Logo HHAD 2018 250
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
14,687,720
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Chương 1: Giai Trình Dành Cho Những Cá Nhân Có Khả Năng Cao

12 Tháng Chín 201200:00(Xem: 12580)
Chương 1: Giai Trình Dành Cho Những Cá Nhân Có Khả Năng Cao
Tsongkhapa
ĐẠI LUẬN VỀ
GIAI TRÌNH CỦA ĐẠO GIÁC NGỘ
Tập 2
(Bồ-đề Đạo Thứ Đệ Đại Luận – Quyển Trung)
Nhóm Dịch Thuật Lamrim Lotsawas
༄༅༎ བྱང་ཆུབ་ལམ་རིམ་ཆེན་མོ་། །།ཀ།།
རྗེ་ཙོང་ཁ་པ་བློ་བཟང་གྲགས་པ༎





Chương 1: Giai Trình
Dành Cho Những Cá Nhân Có Khả Năng Cao

 

3. Các cấp bậc lộ trình của sự luyện tập tâm thức dành cho những cá nhân có đại thiện căn

a) Chỉ ra rằng chỉ có sự phát triển của Tâm giác ngộ là cánh cửa duy nhất dẫn đến Đại thừa.

b) Làm thế nào để phát triển Tâm giác ngộ {Bồ-đề tâm}[1].

I.i) Tâm giác ngộ phụ thuộc ra sao vào sự nảy sinh của những nguyên nhân chính

I a’. Sự phát triển của Tâm giác ngộ qua 4 hoàn cảnh bốn duyên

I.b’. Sự phát triển của Tâm giác ngộ qua 4 bốn nguyên nhân

Ic’. Sự phát triển của Tâm giác ngộ qua bốn sức mạnh

 

–––––––––\–––––––––

 

Các bậc tôn kính và xuất chúng đều có tâm đại từ bi, con xin cúi đầu đảnh lễ dưới chân các ngài [281]

 

Sau một thời gian  tiến bộ trong thiền sâu xa về nguyên nhân dẫn đến những sai sót của luân hồi từ nhiều phương diện, quý vị sẽ nhận ra rằng luân hồi thực sự chỉ là một đốm lửa hỏa ngục sáng mà thôi. và đến lúc Sau đó, quý vị sẽtiến tớisese~ tận lực với mong ước để đạt giác ngộ, loại bỏ mọi phiền nãođau khổ để đạt tới trạng thái giải thoát. Nếu nương theo một lộ trình thuộc về tam vô lậu học, quý vị sẽ đạt được sự giải thoát toàn phần khỏi luân hồi và thực sự không bị đảo ngược, Kkhông giống như trạng thái thiên đường trong cõi luân hồi. Tuy nhiên,đã thoát khỏi phiền não các sai sót và đạt được những phẩm hạnh cao quý nhưng đấy vẫn chưa phải là lúc đích cuối cùng của các ngươi - những sai sót đã bị loại trừ và thành tựu các phẩm chất tốt đẹp của quý vị sẽ không hoàn toàn. Vậy nên, quý vị sẽ không hoàn tất các mục tiêu của chính mình và chỉ có thể hoàn tất các mục tiêu của tha nhân một cách giới hạn. làm thế nào để cứu độ được chúng sinh với một con đường hẹp của giới hạn này? Bởi lẽ tất cả các chư Phật luôn bên cạnh, và các ngươi cần bước vào đại thừa,Sau cùng rồi thì một vị Phật sẽ hóa độ cho quý vị và quý vị sẽ bước vào Đại thừa. nNhững thiện tri thức đều bước vào Đại thừa ngay từ buổi ban đầu. Theo như Ba-la-mật-đa Tập Luận, ngài Thánh Dũng có nói[2]:

 

Một khi ngươi từ bỏ giã hai thừa thấp hơn

Vốn không đủ sức mang lại được hạnh phúc cho chúng sinh

Hãy bước vào thừa do Đức Thế Tôn từ bi đã dạy

Ở chỗ giúp mọi chúng sinh hữu tìnhNơi này chỉ có sự giúp đỡ cho tha nhân [282]

 

 

Khi con người chỉ thấy niềm vui phiền não bất hạnh chỉ tựa một giấc mộng

Và từ đấy sống với ảo giác sai lầm chúng sinh suy đồi bởi sai sót của vọng niệm,

Ôi sao chúng sinh Làm sao có thể chỉ biết đến hạnh lo mong phúc lợi của riêng mình

Đã bBỏ rơi đi niềm vui trong các hành vi vị tha tuyệt diệu?về những việc tốt của lòng vị tha.

 

Khi chúng ta nhận thấy chúng sinh, như chúng ta,  rơi vàocuộc sống đều tan rã theo thời gian, ngay như bản thân ta cũngngụp lặn trong đại dương của bể luân hồi và ngã vấp đầy vấp váp, không tìm thấy một hướng đi an toàn, một nơi đến bình an, tất cả chỉ tại vì do mắt trí huệ – vốn nơi giúp chúng ta phân biệt nhận biết điều cần tiếp thu và điều cần loại bỏ – đã khép kínche lấp, thật là tốt hơn hay không nếu chăm lo cho tha nhân và đấu tranh cho phúc lợi của họ, hỡi quý vị, những người thuộc dòng dõi của đấng Thế Tôn? Điều này đã cản trở bản thân ta cũng như sự giúp đỡ những chúng sinh khác tìm đến an lạc, bình an. Các ngươi có phải thuộc dòng dõi của Đức Thế Tôn hay không! Như đã được mô tả trong phần sau cùng một bản luận có dạy[3]:

 

Sao lại không – Những ai  là thuộc dòng dõi của Đức Thế Tôn

Tất cả vịVà những ai hành sự an lạc, hạnhphúc lộc của thế gian này

Mộtlòng từ tvới chúng sinh lầm lỡ, bởi do mắt bị trí huệ bị che mờ

Một lòng bền chí, hỷ xả xóa sạch bóng tốimơ hồ này.

 

Như phần trên đã nêu rõỞ đây quý vịcần phải nhận thức được nên sử dụng lòng hoan hỷ, uy tínsức mạnh niềm vui, sức mạnh của các vị Đại Sư đã để gánh vác trách nhiệm mang lạihạnh phúc cho của chúng sinh, bởi vì còn những kẻ đặc tính chỉ biết mang lại lợi ích, hạnh phúc cho chính mình cũng có ngay cả trên thực sự cũng như đặc tính của những con vật mà thôi. Do đó sự định hướng cơ bản của các đại hành giả là trọng tâm duy nhất chỉ tập trung để thành tựu hạnh phúclợi ích cho tha nhân. giúp các chúng sinh hữu tình đạt được an lạc, và hạnh phúc. Như trong Kinh Học Sinh Thư của Ngài Nguyệt Quan có viết[4]:

 

Cỏ dồi dào gia súc gặm miệt mài

Và khi khổ vì khát, chúng phúc hạnh uống nước thỏa mãn, nơi tìm gặp

Những ai nỗ lực đã mang phúc lợi cho chúng sinh

Bằng lòng tin, niềm vui và đầy sức mạnh

Như tia nắng mặt trời chiếu rạng mọi nơi, lan tỏa như du hành trên cỗ xe ngựa kéodu hành

Đây – nền tảng cống hiếnnhân thế gian, không hồ suy lường hơn thiệt xét

Như bản tính của kẻ thiện cănvị Thượng Sư luôn quên tư lợi

Mãi mãi mang lại hạnh phúc, lợi ích cho nhân sinhHọ hiến thân cho những gì đem lại hạnh phúclợi ích cho hoàn cầu.

 

Tất cả những ai nhận ra sự phiền não của cuộc sống và qua sự khổ đau này tạo lên một lòng ao ước, gấp rút mong muốn hành động để mang lại lợi ích cho nhân sinh đều được gọi là các vị „ Đại hành giả hay là những người có „ Khả năng lớn” và tinh thông (283) như đoạn trích sau Người thấy được chúng sinh bị hành hạ bởi đau khổ nêu trên và người nhanh chóng hành động cho lợi ích của chúng sinh được gọi là "hiền nhân” và là một "bậc thiện xảo”. [283] Cùng bản luận có dạy[5]:

 

Những ai nhận thấy nhân sinh bối rối bởi  làn mây khói vô minh bao phủ nhân gian

Bất lực rơi vào ngọn lửa cháy rực của đau khổ

vội vàng, cố gắng như thể mình đang rơi trên vào lửa

Đấy chính là Đại hành giả các "hiền nhân” hay là những người có „ Khả năng lớn” các "bậc thiện xảo” tinh thông

 

