (Mettaya) là hai đệ tử của Phật Thích-ca. Đoạn kinh này cũng đượcĐại tỳ-bà-sa luận 178[30], dẫn và giải thích, có hai nhân vật này khác nhau, một vị gọi là Bí-sô A-thị-đà 阿氏多, còn vị kia thì gọi là Bồ-tát Từ thị 慈氏.

blank
Một bức tượng của Bồ Tát Di Lặc, tại chùa Kōryū-ji


b. Tên tự của đức Phật Di-lặc.

Như đã trình bày, mặc dù tên A-dật-đa và Di-lặc là để chỉ cho hai vị đệ tử khác nhau của đức Phật. Nhưng trong Phật giáoĐại thừa, đã đồng nhất hai vị này thành một. Ngay từ thời La-thập, sự đồng nhất này đã xảy ra:

Chú Duy-ma-cật kinh 1 (Phật quốc phẩm), Tăng Triệu ghi lạiquan điểm của La-thập: "Di-lặc là họ, A-dật-đa là tự, là con của một người Bà-la-môn ở Nam Thiên Trúc"[31].

Sự đồng nhất này sau đó đã trở thành một định lệ cho các chú sớ sau này:

-Nhất thiết kinh âm nghĩa 71, Đường, Tuệ Lâm soạn: "A-thị-đa, đây dịch là Vô thắngCựu dịch A-kỳ-đa, hoặc A-dật-đa đều là sai. Đó là tên đời nay của Di-lặc"[32].

-A-di-đà kinh sớ của Khuy Cơ: "Bồ tát A-dật-đa, tân dịch dựa vào ‘Xưng tán tịnh độ kinh’ dịch là Vô Năng Thắng hoặc gọi là Di-lặc, đây dịch là Từ thị, do ngài hay tu tập lòng từ, hay nhập định từ, nên gọi là Từ thịtu tập lòng từ tối thắng, nên gọi Vô Năng Thắng"[33].

Tân dịch đại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh âm nghĩa 1: "A-dật-đa gọi cho đúng là A-chế-đa, đây dịch là Vô Năng Thắng"[34].

Như vậy, theo truyền thống Đại thừa Phật giáo, A-dật-đa chính là tên chữ của Bồ-tát Di-lặc.

c) Tên vị A-la-hán thứ mười lăm trong mười sáu vị A-la-hán.

Đại Tạng Kinh 49, số hiệu 2030, Đường, Huyền Tráng dịch, Đại A-la-hán Nan-đề-mật-đa-la sở thuyết pháptrụ ký, 1 quyển[35] trang 12c7- 14c22, có kể một câu chuyệntóm tắt như sau:

A-la-hán Nan-đề-mật-đa-la ở nước Sư tử[36], khi gần viên tịch đã nói cho đệ tử mình biết rằng, từ lâu đức Thích-ca Thế Tôn đã dặn dò và kí thác mười sáu vị A-la-hán trở lại để hộ trì Chánh Pháp, mà vị thứ mười lăm danh hiệu là A-thị-đa sẽ ở tại đỉnh Linh Phong cùng với 1500 vị A-la-hán thân thuộc để hộ trì.

Huyền thoại mà Pháp trụ kí này nói tới, cũng thấy xuất hiện trong ĐTK Tây Tạng, thông trật đệ 64Wa, No.231, trang 1b1-112b7, Ḥphags-pa dkon-mchog sprin shes-bya-ba theg-pa chen-poḥi mdo; do Rin-chen ḥtsho và Chos-ñid tshul-khrims dịch[37]; Hán tương đương, ĐKT 16, số hiệu 0658, Bảo vân kinh 7, Lương, Mạn-đà-la-tiên dịch[38].

Kể từ khi Huyền Tráng dịch Đại A-la-hán Nan-đề-mật-đa-la sở thuyết pháp trụ kýtín ngưỡng về mười sáu vị A-la-hán này phát triển hưng thịnh và trở thành đề tài của nhiều tác phẩm hội họa và điêu khắc, cũng như văn họcthi ca ngợi khen, mà hiện nay ở Trung quốc, người ta đã tập thành trong La hán đồ tán tập[39]. Tại đây, hình tượng La-hán A-dật-đa được vẽ thành một hình dáng khắc khổ, diện mạo già nua, má hóp vào, hai tay ôm đầu gối, dáng nhìn cuộc đời một cách thiểu não, nên Đức Thanh đã vịnh một bài thơ như sau (Lê Mạnh Thát dịch):

Nhọc gì ôm gối,
Lồi lõm đầu non,
Miệng hàm vừa mở,
Dáng lưỡi khá dòn,
Dùng mắt thuyết pháp,
Mở nhắm không thường,
Thay nhau sáng tối,
Sáng ấy sao vương.