Đúng, Do đó, Đại thừa như là cội nguồn  không những mang lại những gì của tất cả điều tốt đẹp nhất cho chính hành giả mình và cho tất cả những nhânchúng sinh khác nữađây chính; như là liều thuốc làm giảm đi những khổ đau, phiền nãotrong nhân gian này. „; như là một đại lộ được chu du bởi tất cả thiện tri thức; như là nguồn nuôi dưỡng của tất cả những ai nghe thấy, nhớ tưởng, tìm đến và tu học với nó; và như là một nơi có đại phương tiện thiện xảo để quý vị xúc tiếnphúc lợi của tha nhân, và do đó, gián tiếp thành tựu lợi ích cho chính quý vị trong toàn thể.Con Đường lớn này đã được đúc kết, nuôi dưỡngkinh nghiệm bởi vô số các các ngươi uyên bác, các vị đã trực tiếp nghe, thấy và tưởng nhớ lại những tinh hoa của Đạo Phật, đã ước hẹn trong tâm Bồ Tát Đạo mang lại những điều tốt đẹp cho chính mình cũng như chúng sinh hữu tình. Một các ngươi khi nhận ra Ai bước vào đó đều nghĩ rằngnày đã thốt lên: „Ô thật tuyệt vời, con tôi đã tìm thấy những gì màcon đã tôi tìm kiếm bấy lâu nay”. Hãy Bbước vào thừa tối cao này bên cạnh các ngươi còn có sự hiển diệnvới tất cả „sức mạnh của một người xuất chúng” mà quý vị có.các vị Toàn Giác Trong Ba-la-mật-đa Tập Luận (Aryasura- Thánh Dũng) có nói[6]:

 

Thừa tối cao này đã được thấu rõ bởi chân trí huệ.chí huệ sáng suốt

Từ nóđây được thông suốtnhất thiết trí của đấng Như Lai phát khởi bởi sự xuất hiện của Hiền Triết

Như mắt của thế gian này

Ánh hào quang từ ngài như các tia sáng mặt trời mọctỏa xuống

 

Như vậy một khi các ngươi cảm nhận ra con đường thiết yếu, với niềm kính trọngao ước bước vào „ Đại Thừa” các ngươi sẽ cảm nhận ra những triển vọng rực rỡ Như vậy sau khi đã cảm nhận những phẩm chất tốt đẹp một triển vọng rộng lớn, các ngươi sẽ phát triển lòng kính trọng với niềm khát khao để bước vào „ Đại Thừa”.

Do đó, hãy bước vào Đại thừa sau khi quý vị đã phát triển niềm tôn kính to tát có được bởi việc hiểu ra các phẩm chất tốt đẹp của nó từ nhiều khía cạnh khác nhau [của Đại thừa].

 

3. Việc rèn luyện tâm thức trong các đạo trình cấp bậc lộ trình của sự luyện tập tâm thứcdành cho những người đại thiện căn

Việc rèn luyện tâm thức trong các đạo trình cấp bậc lộ trình của sự luyện tập tâm thứcdành cho những người đại thiện căn được giơi thiệu trình bày với các ba mục sau:

1. Chỉ ra rằng chỉ có sự phát triển của Tâm giác ngộ {tâm Bồ-đề} là cánh cửa duy nhất dẫn vàođến Đại thừa

2. Làm thế nào để phát triển Tâm giác ngộ (chương 1 đến 6)

Học và làm như thế nào theo các vị Bố Tát3. Làm thế nào để tu học Bồ-tát hành sau khi đã phát triển tâm Bồ-đề (chương 7 và tiếp sau)

 

a) Chỉ ra rằng chỉ có sự phát triển của Tâm giác ngộ là cánh cửa duy nhất dẫn đến Đại thừa

Vấn: Đặt ra, tại sao các ngươi cần phải Giả sửhành giả nên bước vào Đại thừa {cỗ xe lớn} bằng cách trên, thì nhập môn cánh cửa là gì?

Đáp: Như Đức Thế Tôn đã chỉ dạy rằng không có các cỗ xe lớn nào khác hơn Ba-la-mật-đa thừa {Toàn hảo thừa, Hiển thừa hay Kinh thừa} và Mật thừa {Mật chú thừa, Kim Cang thừa}. Đại Thừa chính là: „Thừa hoàn hảo” ( cỗ xe, con đường hoàn hảo) và „Kim Cang Thừa”, cCánh cửa duy nhất để đển quý vị bước vào hai Thừa này đó chính là Tâm giác ngộ. Một khi quý vị tạo nên được Tâm giác ngộ này trong tâm thức của mình thì quý vị thực sự nhận thấy được công nhận  mình là một hành giả Đại thừa mặc dù trước đây vẫn chưa tạo dựng được một số đức hạnh khácnhất định [284](284). Một khi quý vị rời bỏ tâm giác ngộ này và mặc thì bất kể quý vịđã đạt có thể có được những phẩm hạnh nào tốt ( – ví dụ nhưcảm nhận tri kiến về tính Không v.v... – thì quý vịsẽ rời khỏi đánh mất Đại thừa, rơi vào các tầng của Thanh Văn và các bậc tương tựcuộc sống. Điểm này đã được giảng dạy rất kỹ trong các nhiều Kinh điển Đại thừa và đã được chứng minh bằnglẽ phải, lý luận.

 

Cánh cửa đầu tiên để bước vào Đại thừa là lòng quyết tâm mãnh liệt phát triễntriển Tâm giác ngộ cho riêng mình„ Một mình”, sau đấy khi đã bước vào Đại Thừa là lòng quyết tâm từ bỏ „ Một mình” để phát triển Tâm giác ngộ. Chỉ cần đánh mất Tâm Bồ-đề này thì được xem có hậu quả là rời bỏ Đại thừa. Kể từ đây trở thành một tcác ngươi Đại Thừa khi không còn tùy thuộc vào sự tồn tại, hay không tồn tại của tâm này nữaDo đó, việc có là một hành giả Đại thừa hay không tùy thuộc vào việc có hiện hữu hay không tâm này. Như vậy sau khi Tâm giác ngộ này được phát khởisinh ra, ngay lập tức quý vị trở thành người con của Đức Thế Tôn. Như Nhập Bồ-đề Hành Luận của Tịch Thiên( San ti đê va) có nói[7]:

 

Từ lúc bơ vơLúc bất lực, bị trói buộc trong tù tội vòng luân hồi

Quyết một lòng phát triển Tâm giác ngộ

ĐâyHọ, gọi là "những con trẻ của Như Lai Sugata[8] ...

 

Và:

 

Hôm nay con được sinh ra trong gia đình của đức Phật

Con trở thành người con của các đấng Như Lai

 

Như vậy điều này đã chỉ rõ một khi quý vị đạt phát khởi (generate)được Tâm giác ngộ quý vị đã trở thành được gọi là một "Bồ-tát”. Hơn nữa, trong Di-lặc Hữu Vị Giải Thoát (xem Hiện quán trang nghiêm luận) đã nói những các hành giả trở thành các Bồ-tát nểuđat đượcTâm giác ngộ này mặc dù vẫn chưa trau dồi những việc làm Bồ-tát[9]:Đạo

 

Ôi người con của truyền thừa tuyệt hảo, dẫu cho kim cương quý giá bị tan vỡ vẫn luôn tỏa ánh sáng hơn cả các đồ trang hoàng rực rỡ đặc biệt bằng vàng. Nó vẫn không mất đi tên "kim cương quý giá”, vẫn luôn tránh xa tất cả những nghèo nàn, thấp kém. Ôi những người con của truyền thừa tuyệt hảo, tương tự thế, cũng như những người đã nuôi dưỡng viên kim cương quý này, vốn là  được Tâm giác ngộ như viên kim cương quý giá vớivà nguyện vọng khát khao tới toàn giác, dẫu còn thiếu vận dụng,cho vẫn chưa được bộc lộ nó vẫn luôn tỏa sáng hơn như tất cả vật trang hoàng bằng vàng với các phẩm chất caoquý, như phẩm hạnh cao quýcủa Thanh Văn, củaDuyên Giác Phật( Độc giác giác Phật). Những người con sẽ không bao giờ mất đi tên gọi "Bồ-tát”, sẽmãi mãi tránh xa xóa bỏ tất cả những thống khổ của luân hồi"

 

Như trong Bảo Hành Vương Chính Luận, h / Vòng bảo châu/ (ộ pháp Long Thụ) có nói[10]:

 

Nếu như ngươi cũng như nhân loại

Ước mong dành được „ánh sáng vĩnh hằng” giác ngộ vô song

Thì nguồn Đó cũng chính là ccội điều này làcủa Tâm giác ngộ

Vững bền như núi cả non caobàn thạch.

 

Hơn nữa theo Kim Cương Thủ Điểm Đạo Đại Mật điển có dạy[11]nói:

 

"Con đảnh lễ Đức Phổ Hiền VươngÔi đại Bồ-tát, Văn-thù-sư-lợi, ôi maṇḍala Kim Cang thừa này quá ư là bí ẩn, rộng lớn mênh mông, sâu thẳm và không thể thấu hiểu được.con Thật không hợp  xứng đáng để giảng nghĩa cho các chúng sinh tội lỗitình”. [285]

Này Kim Cang Thủ Bồ-tát (Vajrapani), ngươi nói Maṇḍala này hết sức quý hiếm, ta chưa từng nghe thấy Maṇḍala này, và nó cần được phải giảng giải cho  những ai?

Kim Cang Thủ Bồ-tát đáp: lại cầu xin tiếp Ôi Phổ Hiền Vương Bồ Tát Văn-thù-sư-lợi, những ai đã đạt được Tâm giác ngộ qua thiền định, bạch Văn-thù-sư-lợi, những Bồ-tát này đã thực hành Bồ-tát đạo – ( cánh cửa vào Kim Cang thừa ) cần phải nên nhận được lễ quán đảnh trí huệ siêu việt để bướchết sức uy nghi để mở cánh cửa vào Maṇḍala Kim Cang thừa này. Tuy nhiên, những ai chưa đạt được Tâm giác ngộ hoàn toàntuyệt đối không nên nhập môntantric Maṇḍala mật pháp này. được nhận lễ quản đảnh này, không được phép bước vào, cũng như Họ không nên ngay cả nhìn Maṇḍala, hơn nữa không được phép dạy cho những người nàyhình dáng thực hành về Maṇḍala và những câu thần mật chú”.

 

Bởi vậy, chưa hề đủ nếuchúng ta chỉ chú trọng đến những giáo huấn một giáo phápgiáo pháp của Đại thừa, mà điều cốt yếu chúng ta phải thực sự là người thực hành Đại thừa. ngoài ra Xa hơn nữa, hoạt động như là một hành giả Đại thừa chỉ điều phụ thuộc duy nhất vào sự nhận thức về biết củaTâm giác ngộmà thôi. Do đó, nếu quý vịthấu chỉ có hiểu biết trí óc về được Tâm giác ngộ, thì quý vị cũng chỉ có hiểu biết trí óc về ý nghĩa để đồng với việc thấu hiểu như thế nàolà một người thực hành Đi thừa. Nếu khi Tâm giác ngộ này lànày hoàn hảo, thì hành giả Đại thừachân chính cũng có nghĩa là một các ngươi Đại Thừa xác thực.

Nội dung này đã được dẫn giải bởi Hoa Nghiêm Kinh/ Đại Phương Quảng Phât Hoa Nghiêm Kinh[12]

 

Ôi những người con của nòi giống đức hạnh, Tâm giác ngộ chính là mầm mống của tất cả phẩm hạnh PhậtQuả.

 

Tất nhiên các con Vì quý vị cần phải lĩnh hội một cách đầy đủ rõ rệt về điều này, tôi sẽ giải thíchmột cách cụ thể như sau. Khi mà có đầy đủ nước, phân bón, đất và hơi ấm v.v... phối hợp với một hạt lúa,tạo nên sự nảy mầm của hạt lúa, như vậy đây chính chúng sẽ tác động như là là các nguyên nhân tạo sự nảymầm non củahạt cây lúa. Nếu Nnhững yếu tố này phối hợp với nhau các hạt lúa mì, hạt đậu, v.v..., chúng cũng tác động như là nguyên nhân tạo nên sự nảy mầm non của các loại hạt này. đối với hạt lúa mì, hạt đậu..vv. Như vậy, các yếu tố này là những nguyên nhânthông thường chung để tạo nên sự nảy mầm. XSong, mặc dù có kết hợp với các điều kiện [duyên] đó lên hạt lúa mạch thì cũng không thể nào khiến chúng trở thành nguyên nhân sinh ra một cây mạ non của hạt lúa gạo và các cây mầm khác hơn là lúa mạchđối với cây lúa mạch thì những yếu tố thông thường (trong trường hợp hạt lúa hạt đậu) này không thể giúp tạo nên sự nảy mầm được, mà cần phải thêm những yếu tố đặc biệt để tạo nên sự nảy mầm của cây lúa mạch (286) [268] . Cho nên một hạt lúa mạch là nguyên nhân đặc thù {nguyên nhân chính yếu} tạo ra mầm non của lúa mạch. Cũng như vậy, một trong những yếu tố đặc biệt nhất đấy là Tâm giác ngộ vô thượng như một hạt giống, là nguyên nhân đặc biệt cùng với những nguyên nhân chung khác để đưa chúng ta đạt được tạo ra mầm Phật quả( Tâm giác ngộ vô đẳng chính là cái mầm, chồi). Trí huệ nhận biết được tính Khôngsong đấy cũng chỉ là yếu tố thông thường (như nước, phân bón đối với sự nảy mầm của hạt lúa, hạt đậu..vv) dẫn tớinguyên nhân chung của ba trạng thái giác ngộ (Thanh Văn, Duyên Giác Phật/Độc giác giác Phật/, và Bồ-tát Quả). Theo như Đại thừa Tối Cao Mật điển, ngài Di-lặc ( Maitreya)có nói[13]:

 

Khát vọng đưa ta tới Tối thượng thừahạt giống

Trí huệ như mẹ giúp ta sinh ra các phẩm hạnh Phật-đà Quả.

 

Như vậy Tâm giác ngộ như là hạt giống của người chabố, còn trí huệđược xem như lòng từ bi nhận biết vô ngã như là người mẹ. Ví dụ như người bốcha Tây Tạng không thể sinh ra được đứa con trai Ấn Độ, ..v.v, người cha chính làyếu tố nguyên nhân đặc biệt để tạo ra nòi giống của đứa bé. XSong từ, trong khi một người mẹ Tây Tạng có thể sinh ra được nhiều con traimang chủng tộc khác nhau, do đó người mẹ làyếu tố thông thường nguyên nhân chung để sinh ra những đứa bé của bà ta. Và Thanh VănQuả, Duyên Giác Phật/Độc giác giác Phật/ Quảcũng phụ thuộc vào trí huệ. N, vì (for) như trong Tán Dương Bát-nhã Ba-la-mật-đa, phần chođức hộ pháp Long Thụ có nói[14]:

 

Đạo giải thoát  dứt khoát tin cậy vàođức Phật, Duyên Giác Phật,/Độc giác giác Phật, Thanh Văn dứt khoát dựa vào

Chính là điều nàyTất cả là vậyĐây là điều quan trọng, chắc chắn không còn cách nào còn gì khác nữa

 

Sự hoàn hảo của trí huệ đấy chính người mẹ của cả nhữnghành giả đệ tử Tiểu thừa lẫn Đại thừa, và đúng như ta đã hiểu đấyvì nó [trí huệ] cũng được kể đến như là người mẹ. Do vậy, không thể phân biệt được Tiểu thừa, Đại thừa bằng trí huệ hiểu biết tính Không(mà được biết như là Tính không), nhưng có thể phân biệt chúng được bằng Tâm giác ngộ và những việc làm tác dung hiệu quả lớn của Bồ-tát. Theo như Bảo Hành Vương Chính Luận / Vòng Bảo Châu ( Long Thụ ) đã nói[15]:

 

Với những hành giả bằng hành động, cũng như một lòngVì khát vọng nguyện, hành,

Dứt khoát mong muốnhoàn tất các hiến dâng của Bồ-tát Quả

Không thể nương tựa vào giải thích theo Thanh Văn thừa

Làm thế nàoThì làm sao ngươi có thể thành Bồ-tát qua con đường đó?

 

Như vậy đức Long Thụ đã nói quý vị không thể phân biệt những thừa này bằng tầm nhìn triết lý, mà bằng những hành vi động và việc làm. Nếu như trongThừa này ( Thanh Văn) cách này, trí huệ được nhận biếtnhư là tính Không, không phải là nhân tố lộ trình Đại thừa đặc biệtđối với hành giả Đại Thừa thì nó cũng sẽ tiếp tục mà không kể rằng có các lộ trình chia sẻ khácbởi thiếu mất một dụng ý chia sẻ những điều tốt đẹp với tất cả chúng sinh hữu tình còn lại (287). [287] Từ đây, mặc dù quý vị có một hiểu biết khiếm nhường rất ít thuần thục với các giáo phápvề kinh điển, xsong sau khi đã có được một Tâm giác ngộ như là làm huấn thị cốt yếunhưng vẫn chưa thiền, dù quý vị chưa tu tập nó, nhưng sau khi nghĩ nhớ về nó dù chỉ qua ngôn từ trong buổi đầu, thì quý vị đã chủ ý tạo được một nỗ lực lớn cho một phần nhỏ đơn giản của lộ trình.

 

luyện và sau đấy các ngươi quyết đinh dấn thân trên con đường của Đức Phật chỉ dạy thì các ngươi cũng đã đạt được một phần đáng kể trên con đường tiến tới Phật quả.