Ở Việt Namtín ngưỡng mười sáu vị A-la-hán này được phát triển không kém. Chùa Tây Phương (Hà Nội), hiện có tôn tượng mười sáu vị A-la-hán này rất nổi tiếng. Tại đây, tượng của vị A-la-hán A-dật-đa này được gọi là Di-lặc và điêu khắc đúng theo hình mẫu đức Phật Di-lặc, tức diện mạo vui vẻ, đầy đặn, bụng phệ, ngực để trần, hình ảnh khác hoàn toàn với những hình vẽ La-hán này tại Trung quốc[40].

4. Bồ-tát Di-lặc dạy Thiện Tài phát Bồ-đề tâm

Bồ-đề tâm là gì?

Bồ-đề tâm 菩提心, tiếng Sanskrit gọi là Bodhicitta, Tib. byang chub sems, nói đủ là anuttara-samyak-saṃbodhi-cittavô thượng bồ-đề tâm 無上菩提心, hay 阿耨多羅三藐三菩提心 a-nậu-đa-la tam- miệu-tam-bồ-đề tâm, tức tâm nguyện thành tựu sự giác ngộ tối thượng:

Bồ đề tâm, đó là chí nguyện nóng bỏng của một chúng sinh tự thấy mình đang sống trong cảnh tối tăm, giữa đọa đày khổ nhục, mong tìm một con đường sáng không những để giải thoát bản thân khỏi những đe dọa áp bức mà còn là để giải thoát cho tất cả những người cùng cảnh ngộ.

Bồ-đề tâm, đó là ý chí kiên cường bất khuất của một người bị cột trói trên ngọn lửa rực cháy, bị chà đạpdưới những sức mạnh tàn khốc của tham vọng điên cuồng của chính ta và của một tập thể ma quái chung quanh ta.”[41]

Do vậy, lời Phật dạychúng ta cần ghi nhớ:

“Vui cười gì, thích thú gì, giữa ngọn lửa không ngừng thiêu đốt?
Bị bao phủ trong bóng tối, sao không đi tìm ngọn đuốc?”[42]

Không có tâm nguyện Bồ-đề đó, không có ý chí giác ngộ đó, thì quả vị Phật thừa không thể kì vọng được, cũng không hơn một tiếng nói suông của một người mê sảng trong giấc ngủ ngày và sự an lạc và giải thoáttrong hiện tại chỉ là một miền đất hứa xa xôi, không tưởngthần thoại hoang đường, mà không bao giờ có thể tìm thấy trong thế gian này.

Nhưng tâm nguyện Bồ-đề chỉ có thể được phát khởi khi gốc rễ của tín tâm đã được gieo trồng cẩn thận. Ngài Nāgārjuna trong Đại trí độ nói: «Phật pháp như đại hải, có thể vào bằng tín, có thể vượt qua bằng trí»[43], và cũng trong luận này ngài đã minh giải về ý nghĩa của Bồ-đề tâm: “Vị Bồ-tát sơ phát tâm, lấy vô thượng Bồ-đề làm đối tượng, nói rằng: Mong tôi sẽ thành Phật. Đó gọi là Bồ-đề tâm.”[44]

Khi đề cập về ý nghĩa độc đáo của Bồ-đề tâm và phát Bồ-đề tâm, có lẽ không giải thích nào lý thú về đề tài này hơn kinh Hoa nghiêm, thông qua sự thuyết giảng của Bồ tát Di-lặc cho Thiện Tài đồng tử:

Bồ-đề tâm là hạt giống của hết thảy Phật PhápBồ-đề tâm là ruộng phước vì nuôi lớn pháp bạch tịnh. Bồ-đề tâm là cõi đất lớn, vì nâng đỡ hết thảy thế gianBồ đề tâm là tịnh thủy, vì rửa sạch tất cả cáu bợn phiền não, Bồ-đề tâm ví như gió lớn, vì nó thổi khắp thế gian không bị cản ngại; Bồ-đề tâm ví như lửa lớn, vì nó có khả năng thiêu rụi hết thảy rừng củi tà kiếnBồ-đề tâm ví như mặt trời thanh tịnh, vì nó soi chiếu khắp cảthế gianBồ-đề tâm ví như trăng rằm, vì các pháp thanh tịnh đều viên mãnBồ-đề tâm ví như ngọn đènsáng, vì có khả năng phóng ra các loại ánh sáng Chánh PhápBồ-đề tâm ví như mắt sáng, vì thấy hết thảy cùng khắp mọi chốn an nguy; Bồ-đề tâm ví như con đường lớn, vì khiến tất cả đều được đi vào kinh thànhđại trí,…”[45]

Thiết lập và toàn thiện Bồ-đề là cơ sở thành tựu bất khả tư nghị nguyện lực của Bồ-tát hàng Pháp thân, nghĩa là những ai đã khởi hành trên cỗ xe Bồ-tát, đã trải qua một thời gian dài tu tậptích lũy được nhữngkinh nghiệm và hành trang thiết yếu, sẽ thấy rõ được thể tính của thế gianthông đạt sâu xa giáo nghĩa, thể nhiệm được Pháp tính siêu nghiệm.