Thường, một đứa trẻ sinh ra cần phải nhờ cả cha và mẹ, quý vị cũng cần phải có đầy đủ cả phương tiệntrí huệ để có một lộ trình tu tập hoàn thiệnđạt được con đường giải thoát. Cụ thể, quý vị cần phải có: cốt lõi củaphương tiện chính yếuTâm giác ngộ; và cốt yếu củatrí huệ chính yếutri kiến về tính Không. Nếu quý vị chỉ thiền định chăm chỉ về một trong hai yếu tố trên, và quý vị chỉ đơn thuần tìm sự giải thoát khỏi kiếp luân hồi, để đạt được cách giải thoát này thì quý vị chỉ cần thiền định về ý nghĩa của tính Không, tức là vô ngãvề lòng vị tha, thiền định không sai sót nhằm đạt tuệ giác. Tuy nhiên, nếu quý vịmuốn thỉnh cầu thực xem mình là hành giả Đại thừa thì còn cần phảibắt buộc nuôi dưỡng Tâm giác ngộnhư là một yếu tố hết sức quan trọng,. Ttại sao? Bởi vì quý vị cần có trí huệ để ngăn ngừa rơi vào luân hồi cực đoan vô thỷ và quý vị cần có từ bi để ngăn ngừa rơi vàotận cùng cực đoan của an tịnh bình an cực lạc [niết-bàn],. Cho nên tNhư vậyhuệ không ngăn ngừa được quý vị rơi vào trạng thái cực đoan của anđộ tịnhbình an, cực lạc. Theo như Hiện Quán Trang Nghiêm LuậnHiện Quán Trang Nghiêm Bát Nhã Ba La Ma Da luận thích ( Ngài Di-lặc) đã nói[16]:

 

Qua tri kiến thức ngươi không ở lại luân hồi

Qua từ bi ngươi không lưu trong an lạccực lạc

 

Nếu là các hành giả Đại thừa, quý vịluôn cần phải rèn luyện Tâm giác ngộ, bởi vì ngay cả trong Tiểu thừa quý vị cũng sẽ không rơi vào tột cùng của luân hồisong điều điểm chính cản trở con trên đường Bồ-tát đó là rơi vào trạng thái cực kỳ an tịnh.

 

Khi những người con của đức Thế Tôn, là người giải thích đúng đắn các chú giải về ý nghĩa chủ tâm của đấng Thế Tôn, phát khởi tinh thần giác ngộ tôn quý này trong tâm thức của họ thì họ kinh ngạc và nghĩ rằng một lộ trình thâm diệu như thế đã xuất hiện đã được sáng tỏa ý nghĩa những lời dạy của ngài, thì trong trí tuệ sẽ phát sinh ra một tâm quý báu, các hành giả này bất ngờ lấy làm ngạc nhiênnhận ra „ Ô tã đã có một con đường thật tuyệt vời”,. Tuy thế, họ không có cùng cảm xúc như thể khi họ đạt đến một phẩm chất tốt đẹp nhỏ làm hài lòng cho các phàm phu. cảm giác này không như cảm giac nho nhỏ đầy thú vị, quý báu trao cho những con người hết sức bình thường. Như Nhập Bồ-đề Hành Luận có nói[17]:

 

Tâm vị tha này không sinh ra

Trong tha nhân ngay cả cho lợi ích mục đích của chính họ

Đây là viên ngọc quý của tâm trí tuệ

Mang lại điều phi thườngdiệu kỳ chưa từng thấy.

 

Và :

 

Đức hạnh nào sánh bằng đây?

Bằng hữu nào lại như thế?

Công đức nào xứng ngang bằng?

 

 

Con xin cúi lạyđảnh lễ trước tất cả

Những hành giả ai đã khởi tạo nên viên ngọc thiêng liêng của tâm thức này. ([288])

 

 

Đấy là thứ bơ tinh túy

Được đánh ra từ sữa của những lời dạy siêu việt cao thượng.

 

Như vậy Tâm giác ngộ chính là lời huấn thị tối thượng, là phần trích tinh túy nhất của kinh điển.

 

Do đó, dù rằng Ttheo nhưcách nhìn tôn giả Atiśa với quan điểm Đại thừa củaheld the Madhyamaka”sư phụ Ser-ling-ba (gSer-gling-pa) của ngài với quan điểm satyâkâravâdin[18] thì bản thân ngài Atiśanhận đạt được Tâm giác ngộ dựa vào chính mình và đã khiến ngài thành trò giỏi nhất của thiện sư của ngài. đã đưa thẳng tới gặp Đức Đại Sư dáng kính của ngàiNếu như những hành giả nào thấu hiểu được những cốt lõi của Kinh điển, hãy xem tiểu sử của đại sư Atiśa thì sẽ hiểu rành rọt hơn về điểm mấu chốt của lộ trình này.

 

Nếu quý vị phát triển tâm này một cách tự nguyện, không trù tính toán sau nhiều nỗ lực, dần đều, đến một lúcquý vị sẽ được thấm dần nhập vào Tâm giác ngộ này và như vậy quý vị đã tạo ra được một điểmmấu chốt nhỏ làm đòn bẩy cho Bồ-tát hànhviệc thực hành Bồ Tát Đạo. Dù sao nNếu như quý vị thiếu mất Tâm giác ngộ này thì cho dù cúng dường vô số ngọc ngà châu báutới chất đầy Tam thiên đại thiên thế giới trong cõi Ta-bà này cũng khôngthúc đẩy được xem là việc thực hành Bồ-tát Đạo. Cũng vậy,như: những hành viđộng được xem là Ba-la-mật-đahoàn hảo bắt nguồn từ trì giới việc rèn luyện đạo đức thông quacho đến trí huệ, cũng như là việc thiền quán định cho mỗi bản thânlên chính mình thông quacác một vị bổn tônHóa Thần, cũng như:và thiền định qua quán lên các đường kinh mạch, khí lực kênh, xa luân xa, các hạtv.v... thì cũng không mang lại cho các ngươi mối quan tâm tới được xem là việc thực hành Bồ-tát đạo.


Nếu như hành giả không thực hiệntâm thứcđáng quý giá củachính mình quý vị không thực hiện những điểm mấu chốt như là một chìa khóa để tu tập thì bất kể quý vị cố gắng để nuôi dưỡng thiện đức trong bao lâu không quan trọng là các ngươi đã trao dồi được bao nhiêu đức hạnh, quá trình giải thoátcũng không thành đạt được bao nhiêu,. Tựađây gTu như là việc tacắt cỏ với một chiếc liềm cùn. Nếu như quý vị dùng Tâm giác ngộ như làm chìa khóa của tu tập tiến tới trên lộ trình giác ngộ thì nó như là đang việc cắt cỏ với chiếc liềm sắc bén – ngay cả khi không cắt cỏ, quý vị vẫn mài bén lưỡi liềm, và khi cắt thì sẽ được một khối lượng lớn trong một thời gian ngắn. Cũng như vậy, nếu Tâm giác ngộ này được nhận biếttiến hành một cách triệt để thì trong mỗi giây phút ngay lập tứcquý vị có thể tẩy sạch các chướng ngạigạt bỏ ngay màu tối, tich lũy niềm hỷ lạccông đứcnhận đượctrí huệ siêu việtvô biên. Ngay cả một đức hạnh nhỏ cũng có thể lan tỏa rộng lớn, nhưngvà những công đức đó nếu làm khác đi sẽ bị đánh mặt khác cũng có thểmất sau một khoản thời gian không hạn kỳđi trong vòng tuần hoàn vô biên của thời gian. Theo Nhập Bồ-đề Hành Luận có nói[19]:

 

Sức mạnh của nghiệp chướngtội lỗi to tát dữ dội và mãnh liệt vô cùng

Ngoài Tâm giác ngộ hoàn hảo

Liệu đức hạnh nào chiến thắng nổi nó không?

 

Hay:

 

Như ngọn lửa ở điểm cuối mỗi của mộtmoo~i kiếp lượng

ngaySẽ lập tức thiêu tan cácmọi tội lỗi lớn lao. [289]nghiệp chướng

 

Lại nữa:

 

Nếu ai nghĩ: "Tôi sẽ gột sạch

Chỉ nĐây là hững điều phiền não hắc búa của nhân sanh”

Hãy có một mục đíchCó được chủ tâmmang lợi ích đó

ConHọ sẽ nhận được công đức vô hạn niềm vui mênh mông

 

Đến khi đó sẽ còn điều chi để nói

về một người

Về nỗi khát khaomuốn gợt nhằm để xóa tan

BBiển khổ ải của trần giất hạnh vô lượng của mỗi chúng sanh

 đã để phú cho họ vô vàn thiện hạnh  lại một đức tính tốt vô biên”

 

 

Tất cả những đức hạnh giống như là cây chuối Đức hạnh khác, thảy tựa như thân chuối

Cho xong quảSau khi sinh ra, chúng đều tàn lụi

Nhưng Tâm giác ngộ như cây ban – ban-ước nguyện nguyện

Luôn cho lại hoa quả, không tàn úa, luônmà chỉ sum xuê

 

b) Làm thế nào để phát triển Tâm Bồ-đề

Làm thế nào để phát triển Tâm giác ngộ được giải thích qua bốn phần sau

 

B1)1. Tâm giác ngộ phụ thuộc ra sao từ các nguyên nhân phát sinh

B2)2. Những giai đoạn rèn luyện Tâm giác ngộ (chương 2 – 4)

B3)3. Thước đo thành quả của Tâm giác ngộ (chương 4)

B4)4. Tiếp nhận Tâm giác ngộ ra sao qua quá trình hành lễ (chương 5-6)

 

B1)i) Tâm giác ngộ phụ thuộc như thế nào vào các nguyên nhân xác định để phát sinh

Tâm giác ngộ phụ thuộc ra sao vào các nguyên nhân xác định để phát sinh được giải thích qua ba phần

B1 a)1. Sự phát triển của tâm qua bốn hoàn duyên cảnh

B1 b)2. Sự phát triển của tâm qua bốn nguyên nhân  do

B1 c3. Sự phát triển của tâm qua bốn sức mạnh

 

B1 a)a’ Sự phát triển của tâm qua bốn hoàn duyên cảnh

 

1. Quý vị phát triển Tâm giác ngộ hoặc bằng cách tự thấy cho mình một năng lực phi thường của các đức Phật, của các vị Bồ-tát,cũng có thể nghe thấy hay bởi tự nghe về chúng từ một Vị Đ người đángKính trọng, tín cẩn, và sau đó nghĩ rằng  lúc đấy các ngươi chợt nghĩ "Ô. Đây là điều làm ta sáng tỏaSự giác ngộ này mà trong đó họ tự tại hay trong đó họ mưu cầu thì rất mạnh mẽ”.

 là điều đã được các Đức Phật, Bồ Tát, các Đại Sư giữ giìn, mưu cầu, có một sức mạnh mãnh liệt”

2. Dẫu cho quý vị không chưa thấy, nghe về năng lực như vậy, thì nhận được bằng con đường này, song quý vị có thể phát triển Tâm giác ngộ qua cách lắng nghechú ý, ngẫm nghĩ, thu lượm từ tập hợp Kinh điển vốn dùng giác ngộ vô thượng và nhận được „ ánh sáng vô biên” như là điểm xuất phátkhởi hành và từ đấylà niềm khát khao đạt được trí huệ siêu phàm của đức Phật.

 

3. Dẫu cho có thể khôngchưa nghe thấy giáo pháp, quý vị vẫn có thể phát triển Tâm giác ngộ bằng cáchnhận hiểu ra rằng những lời dạy xuất chúng  vô thường của các vị Bồ-tát đang dần mai một và sau đó nghĩ rằng "À "Ta sẽ dứt khoát phát triển Tâm giác ngộ để gìnlưu giữ những giáo huấn của các vị Bồ-tát được dài lâucho mai sau, bởi lẽ sự tồn tại của những giáo huấn này sẽ giúp vô vàn chúng sinh tẩy sạch đau khổtrong vòng luân hồi

 

4. Dẫu cho quý vị không nhận thấy sự mai một của những lời dạy, giáo huấn này, xsong quý vị ngẫm nghĩ: "Quả thật là khó phát triển Tâm giác ngộ, ngay cả với các bậc Thanh văn, hay Duyên giác( Độc Giác Giác Phật) trong thời đại mạt phápkhủng hoảng hiện nay, khi mà đầy dẫy những vô minhsự ngu dốt, vô liêm sỉ, không biết xấu hổ, ghen tuông, bủn xỉn v.v... Đã nNhư vậy thì điều gì cần thiết đểlàm sao để thúc đẩy sự đề cập đến việc phát triển của Tâm giác ngộ tối thượng? Nếu là tôi, như từ quan điểm nàytại một thời điểm nào đó, mà tôi phát triển Tâm giác ngộ thì chắc chắn sẽ có rất nhiều những chúng sinh khác cũng sẽ làm theophát triển Tâm giác ngộ như”. Như vậy quý vị phát triển Tâm giác ngộ trong bối cảnh nhận ra rằng sự khó khăn đòi hỏi để phát triển nó phát triển Tâm này rất ư là gian nan ([290])

 

Sự quan tâm đến  việc Tâm giác ngộ khởi sinh ra như thế nào từ bốn trường hợpduyên cảnh trên đã co mưu tả như sau: Sau những trường hợp trên các ngươi được truyền cho quý vị cảm hứng mong muốn thành tựunhận được một nguồn ánh sáng giác ngộ, và như vậy lòng khao khoát nhận luống ánh sáng giác ngộ được nảy sinh. Sau đây là những chặng đường của những bước đi này Các cách thức mà điều này xảy ra là như sau:

 

1. Sau khi quý vịnhận được nghe thấy về một năng lực lượng siêu phàm, quý vị chợt bừng tỉnh và nghĩ "Ồ như vậy tTa chắn chắn sẽ đạt được  ánh sáng giác ngộ như thế” và bắt đầu phát triển Tâm giác ngộ.

 

2. Qua việc lắng nghe được những phẩm hạnh đức độ, tốt đẹp của Chư một vị Phật từ một vị đạo các vị Đại sư,, các Thầy trước hết, quý vị phát triển tín tâmmang lòng thành kính, kế tiếp là nảy sinh lòng khao khát, ước mong đạt được những phẩm hạnh này.

 

3.  cảm thấy Không chịu nổi khi thấy được ý tưởng về những lời giáo huấn của Đại thừa đang bị mai mộtmòn, từ điều này làm thì quý vị nuôi dưỡng mongao ước đạt được trí huệ siêu việt của đức Phật.

Với tầm nhìnVề điểm cuối này, quý vị nhận thấy rằng, nếu như những lời dạy của đức Phật không bị mất đi, thì có thể làm giảm và xóa bỏ những đau khổ của chúng sinh có thể kết thúc. Mặc dù mục tiêu của quý vị cũngquả là nhằm xóa bỏ đau khổ những phiền não, tuy nhiên điều kiện chính khiến làmđể thúc đẩy sự xuất hiện của Tâm giác ngộ là do không chịu được khi những giáo huấn của đức Phật có thể bị mất đi. Ngoài ra, sự phát triển của Tâm giác ngộ sẽ được giải thích thêm trong phần sau về cách thức Tâm giác ngộ nảy sinh ra sao trong việc phụ thuộc vào tâm từ bi.

 

4. Sau khi quý vị nhận thấy Tâm giác ngộ này có tầm quan trọng và được sự quý hiếm của tâm giác ngộ đầy ý nghĩa này như thế nào,đã dẫn tới quý vị phát triểnlòng quyết tâm, khao khát đạt được Phật quả vốn được kích hoạt một cách nền tảng bởi sự tỉnh thức này. nhận thấy đây là mục đích chính, duy nhất của mình

Đối vớiviệc 2 hai thành phần của Tâm giác ngộ( bao gồm ước ao đạt đến giác ngộnhận được Trí huệ, và nhắm đến ước ao giúp đỡ,mục đích mang lại niềm hạnh phúc cho tất cả chúng sinh) thì bốn giai đoạnsự phát triển thứ tư này của Tâm giác ngộ được trên chỉ là thiết lập trong khuôn khổ của việcđiều kiện để các ngươi tạo ra được niềm ước ao, khát khao đạt được Tâm giác ngộ chứ không phải là được thiết lập trên khuôn khổ của mục đích {nêu trên}.

 

điều kiện để đạt được mục đích ( Phật Quả)

Như vậy tThiếu mất lòng khát khao đạt tới Phật quả ( mà chính là vốn xuất phát từ việc nuôi dưỡng niềm tin vào nhữngđức phẩm hạnh của đức Phật) thì quý vị không thể đạt được tâmvượt qua được ý tưởng về sự mãn nguyện khi coi như cho rằng an( tịch [Niết-bàn])của chính mình, thì chỉ tự mình nó cũng đã đủ đáp ứng được những mục đích riêng của quý vị mà thôi. Lòng khát khao đạt tới Phật quả, màbiểu hiện được tính đến quathông qua tầm quan trọng, lợi ích củavị rèn luyện về tình yêu thương cũng như tâm từ bi và nhận thấy được rằng việc đáp ứng mục đích của những chúng sinh khác nữa như là điều cần thiếtnăng lực để xóa bỏ, nhổ tận rễ gốc ý tưởngtâm mãn nguyện mà nghĩcho rằng an tịch của riêng mình còn có khả năngđủ để đáp ứng những mục đích của những chúng sinh khác nữa, nhưng không đủ khả năngcản trở ngăn chận ý tưởng về sự được tâm mãn nguyện khi nghĩ rằng an tịchcũng chính là đủ cho chính mục đích của riêng mình. Bên cạnh lòng ước ao đạt được Phật quả này vốn đến từ việc vun trồng lòng kính trọng tin vào những phẩm hạnh caocả, tốt đẹp của đức Phật, thì  từ đấy không có bất cứ điều gì cản trở được ý tưởng tâm mãn nguyện khi nghĩ rằnghạnh phúc, chỉ riêng sự an tịch của mình có khả năngđáp ứng đầy đủ hoàn tất mục đích của chính mình. Tuy nhiên Thật quả quý vị cần phải vượt qua ý tưởng tâm mãn nguyện cho rằng sự an tịch của mình là đầy đủ để hoàn tất lợi ích của chính quý vị, bởi lẽ: (1) Những hành giả Tiểu thừa vốn chỉ đơn thuần thoát khỏi luân hồi, thì chỉ loại trừ được một phần của các sai sót và chỉ có được một phần của chánh tri kiến khi loại bỏ những thiếu sót, khuyêt điểm thì mang tính các thiên vị, về tri thức chỉ là một phần riêng, cục bộ và do đó thiếu đi sự đáp ứng hoàn hảo cho một các mục đích của chính họ hoàn hảo. (2) Những hành giả này chỉ được giải thoát khỏi những „Vvấn đề của vòng luân hồi chứ không phải những „Vvấn đề của sự an tịch. (3) Điều đáp ứng hoàn hảo cho mục đích của quý vị đó chính là: Pháp Thân Phật. ([291] )
Như vậy
Do đó, saumột khi quý vị nuôi dưỡngtrao dồi niềm tin vào những phẩm hạnh cao quý của đức Phật,hanh giả quý vị sẽ nhận ra rằng cần phải đạt được Phật quả như là mục đích cần thiết phải thực hiện của mình,để như là mục đích duy nhất chưa kể đến mục đích của tất cả các chúng sinh khác. Nhận thức ra điều này là hết sức quan trọng để không làm cho quý vị quay trở lại con đường Tiểu thừa.