Để hiểu rõ về tính đặc sắc của Bồ-đề tâm như được diễn tả trong kinh Hoa nghiêm (dẫn trên), chúng ta có thể đọc thêm một đoạn khác trong phẩm «Nhập pháp giới», đoạn Bồ-tát Di-lặc khen ngợi Thiện Tài đồng tử:

Với những kẻ trôi nổi trong bốn dòng thác lũ, con người chân thật này muốn làm con thuyền đại pháp đưachúng sinh vượt qua biển cả. Với những kẻ chìm ngập trong vũng lầy của kiến chấp, người này muốn làm chiếc cầu đại pháp. Với những kẻ tối tăm ngu dốt, người là ngọn đèn đại trí. Với những người lạc lối trong sa mạc sanh tử, người muốn làm kẻ chỉ bày lối đi của bậc Thánh…”[46]

Sau khi Bồ-tát Văn-thù giới thiệu Bồ-đề tâm và chỉ thị Nhất thừa đạoThiện Tài trải qua năm mươi mốt địa tích, tham vấn đạo lý giác ngộ và yếu chỉ thực tập trên quá trình tu chứng của Đại thừa với các vị Đại sĩ. Trong hành trình đó, chàng thanh niên ấy hội kiến Bồ-tát Di-lặc, lại một lần nữa được nghe giảng luận vềBồ-đề tâm, bấy giờ bằng chí nguyện thâm thiết của mình, Thiện Tài đồng tử đã hoàn toàn thiết lập vững chắc trong chí nguyện Đại thừa, và đã thực hiện cụ thể chí nguyện ấy. Ước nguyện và hành vi của Thiện Tài, cả hai không còn cách biệtVì vậylời khen ngợi của Bồ tát Di- lặc, chính là sự tán dương tâm nguyệnBồ-đề và sự thành tựu tâm nguyện ấy của Thiện Tài đồng tử. Sau khi nghe những lời khen thưởng từ Bồ-tát Di-lặc, bản thân Thiện Tài hoan hỷ phấn chấn, cung kính chắp tay hướng về Bồ tát Di-lặc, rồi bất giácnhìn lại hai bàn tay của mình thấy đầy những hoa thơm đang nở rộ. Đó phải chăng chính là hương hoa của sự thành tựu tâm nguyện Bồ-đề?

5. Kết luận

Kinh nói: “Bấy giờ Phật nói với Bồ-tát Di-lặc: Này Di-lặc, nay ta đem Pháp giác ngộ vô thượng chính đẳng chính giác đã tập thành trong vô lượng kiếp phó chúc cho ông. Vào thời mạt thế, sau khi Phật diệt độ, ông nên dùng khả năng thần thông để giảng truyền rộng rãi những kinh như vậy nơi cõi Diêm-phù-đề, chớ để bịđoạn tuyệt.”[47]

Vì sao đức Phật Thích-ca đem Chánh Pháp phó chúc cho đức Di-lặc Đại sĩ?

Vì Di-lặc (Maitreya) là hiện thể của phẩm tính maitrī (Pāli mettā): lòng từ, nội hàm hiểu theo ngôn ngữ ngày nay là sự tử tế, hay lòng nhân từ độ lượng. Do y vào phẩm tính này, nên trong hết thảy sự hóa độ chúng sinh, ngài luôn dìu dắt họ bằng lòng từ, khiến họ phát Bồ-đề tâm, hướng đến Bồ-tát đạo. Hễ khi nào còn cóchúng sinh sung mãn tâm từ khởi hành trên cỗ xe Bồ-tát, thì khi ấy Chánh Pháp không thể bị đoạn diệt.

Vì Di-lặc là hiện thể của phẩm tính Ajita: “Bất khả chiến bại”. Chiến đấu với cái gì mà không bị chiến bại? Chiến đấu với với phiền não của tự thân, chiến đấu với rắn độc: tham-sân-si, dẹp yên được độc tố nhiễm ô(Vô tam độc), đạt đến sự thanh tịnh và lòng từ không ai hơn được (vô năng thắng) và không bao giờ bị gục ngã dưới chân ma quânChánh Pháp là đại biểu cho chân lý, là ngọn cờ của sức mạnh đánh bại phiền não. Hễ khi nào còn hiện thân của phẩm tính Aijta, thì khi ấy Chánh Pháp không bao giờ đoạn tuyệt.