 

Trong bốn sự4 giai đoạn phát triển Tâm giác ngộ vừa được diễn giải trên thì hai yếu tố đầu không được cảm sinh từ tâm từ bi, hay tình thương. Trong các Kinh Điển cũng như các Luận khácthiết cũng đã có nhiều giải thích vềrõ quá trình sự phát triển Tâm giác ngộ qua lòngnhư là niềm ao ước đạt được Phật quảbằng cảm nhận đem đến đơn thuần bởi những phẩm hạnh cao cả tốt đẹp của Pháp Thân PhậtSắc Thân Phật. Sự xác kiên định để đưa rõ lòng ao ước tất cả mọi chúng sinh hữu tình đều đạt được Phật quả cũng được xem là là hành động thúc đẩy sự phát triển của Tâm giác ngộ này. Như vậy quý vị cần phải suy nghĩ, xem xét từng điều trong hai điều này, được tính đến một cách đơn giản như là  như 2 điều sau là 1 : "Sự Phát triển Tâm giác ngộ”. Dù sao, về việc cùng với lòng kính trọng phát triển một Tâm giác ngộ  trọn vẹn, hoàn hảo trọn vẹn: thì sẽ không vẹn toàn nếu chỉ có khát khao để đạt đến Phật quả dựa trên việc thấy được sự cần thiết để thỏa mãn các mục đích của tha nhân. Tuy nhiên nếu dựa vào quan điểm cần phải đáp ứng đầy đủ mục đích của những chúng sinh khác nữa thì điều này khó có khả năng thúc đẩy lòng ao ước đạt tới Phật QuảQuý vị nhất định sẽphải có lòng khát khao đạt tới Phật quả vốn bởi nếu nhận ra rằng điều này không thể thiếu được cho mục đích của riêng mình., và sau đấy là mục đích: Xa hơn nữa, chủ định này Kkhông được cho phép bỏ quarơi lợi ích của những chúng sinh khác, mà cũng là vì mang lại lợi ích của họcho tất cả các chúng sinh hữu tình. Bởi lẽ trong Kinh „ Hiện Quán Trang Nghiêm LuậnHiện Quán Trang Nghiêm Bát nhã Ba-la-mật-đa luân thích /đã nói tới hai2 chủ tâm mục đích để đạt tới giác ngộ và để mang lại phúc lợi an lạccho các chúng sinh như sau[20]:

 

Phát triển Tâm giác ngộ

Là khát khao giác ngộ toàn hảo cho phúc lợi  vì an lạc của chúng sinh

 

B1 b) b’ Phát triển Tâm giác ngộ qua bốn nguyên nhân

Quý vị phát triển Tâm giác ngộ dựa vào

1) Dòng truyền thừadõi hoàn hảo

2) Được duy trì liên tục bởi một bậc Thầy

3) Lòng từ bi hướng tới chúng sinh hữu tình

4) Không chán nản bởi các khó khăn, iác ngộ cản trở của luân hồi

 

B1 c)c’ Phát triển Tâm giác ngộ thông qua bốn sức mạnh

Quý vị phát triển Tâm giác ngộ qua bốn sức mạnh sau đây

1) Sức mạnh của bản thân: lòng ước ao đạt tới giác ngộ hoàn hảo thông qua sức mạnh, năng lực của bản thân

2) Sức mạnh của những chúng sinh khác: lòng ước ao đạt tới giác ngộ hoàn hảo thông qua tha lực {năng lực của những chúng sinh khác} ([292])

3) Sức mạnh của nguyên nhân một khi các ngươi sống trong môt gia đình Phật Tử– đó là việc phát triển tâm này qua việc trở nên quen thuộc với Đại thừa và giờ đây chỉ bởi sựluôn được nghe Kinh,tán thán các chư Phật, chư Bồ-tát. giúp phát triển Tâm giác ngộ của các ngươi

4) Sức mạnh của sự áp dụngnhân quảchuyên tâm : trong cuộc sống này quý vị đã quen thuộc với các hành vi thiện đức trong một thời gian dài như là việc dựa vào một chúng sinh kiệt xuất và việc quán chiếu vào các giáo pháp mà quý vị đã nghe. tạo được vô số những nghiệp tốt, làm những việc đức độ, với niềm tin sẽ đạt được cuộc sống tốt đẹp hơn, cộng với việc ngẫm nghĩ về những giáo huấn mà đã nghe, nhận được

 

 

Hơn nữa, Như từ : Bồ Tát Địa / Du-già hạnh Bồ Tát Địa luân ( ngài Vô Trước) đã nói trong Bồ-tát Địa (Bodhisattva-bhumi) [21] rằng sau khi quý vị phụ thuộc vào bốn hoàn duyên cảnh và bốn nguyên nhân này (có thể là1một cách riêng lẻ hay chung nhautất cả) để thì quý vị phát khởi được một triển ra Tâm giác ngộ vững chắc. Tâm giác ngộ này sẽ  nếu quý vịphát triển nuôi dưỡng nó từ sức mạnh của bản thân, hoặc từ sức mạnh của cácnguyên nhân,. Tâm này sẽ không vững chắc nếu quý vị phát triển từ sức mạnh của người khác, hoặc từ sức mạnh của sự áp dụngthỉnh cầu.

 

Một khi quý vị cần phảiđã hiểu rõ rằng những lời giáo pháp , những lời dạy nói chung, hay những giáo pháp Đại thừa nói riêng đang bị biến mất và rằng trong thời mạt phápkhông còn được hiển hiện một cách tỉ mỉ nữa trong thời đại suy thoái này thì việc nhận ra rằng một phát triển Tâm giác ngộ được phát triển từ sâu thẳm từ tráicủa con tim là hết sức hiếm cóquá giá. Tin cậy vào một sư phụ ưu tú, với sự cố gắng thực hành(bao gồm việc học, suy luận và vv... về tạng Kinh Điển Đại thừa), – và vun với sự cấc trồng cội rễ của sự phát triển Tâm giác ngộ từ tận đáy lòng, chứ không phải do bắt buộc của người khác, cũng không phải do thiếu suy xét mà theo chân người khác,chứ mà cũng không phải nhờ cậy vào người khác, chứ không phảitheo phong tục tập quán, mà các ngươi phải hết sức cố gắng do từ chính sức mạnh của bản thân mình.  để vun trồng phát triển Tâm giác ngộ„ Tất cả Bồ-tát hành đều phải cầnnhất thiết đặt trên nền tảng đó.




[1]Bồ-đề tâm (hay tâm giác ngộ, tinh thần giác ngộ) (skt. bodhicitta) là ước nguyện từ bi để đạt đến giác ngộ vì lợi ích của tất cả chúng sinh. Bồ-đề tâm được phân chia làm hai loại: (1) Bồ-đề tâm tương đối dẫn đến ước nguyện từ bi để thành tựu giải thoát vì lợi ích tất cả chúng sinh và để tu tập các phương tiện nhằm đạt mục đích này; (2) Bồ-đề tâm tối hậutrí tuệ trực chứng bản chất tối hậu của các hiện tượng. Riêng khái niệm Bồ-đề tâm tương đối còn được phân làm hai nhánh: (1) Bồ-đề tâm nguyện là ước nguyện đạt giác ngộ cho lợi ích các chúng sinh khác; và (2) Bồ-đề tâm hành bao gồm Bồ-đề tâm nguyện cùng với việc xúc tiến sáu hạnh Ba-la-mật-đa. Bodhichitta. Rigpa Shedra. Truy cập: 11/09/2011.

 <http://www.rigpawiki.org/index.php?title=Bodhichitta>.

[2]BA2 Paramitâ-samâsa 6.65-66; D3944: Khi 234b6-7. Hai thừa thấp hơn là Thanh VănDuyên Giác thừa.

[3]BA3 Ibid.: 6.67; D3944: Khi 234b7-235al.

[4]BA4 Śiya-lekha: 100-101; D4183: Nge 52a5-6.

[5]BA5 Ibid.: 102; D4183: Nge 52a7-bl.

[6]BA6 PS: 6.69; D3944: Khi 235a2.

[7]BA7 Bodhisattva-caryâvatâra: (BCA): 1.9a-c, 3.26cd. cũng được trích tại LRCM: 90.6; Great Treatise 1: 134.