Cho nên việc lễ bài, tôn kính và hành trì danh hiệu Di-lặc, chính là hành trì theo những phẩm tính siêu việtcủa ngài. Truyền thuyết, có một bài chỉnh cú luôn được gán cho đức Phật Di-lặc:

彌勒真彌勒,
分身千百億,
時時示時人,
時人自不識.[48]

Di-lặc chân di lặc,
Biến thể trăm ngàn ức,
Luôn luôn hiện trước người,
Người thường tự chẳng biết”.

Đức Phật Di-lặc không chỉ thường trú ở Thiên cung Đâu-suất xa xôi, mà ngài luôn hiện hữu nơi tâm thứccủa những hữu tình có hành vi cử chỉ của lòng từ mẫn song vận với Bồ-đề tâm. Cho nên, bất cứ khi nào và bất cứ ở đâu, có người phát triển tâm từthực hành hạnh hỷ xả, kiên lập chí nguyện thành tựu bốn vô lượng tâm: từ, bi, hỷ, xả, thì lúc đó và nơi đó, có đức Phật Di-lặc biến thể xuất hiện, hướng dẫn chúng sinhtrực diện chiến đấu với ma quân phiền não, để họ không bao giờ bị chiến bại trước một chút phù danh, một chút lợi dưỡng hay những ân huệ dư thừa của thế tụcLòng từ và sự chiến thắng ấy, là những đóa hoa hương sắc, là những biểu hiện cụ thể của một mùa xuân Chánh Pháp, một mùa xuân mà dòng suối Từ vẫn âm thầm tuôn chảy, làm cho Phật chủng Di-lặc cũng từ đó mà luân lưu bất tuyệt trên thế gian này.

P.N



[1] T01n0026, tr. 510a01. Xem kinh văn dẫn ở phần b.

[2] T9n262, tr. 46b27.

[3] Buddhist Sanskrit Texts, 6 (Vaidya, tr. 205): atha khalu bhagavān Maitreyaṃ...etad avoca: yaḥ kaścid Ajita kulaputro...

[4] Thảo luận chi tiết vấn đề này, xem mục 3.

[5] T01n0001, tr. 041c29.

[6] PTS. D.iii. 76: Asītivassasahassāyukesu, bhikkhave, manussesu metteyyo nāma bhagavā loke uppajjissati.

[7] Loa 螺. Pāli: Saṅkha (vỏ sò).

[8] A-di-đa 阿 夷 多. Pāli: Ajita. Trong bản kinh này, A-di-đa (Ajita) và Di-lặc (Mettaya) là hai nhân vật khác nhau.

[9] Bản Việt, Trung A-hàm 1, TT. Tuệ Sỹ dịch (2013), tr. 585.

[10]  ibid., tr. 585.

[11] ibid., tr. 588-589.

[12] ibid., tr. 589.

[13] ibid., tr. 591.

[14] ibid., tr. 592.

[15] Đâu suất Thiên vương 兜率天王. Htr.: Đổ-sử-đa Thiên vương 睹史多天王. VCS: “Tầng thứ tư trongsáu tầng trời Dục giới. Đây dịch là Tri túc. Nghĩa là, hưởng thụ các dục lạc nhưng biết đủ một cách sâu xa.” VKN: Saṃtuṣitadevaputra. (Dẫn bởi Duy-ma-cật sở thuyết, bản Việt, Tuệ Sỹ, Ch. 4, cht. 3)

[16] skt. eka-jāti-pratibaddhā bodhisattvāḥ, xem cht. 16, dưới.

[17] Nhất sinh sở hệ 一生所繫, Skt. ekajātipratibandha, Tib. skye ba gcig gis thogs pa, chỉ còn bị ràng buộcmột đời hay một lần sinh nữa. Từ này không có tương đương trong bản Pāli.

[18] La-thập dịch, Duy-ma-cật 1, T14, no. 475, p. 537b14; Tiểu phẩm Bát-nhã 8, T08, no. 227, p. 572a8.

[19] Đại Bát-nhã 576, Huyền Tráng dịch, T07n0220gp.0975b18.

[20] A-di-đà kinh nghĩa kí 1Trí Nghĩ dịch, T37, no.1755, p.306b24.

[21] Xem Cht.1, dẫn thượng.

[22] T04, no. 202, p. 429c8tt.

[23] Saṅkha, Nhượng Khư, Xem Cht.6, dẫn thượng.

[24] Snp 4.7, Tissametteyya (Snp 160).

[25] Snp 5.3, Tissametteyyamāṇavapucchā (Snp 199).

[26] Snp 5.2, Ajitamāṇavapucchā (Snp 197).

[27] Snp 5.1, Vatthugāthā (Snp 190).

[28] Thag 1.20. Ajitattheragāthā, Thag 4.        

[29] PTS. A. 5. 229.

[30] T27n1545, tr. 893c7.

[31] T38, no. 1775, p. 331b8-9: 彌勒菩薩。什曰。姓也。阿逸多字也。南天竺波羅門之子.

[32] T54, no. 2128, p. 768a20: 阿氏多 (常尒反此云無勝舊言阿耆多或作阿逸多皆訛也是彌勒今生名).

[33] T37, no. 1757, p. 318b13-15: 阿逸多菩薩者,依新譯《稱讚淨土經》翻為無能勝或言彌勒,此云慈氏,由彼多修慈心多入慈定故言慈氏,修慈最勝名無能勝.

[34] A091, no. 1066, p. 354a6: 阿逸多 (正云阿制多此曰无能勝也).

[35] T49, No. 2030: 大阿羅漢難提蜜多羅所說法住記.

[36] Nay là nước Tích Lan.

[37] Tạng Peking, འཕགས་པ་དཀོན་མཆོག་སྤྲིན་ཞེས་བྱ་བ་ཐེག་པ་ཆེན་པོའི་མདོ (Thánh Bảo vân đại thừa kinhĀrya-ratnamegha-nāma-mahāyānasūtra), Mdo-sna-tshogs (dsu)1-121a.

[38] T16n0658: 寶雲經 7, 梁 曼陀羅仙譯.

[39] 羅漢圖讚集 Rakan zusanshū / [Tetsujō sanhen], [Japan: s.n.], Bunkyū 2 [1862] [Japan: s.n.], 文久2 [1862], 3 quyển.

[40] Ngoài ra còn có một số nhân vật khác có tên Ajita, nhưng không quan trọng nên không trình bày ở đây.

[41] Giải thích bởi TT.Tuệ Sỹ, Thắng Man giảng luận (2012), tr. 34.

[42] Dh. l46: ko nu hāso kimānando, niccaṃ pajjalite sati / andhakārena onaddhā, padìpaṃ na gavesatha. Văn dịch dẫn bởi Thắng Man, ibid., tr. 34.

[43] Đại 25, tr. 63a1.

[44] Đại 25, tr. 362c28.

[45] Cf. Gaṇḍa, tr. 39617ff. bodhicittaṃ hi kulaputra bījabhūtaṃ sarvabuddhadharmāṇām / kṣetrabhūtaṃ sarvajagacchukladharmavirohaṇatayā, dharaṇibhūtaṃ sarvalokapratiśaraṇatayā, vāribhūtaṃ sarvakleśamalanirdhāvanatayā, vāyubhūtaṃ sarvalokāniketatayā, agnibhūtaṃ sarvadṛṣṭyupādānakakṣanirdahanatayā, sūryabhūtaṃ sarvasattvabhavanāvabhāsanatayā, candrabhūtaṃ śukladharmamaṇḍalaparipūraṇatayā, pradīpabhūtaṃ dharmālokakaraṇatayā, cakṣurbhūtaṃ samaviṣamasaṃdarśanatayā, mārgabhūtaṃ sarvajñatānagarapraveśanatayāTham chiếuHoa nghiêm(Phật), quyển 59, Đại 9, tr. 775.

[46] Gaṇḍa, tr. 3955: eṣa hi kulaputrāḥ satpuruṣaḥ sattvānāṃ catur oghottaraṇtāyai mahādānaṃ mahādharmanāvaṃ samudānetu-kāmo, dṛṣṭipaṅkanimagnānāṃ mahādharmasetuṃ sthāpayitu- kāmo, mohāndhakāraprāptānāṃ jñānālokaṃ kartukāmaḥ saṃsāra kāntārapranaṣṭānām āryamārgaṃ saṃdarśayitukāmaḥ. Cf. Hán dịch, Hoa nghiêm (Thật), Đại 10, tr. 429a8.

[47] Duy-ma-cật sở thuyết, bản Việt, Tuệ Sỹ dịch, phẩm Chúc lụy, tr. 293.