[8]Nhắc lại, các thuật ngữ như “con Phật”, “con của Như Lai”, … ám chỉ các Bồ-tát (tại gia hay xuất gia) nếu được dịch theo từ ngữ Hán-Việt thì trở thành “Phật tử”. Tuy nhiên, vì ngày nay thuật ngữ này không còn gói gọn trong nghĩa nguyên thủy mà các kinh văn đề cập (tức là các Bồ-tát) nên để tránh nhầm lẫn chúng ta sẽ không dùng thuật ngữ Phật tử trong trường hợp kinh văn đề cập.

[9]BA8 Trích dẫn này từ Bhavana-krama (Giai Trình Thiền Phần Hai) (Bkl), Tucci 1958:501; D3915: Ki 24a5-6. Bản dịch trong Ârya-maitreya-vimoka (Di-Lặc Hữu Vi Giải Thoát) có lẽ là một phần của Buddhavatasaka-sûtra (Kinh Hoa Nghiêm), D44: A 323a5-bl với chút ít sai biệt.

[10]BA9 Ratnâvalî /Râja-parikathâ-ratnâvalî (Ra): 2.73cd-74ab; Hahn 1982: 66.

[11]BA10 Vajrapâi-abhieka-mahâ-tantra D496: Da 148b3-4.

[12]BA11 Gaṇḍa-vyûha-sutra (Phẩm Hoa Nghiêm) trong Buddhavatasaka-sûtra (Đại Phương Quảng Hoa Nghiêm Kinh) D44: Ka 309b 1. Trích dẫn tìm thấy trong Bkl, Tucci 1958: 502; D3915: Ki 25al.

[13]BA12 Mahâyânottara-tantra-úâstra (RGV): 1.34ab; D4024: Phi 7a6-7.

[14]BA13 Prajñâ-pâramitâ-stotra Pandeya 1994: verse 17; D1127: Ka 76b3-4. Tác giảthể không rõ quan trọng là Long Thụ, Lakúâ Bhagavati (Danh Thiên), và Rahulabhadra (La-hầu-la-đa-la).

[15]BA14 Ra: 4.90; Hahn 1982:126-127.

[16]BA15 Abhisamayâ-lakâra-prajñâpâramitopadeúa-úâstra (AA): l.lOab; D3786: Ka 2a5.

[17]BA16 BCA: 1.25,1.30bcd, 1.36ab, 3.32cd.

[18]BA17 Duy thức được chia thành nhóm Satyâkâravâdin (Thật tướng Duy thức) khẳng định sắc (nguyên tử) của màu xanh trong nhãn thức lĩnh hội màu xanh là thật và nhóm còn lại là Alikâkâravâdin (Huyễn tướng Duy thức) phủ nhận điều này. Xem thêm Great Treatise 3, note 535. Điều này có nghĩa là tư tưởng của Atiśa đã vượt trên sư phụ.

[19]BA18 BCA: 1.6bcd, 1.14ab, 1.21-22,1.12.

[20]BA19 AA: 1.18ab; D3786: Ka 2b5.

[21]BA20 Yogâ-caryâ-bhûmau-bodhisattva-bhûmi (Bbh), Wogihara 1971:16-17; D4037: Wi 10a7-b2.

Chương 8: Ba Loại Người

 

2. Làm thế nào để tận dụng lợi thế của một cuộc sống an lạcthuận duyên

a. Làm thế nào để phát triển tri thức tổng quát một cách chắc chắn về lộ trình tu tập

1) Nội dung bao hàm của tất cả kinh điển về các lộ trình của ba loại người như thế nào

2) Vì sao các đệ tử được hướng dẫn theo các giai đoạn áp dụng các rèn luyện dành cho ba loại người

a) Mục đích của việc hướng dẫn các đệ tử qua phương tiện của các lộ trình về ba loại người

b) Vì sao các đệ tử được hướng dẫn theo những giai đoạn như vậy

i) Nguyên nhân thật sự

ii) Mục đích


––––\––––


2. Làm thế nào để tận dụng lợi thế của một cuộc sống an lạcthuận duyên

Việc làm thế nào để tận dụng lợi thế của một cuộc sống an lạcthuận duyên được trình bày trong hai phần:

  1. Làm thế nào để phát triển tri thức tổng quát về lộ trình một cách chắc chắn
  2. Phương pháp thật sự để tận dụng lợi thế của một cuộc sống an lạcthuận duyên (Chương 9 và tiếp theo)


a.  Làm thế nào để phát triển tri thức tổng quát một cách chắc chắn về lộ trình

Phương thức phát triển tri thức tổng quan một cách chắc chắn về lộ trình gồm hai phần:

1. Nội dung bao hàm của tất cả kinh điển về các lộ trình của ba loại người như thế nào

2. Vì sao các đệ tử được hướng dẫn theo các giai đoạn áp dụng các rèn luyện dành cho ba loại người


1) Nội dung bao hàm của tất cả kinh điển về các lộ trình của ba loại người như thế nào

Ở lúc bắt đầu, một người muốn trở thành một vị Phật sẽ phát triển tâm Bồ-đề; ở giai đoạn giữa, người này tích lũy các công đứctrí tuệ tối thượng; và cuối cùng, người này chứng được Phật quả toàn hảo. Tất cả những hành động này chỉ nhằm đến mục tiêu hạnh phúc cho chúng sinh. Vì thế, tất cả những giáo pháp một vị Phật đưa ra chỉ giản dị là nhằm đạt đến lợi ích cho chúng sinh. Điều này tức là, lợi ích của chúng sinh chính là điều quý vị nên đạt được. [87] Lơi ích này bao gồm hai phần: mục tiêu tạm thời về việc trạng thái cao làm người hoặc một vị thiên, và mục tiêu rốt ráo về điều tốt đẹp chắc chắnsự giải thoát hay sự toàn giác. Giữa hai điều này, nhiều lời giáo huấn của đức Phật nói về việc đạt được mục tiêu tạm thời là trạng thái cao. Tất cả những giáo huấn này được bao gồm trong các lời dạy dành cho một hành giả chân chính có khả năng giới hạn {căn cơ nhỏ} hoặc trong những giáo pháp dành chia sẻ với một hành giả như vậy, bởi vì những cá nhân có khả năng đặc biệt giới hạn thật sự không làm nhiều cho kiếp sống này, mà họ nỗ lực tinh tấn để có trạng thái cao thù thắng khi tái sinh làm người hoặc trời trong những kiếp vị lai bằng cách xúc tiến nuôi dưỡng các nguyên nhân tạo ra các tái sinh đó. Tác phẩm Bồ-đề Đạo Đăng Luận nói rằng:[1]


Hãy biết rằng những ai “thấp nhất”

Nỗ lực chăm chỉ nhằm chỉ đạt

Các an vui trong cõi luân hồi

Bằng mọi cách cho hạnh phúc riêng họ.


Có hai điều tốt lành chắc chắn: sự giải thoátđơn thuần chỉ là tự do khỏi luân hồitrạng thái giải thoát tối thượng của toàn giác. Nhiều lời giáo huấn của đức Phật liên quan đến Duyên GiácThanh Văn thừa. Tất cả những tuyên thuyết này được đề cập trong các giáo pháp dành cho một hành giả có khả năng thật sự trung bình hoặc trong những giáo pháp dành chia sẻ với một hành giả như vậy, bởi những hành giả có khả năng trung bình sẽ phát khởi sự tỉnh giác với tất cả mọi thứ trong luân hồi và sau đó thiết lập mục tiêugiải thoát chính họ khỏi luân hồi. Rồi họ bước vào lộ trình của ba sự rèn luyện, phương tiện để đạt giải thoát. Trong tác phẩm Bồ-đề Đạo Đăng Luận:[2]


Những người được gọi là “trung bình”

Ngăn chận những hành vi tội lỗi

Quay lưng với an lạc trong luân hồi,

tinh tấn nỗ lực cho thanh tịnh riêng mình.


Tác phẩm Hạnh Hiệp Đăng Luận của Trưởng lão [Atiśa] nói rằng:[3]


Bởi bổn sư, đức Phật, nói rằng,

“Nương tựa Ba-la-mật và Chân ngôn thừa[4]

thành đạt được chân giác ngộ”,

Giờ ta sẽ viết về ý nghĩa điều này.


Theo đó, phương thức đạt đến toàn giác bao gồm hai phần: những Đại thừa của các Ba-la-mật-đa và Đại thừa của các chân ngôn {skt. mantra – còn gọi là mật chú}. Hai phần này được bao gồm trong những giáo pháp dành cho một hành giả thượng căn, vì những người này qua tác động của lòng đại bi, lấy Phật quả làm mục tiêu của họ nhằm dẹp tan mọi đau khổ của tất cả chúng sinh. Sau đó họ rèn luyện sáu Ba-la-mật-đa, hai giai đoạn[5], và tương tự. [88] Trong tác phẩm Bồ-đề Đạo Đăng:[6]


Những người được gọi là “thượng căn”

Thành tâm muốn dẹp tan tất cả

Mọi đau khổ của những người khác

Qua cách hiểu nỗi khổ chính mình.