[48] X64, no. 1261, p. 408c10-11; X68, no. 1315, p. 273c2-3.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 8151)
Nếu tính từ thời điểm vua Lương Vũ Đế tổ chức trai hội Vu lan ở chùa Đồng Thái vào năm Đại Đồng thứ tư (538), thì lễ hội Vu lan của Phật giáo Bắc truyền đã có lịch sử hình thành gần 1.500 năm.
(Xem: 439)
Mục tiêu cao cả của đạo Phật là dạy con người tu tập để thoát khổ, giác ngộ và giải thoát.
(Xem: 152)
Phật giáo du nhập Nhật Bản vào thế kỷ thứ VI, sau đó trải qua thời kì Nara (710~785), thời kì Heian (794~1192) cho đến thời kì Kamakura (1192~1380), trước sau khoảng 700 năm, rồi phát sinh rất nhiều tông phái.
(Xem: 172)
Tổ Quy Sơn dặn: “Nói ra lời nào phải liên hệ với kinh điển. Đàm luận gì, phải xét lại lời người xưa”.
(Xem: 207)
Nhiều học giả phân vân là làm thế nào và tại sao những nhà Đại chúng bộ (Mahāsāṅghika) đã hình thành nên khái niệm về một Đức Phật siêu việt...
(Xem: 330)
Hoa Sen Diệu Phápgiáo pháp được thuyết giảng trong Kinh Pháp Hoa. Quang Trạch giải thích Diệu Pháp là nhân của đạo Nhất Thừa, là quả của đạo Nhất Thừa.
(Xem: 186)
Con người sống qui tụ lại thành một xã hội, và phát triển tập thể này rộng lớn dần dần thành một quốc gia.
(Xem: 1208)
Trước khi xác định Phật Giáo như là một hệ thống tư tưởng triết học (Buddhism as a philosophy) hay như là một tôn giáo (Buddhism as a religion), chúng ta sẽ tìm hiểu triết học là gì ? và Phật giáo là gì ?
(Xem: 178)
Lục độ Ba-la-mật-đa/ Sáu phương pháp tu Ba-la-mật-đa (Six Paramitas) là 6 pháp tu để giải trừ các khổ ách của Đại thừa Phật giáo.
(Xem: 236)
Theo quan điểm của Đại hoàn thiện thì ánh sáng trong suốt hiển hiện một cách tự nhiên và được gọi là "hoàn-toàn-tốt"
(Xem: 364)
Đức Phật ra đời vào năm 624 trước tây lịch tại nước Ấn Độ. Ngài thuyết pháp 49 năm. Phật giáo đã trở thành quốc giáo, vì các vua, các quan và dân chúng đa phần đều theo đạo Phật.
(Xem: 318)
Y Kinh Kinh Cang Bát Nhã Ba La Mật: Đức Thế Tôn Như Lai hỏi ngài Tu Bồ Đề: Như Lainhục nhãn không? Ngài Tu Bồ Đề thưa:
(Xem: 1116)
Cuốn sách “Luân Hồi trong Lăng Kính Lăng Nghiêm” được ra mắt cách đây 9 năm (2008), in lần thứ hai, ba và tư vào năm 2012, 2014 & 2016 tại Nhà xuất bản Phương Đông, và năm nay (2018) cũng tại NXB Hồng Đức
(Xem: 418)
điều chắc chắn là làm người, ai cũng có ý thức về tội lỗi. Điều này là không đúng, điều này là không tốt, điều này là không đẹp.
(Xem: 377)
Tựa đề của khảo luận này phát xuất từ tồn nghi của một pháp hữu trong khi dịch lại bản kinh Tập (Sutta Nipāta) ở văn hệ Nikāya.
(Xem: 733)
Khái niệm ‘nghiệp’, thật ra, đã có mặt trong văn học Bà-la-môn giáo từ rất lâu trước khi Đức Phật xuất hiện ở đời.
(Xem: 400)
Vũ trụ, con người hình thành như thế nào và tương lai sẽ ra sao? Câu hỏi chưa bao giờ được xếp lại. Khoa học lượng tử luôn tiên phong...
(Xem: 352)
rong lịch sử tư tưởng Ấn-độ, thuyết Trung đạo đã mang lại cho tư tưởng giới đương thời một không khí hoạt bát[1].
(Xem: 517)
Bản chất của ánh sáng trong suốt, mang tính cách nền tảng và rạng ngời, là cội nguồn tối hậu của tất cả mọi cấp bậc tri thức...
(Xem: 522)
Chánh Pháp là gì? Phật Pháp được chia thành ba thời kỳthời Chánh Pháp, thời Tượng Pháp, và thời Mạt Pháp.
(Xem: 1006)
Ông trị vì từ năm 269 TCN đến năm 232 TCN thuộc đời thứ 3 của triều đại Maurya. Đế chế của ông rộng lớn gần như tất cả tiểu lục địa Ấn Độ trãi dài từ Đông sang Tây.
(Xem: 644)
Trong Kinh Kim Cang, Phật dạy có 4 tướng: “Ngã – Nhân – Chúng Sanh – Thọ Giả”. Khi còn phàm phu, chấp thân này là thật là bền vững,
(Xem: 672)
Đạo Phật đang phát triển rộng rãi đến nhiều tầng lớp. Rất nhiều các bậc tri thức, các nhà khoa học chân chính, đến cả những người ...
(Xem: 1241)
Kiếp sống của mỗi con người sinh ra ở thế giới Ta Bà này, dù thọ mạngdài hay ngắn, nhìn chung có thể phân chia làm nhiều giai đoạn.
(Xem: 562)
Phép luyện tập thiền định được hỗ trợ bởi sự thực thi các hành động vị tha, các hành động đó đồng thời cũng được thúc đẩy bởi tình thương yêu và lòng từ bi.
(Xem: 474)
Nếu đủ sức duy trì một cách đúng đắn sự nhận biết tâm thức thần bí nhất thì kết quả mang lại từ phép luyện tập đó sẽ trợ lực các bạn rất nhiều
(Xem: 635)
Thời-không vũ trụ chứa hàng triệu, tỉ, hàng ức cho đến không máy móc nào đếm hằng hà sa số hành tinh như trái đất mới biết con ngườimột sinh thể gần như bằng không.
(Xem: 742)
Trong các bài kinh thuộc hệ A Hàm hay kinh Đại Bát Niết Bàn v.v… Phật có nói đến địa ngục. Đề Bà Đạt Đa, Tì kheo Thiện Tinh, vua Lưu Ly v.v… đều đọa vào địa ngục ngay khi chết.
(Xem: 576)
Xét về niên đại, bản kinh có mặt ở thời Hậu Hán (23-220), xuất hiện trong Cao Tăng Truyện quahành trạng của ngài Nhiếp-ma-đằng (攝摩騰)[2].
(Xem: 526)
Thể dạng lắng sâu thường xuyên bên trong tâm thức thần bí nhất chỉ có thể thực hiện được với những người có một khả năng thật bén nhạy.
(Xem: 1270)
Bài viết này sẽ khảo sát một số thắc mắc thường gặp về Thiền Tông, hy vọng sẽ tiện dụng cho một số độc giả còn nhiều nghi vấn.
(Xem: 867)
Thức Thứ Tám hay A Lại Ya là thức chủ trong 8 thức. Thức nầy có nhiều cách gọi khác nhau để chỉ về nhiệm vụ của mình. Tựu chung thức nầy có 3 việc chính là: Năng tàng, Sở tàng và Ngã ái chấp tàng.
(Xem: 920)
Khi còn vướng mắc trong sự tạo tác triền miên của khái niệm, chẳng hạn như suy nghĩ về cái đúng, cái sai, v.v. , thì các bạn sẽ không thể nào bước vào con đường tu tập về
(Xem: 832)
Học phái dịch thuật xưa của Phật giáo Tây Tạng đưa ra nhiều cách luyện tập dựa vào các phương pháp khác biệt nhau, gọi là các "cỗ xe"/thừa.
(Xem: 1443)
Thần tài trong Phật giáo, cụ thểPhật giáo Bắc truyền đã vay mượn giữa hình ảnh Bố Đại hòa thượng và các truyền thuyết về thần tài Trung Hoa, để tổng hòa nên một vị thần tài có nguồn gốc ngoài Phật giáo.
(Xem: 1318)
Thời Đức Phật tại thế, Ấn Độít nhất mười sáu tiểu vương quốc, mỗi vương quốc đều có ngôn ngữ hay phương ngữ riêng, nhưng có lẽ người dân của mỗi nước đều có thể giao tiếp và hiểu nhau được.
(Xem: 840)
Trong các kinh sách thừa hưởng từ [Phật giáo] Ấn Độ thì nguyên tắc căn bản đó lúc thì được gọi là "tâm thức tự tại
(Xem: 1402)
Kinh Hoa Nghiêm tiếng Sanskrit là Avatamsaka, tiếng Nhật là Kégon Kyo. Kinh nầy bằng tiếng Sanskrit do Bồ Tát Long Tho (Nagarjuna) soạn vào khoảng thế kỷ thứ 2 Tây Lịch.
(Xem: 885)
Con người muốn có cuộc sống an lạchạnh phúc, cần phải tu nhơn tạo phước, chứ không phải chỉ cầu nguyện...
(Xem: 855)
Phát huy sự chú tâm đúng đắn hướng vào một điểm nhằm mục đích gì? Việc luyện tập đó không nhất thiết là chỉ để giúp tâm thức đạt được một mức độ tập trung thật cao...
(Xem: 1263)
Đức Đạt Lai Lạt Ma Nói Về Phật Giáo Ứng Dụng - Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma, Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 1244)
A Dục, Asoka (Sanskrit). Khi đức Phật Thích ra đời, Vua A Dục là một đứa trẻ, trong lúc đang chơi đức Phật đi ngang qua, đứa trẻ đem cát mà coi như cơm cúng dường đức Phật...
(Xem: 1395)
Hàng ngày các Phật tử có thể “Xưng danh hiệu” hay “Niệm danh hiệu” của chư Phật, tức là đọc tên của chư Phật và tưởng nhớ đến các ngài.
(Xem: 1054)
Trong Phật giáo, giải thoát hay thoát khỏi luân hồi là một đề tài vô cùng lớn lao. Ngay cả những người Phật tử đã học qua giáo lý, cũng mường tượng sự giải thoát như ...
(Xem: 948)
Như Lai có thể diễn tả những gì Ngài muốn bằng bất kỳ ngôn ngữ nào
(Xem: 1184)
Thuật Ngữ nầy có liên hệ đến rất nhiều Thuật Ngữ khác trong Kinh Điển Phật Giáo như: Thủy Giác, Chân Như, Như Lai Tạng, Pháp Tánh, Pháp Giới, Niết Bàn, Pháp Thân, Phật Tánh, Giải Thoát Thực Chất, Toàn Giác v.v…
(Xem: 806)
Chánh pháp của Đức Phật hay Đạo Phật được tồn tại lâu dài, đem lại hạnh phúc an lạc cho chúng sanh, chư thiênloài người.
(Xem: 774)
“Đạo Phật nhấn mạnhtu tập giúp chúng ta loại bỏ những tà kiến, chứ không phải là nơi tập hợp các hí luận”.
(Xem: 792)
Kinh Niệm Xứ (satipaṭṭhānasutta) là kinh thu gọn của Kinh Đại Niệm Xứ (Mahāsatipaṭṭhānasutta). Kinh này là một kinh rất quan trọng trong việc giải thích cách thực hành bốn phép quán
(Xem: 1498)
Bài viết này sẽ phân tích Bát Nhã Tâm Kinh dưới cái nhìn bất nhị, hy vọng sẽ làm sáng tỏ bài kinh cốt tủy này như một lối đi của Thiền Tông
(Xem: 1218)
Đọc “Chú Lăng Nghiêm-Kệ và giảng giải“ Của Hòa Thượng Tuyên Hóa, do TT Thích Minh Định dịch từ Hoa ngữ sang Việt ngữ
(Xem: 1252)
Đa số Phật Tử cầu được cứu độ, giải thoát khỏi khổ đau, và giác ngộ nhưng vẫn mâu thuẫn, chấp luân hồi, luyến tiếc cõi trần nên nghiệp thức luôn luôn muốn trở lại cái cõi đời, chấp khổ đau rồi tính sau.
(Xem: 1067)
Đạo Phật khai sinh ở Ấn Độ mà cũng hoàn toàn biến mất ở Ấn Độ; nhưng nhiệt tâm hoằng pháptruyền bá của thế hệ các tăng sĩ tiền bối...
(Xem: 1165)
Bài viết này để nói thêm một số ý trong Bát Nhã Tâm Kinh, cũng có thể xem như nối tiếp bài “Suy Nghĩ Từ Bát Nhã Tâm Kinh”
(Xem: 1105)
Nhân duyên là thực lý chi phối thế gian này. Không có một pháp nào hiện khởi hay mất đi mà không theo qui luật “Có nhân đủ duyên mới có quả”.
(Xem: 1191)
Việc dịch lại Tâm Kinh của Thiền sư Nhất Hạnh tuy theo ý thầy là dành riêng cho các đệ tử của thầy trong Làng Mai khi thầy nói với “các con” của thầy...
(Xem: 1027)
Sau khi Đức Phật tịch diệt được khoảng 150 năm thì giáo pháp của Ngài tách ra hai đường hướng:
(Xem: 1226)
Giúp đỡ người nghèo khó là một phẩm tính cố hữu của con ngườixã hội loài người. Phẩm tính này vốn tồn tại từ thời xa xưa và vẫn được duy trì trong xã hội hiện đại.
(Xem: 1577)
Làm Thế Nào Có Được Trí Tuệ Lớn Để Đạt Đến Bờ Giải Thoát - Đó phải là quán chiếu, thực hành, tu tập theo giáo lý bát nhã
Quảng Cáo Bảo Trợ