Dưới đây, tôi sẽ diễn giải phương thức những người này đạt tới sự giác ngộ bao hàm trong cả Ba-la-mật-đa thừa lẫn mật chú thừa. Liên quan đến những điều kiện dành cho ba loại người, các lời giáo huấn này trong tác phẩm Bồ-đề Đạo Đăng Luận ý nghĩa tương tự với lời giáo huấn trong Quyết Định Yếu Luận của tác phẩm Du-già Hạnh Địa Luận:[7]


Hơn nữa, có ba loại người như sau: có những người trì giữ phát nguyện về giới là từ bỏ mười việc bất thiện, điều này vốn không được xem xét là một giới nguyện, tuy nhiên nó cũng tương tự như giới nguyện. Có những người phát nguyện về Thanh Văn giới. Có những người phát nguyện về Bồ-tát giới. Trong số này, loại người đầu tiên có khả năng thấp nhất; loại người thứ hai là trung bình; và loại người thứ ba là thượng hạng.


Ngoài ra, các kinh điển cũng đề cập nhiều cách để định vị một hành giả có khả năng thấp nhất, trung bình và thượng hạng. Tương tự Bồ-đề Đạo Đăng Luận của ngài Atiśa, tác phẩm Vi Diệu Pháp Báu Luận của ngài Thế Thân[8] cũng xác định ba loại người. Thật sự có hai loại trong số những hành giả mang khả năng giới hạn – những người nỗ lực cho kiếp sống này và những người nỗ lực cho những kiếp vị lai. Tuy nhiên, ở đây tôi đang nói đến trường hợp sau, những người sẽ được tôi nhận diệnthực hiện phương pháp đúng đắn để đạt địa vị cao.


2) Vì sao các đệ tử được hướng dẫn theo các giai đoạn áp dụng các rèn luyện dành cho ba loại người

Sự diễn giải này gồm hai phần:

1. Mục đích của việc hướng dẫn các đệ tử qua phương tiện của các lộ trình về ba loại người

2. Vì sao các đệ tử được hướng dẫn qua những giai đoạn như vậy


a) Mục đích của việc hướng dẫn các đệ tử qua phương tiện của các lộ trình về ba loại người

Tôi đã đưa ra sự diễn giải về ba loại người. Tuy nhiên, các giai đoạn trong lộ trình dành cho hành giả có khả năng cao cũng bao hàm trọn vẹn những lộ trình dành cho hai loại người còn lại. Vì thế, hai lộ trình này là những phần, hay những chi, của đạo Đại thừa. [89] Như đạoMã Minh đề cập trong tác phẩm Thế Tục Bồ-đề Tâm Tu Tập (Saṃvṛti-bodhicitta-bhâvanâ):[9]

 

Không hại ai, với tâm chân thật,

trong sạch; không hề trộm cắp,

bố thí mọi tài sản của ngươi

hành vi khiến tái sinh hạnh phúc.


Một khi thấy khổ đau của luân hồi,

Ngươi theo lộ trình đúng để rời khỏi nó,

Và loại trừ hai hành động tội lỗi;

Đó là hành vi khởi tạo sự an nhiên.


Người thượng căn nên tu tập tất cả điều này;

Đó là những ngả đường của sự quyết tâm tối cao cho giải thoát.

Tri nhận rằng chư pháp giai không

Tạo dòng chảy từ bi cho mọi chúng sinh.


Những phương tiện thiện xảo vô hạn

hoạt động của quyết tâm tối thượng để giải thoát.


Vì vậy, trong việc này các vị đạo sư không dẫn dắt quý vị theo con đường dành cho những hành giả có khả năng giới hạn, những người lập mục tiêu chỉ đơn thuầnhạnh phúc trong luân hồi, hay con đường dành cho những hành giả có khả năng trung bình, những người chỉ lập mục tiêu đơn thuầnsự giải thoát khỏi luân hồi cho bản thân họ. Đúng hơn là, các đạo sư chọn ra một số lộ trình có chung cho hai loại người này và dùng chúng làm những điều kiện tiên quyết để dẫn dắt quý vị theo lộ trình dành cho những hành giả thượng căn. Vì thế họ dùng chúng làm những thành phần của lộ trình rèn luyện dành cho những hành giả thượng căn. Do vậy, một khi quý vị đã phát triển ước mong tận dụng lợi thế của kiếp người an lạcthuận duyên này như giải thích trước đây, quý vị phải biết được làm cách nào để tận dụng lợi thế trọn vẹn của nó. Liên quan đến điều ấy, tác phẩm Trung Đạo Tâm Yếu Luận của ngài Thanh Biện nói rằng:[10]


Những tấm thân này thật quá mỏng manh,

Như cây chuối và như bong bóng nước.

Ai sẽ không mang lại cho chúng sự vững vàng như núi Tu-di

Bằng việc lấy chúng làm điều kiện để giúp đỡ cho những người khác?


Những tấm thân này là cơ sở của bệnh tật, tuổi già, và sự chết

Những ai có phẩm cách tốt và lòng từ bi

Khiến cho chúng trong từng khoảnh khắc

Làm nền tảng thăng tiến hạnh phúc của tha nhân.


Đời an lạc tránh khỏi tám duyên không an lạc

Do bởi ngọn đèn của giáo pháp tối thượng sáng soi

Hãy tận dụng thật tốt an lạc này

Qua hành động của một người thượng trí.


Vì vậy, hãy bước vào Đại thừa với suy nghĩ: “ngày đêm, tôi sẽ luôn ứng xử như một hành giả thượng căn, tận dụng tốt thân này, vốn là một nơi trú ngụ của bệnh tật, một cơ sở của các đau khổ, của tuổi già và điều tương tự, cũng như nó vốn thiếu vững chắc tựa như cây chuối hay bong bóng nước”.


Vấn: Từ lúc bắt đầu, vị đạo sư nên hướng dẫn đệ tử qua các tu tập của một hành giả thượng căn. [90] Đâu là công dụng của sự rèn luyện theo những lộ trình được chia sẻ với những hành giả có khả năng giới hạn và trung bình?

Đáp: Rèn luyện theo các lộ trình được chia sẻ với hai loại người này là một điều kiện tiên quyết cho sự phát triển lộ trình của một hành giả thượng căn. Tôi sẽ giải thích cách điều này là như thế.


b) Vì sao các đệ tử được hướng dẫn qua những giai đoạn như vậy

Việc vì sao các đệ tử được hướng dẫn qua những giai đoạn như vậy được diễn giải về các mặt nguyên nhân thật sự và mục đích.


i) Nguyên nhân thật sự

Đường vào Đại thừa chỉ có tâm Bồ-đề vô thượng. Một khi điều này phát sinh trong dòng tâm thức của quý vị thì như được đề cập trong tác phẩm Nhập Bồ-đề Hành Luận của ngài Tịch Thiên:[11]

 

Khi chúng sinh vô vọng,

Bị trói trong ngục tù

Luân hồi bao đau khổ

Phát khởi tâm Bồ-đề

Họ sẽ được gọi là

“con của đấng Thiện Thệ” [12]

Và thật đáng tôn vinh

Trong chư thiên, nhân giới.[13]


Vì thế, những chúng sinh này bước vào Đại thừa được đặt tên là “những đứa con của bậc Điều Ngự” hay “những vị Bồ-tát”. Nếu họ hủy hoại tâm Bồ-đề của mình, họ sẽ tự trục xuất bản thân ra khỏi đoàn thể những hành giả tu tập Đại thừa.

Do đó, những người ước mong bước vào Đại thừa phải phát triển tâm Bồ-đề này bằng cách thực hiện nhiều dạng nỗ lực. Những bản văn tối cao dạy về những giai đoạn của lộ trình Bồ-tát đạo, các tác phẩm Bồ-tát Học Luận Nhập Bồ-đề Hành Luận của ngài Tịch Thiên, đề cập đến phương pháp phát triển tâm Bồ-đề ấy. Các tác phẩm đó nói rằng trước tiên quý vị cần thiền quán về những ích lợi của nó. Sau đó, quý vị làm mạnh mẽ nỗi hân hoan về những lợi lạc này từ tận đáy lòng của mình. Điều này phải đồng hành với việc thực hành bảy hạnh nguyện {Phổ Hiền} cùng với sự thực hành quy y.

Nếu quý vị viết cô đọng lại những lợi ích được đề cập theo cách này, thì chúng bao gồm hai phần: tạm thời và rốt ráo. Phần đầu tiên lại gồm hai khía cạnh nữa: không rơi vào những cảnh giới khốn khổ và được tái sinh trong những cảnh giới hạnh phúc. Điều đó nghĩa là, một khi phát tâm Bồ-đề, quý vị sẽ loại bỏ được nhiều nguyên nhân tích lũy từ trước cho những sự tái sinh đau khổ, và quý vị chấm dứt sự tích lũy liên tục về chúng trong tương lai. Quý vị cũng tăng trưởng mạnh mẽ những nguyên nhân đã tích lũy từ trước cho những sự tái sinh hạnh phúc bởi chúng được thấm nhuần tâm Bồ-đề này. Hơn nữa, bởi quý vị được tâm Bồ-đề này thúc đẩy, nên những nhân mà quý vị gây tạo lại sẽ là khoog thể nào cạn kiệt. [91] Nương tựa tâm Bồ-đề này, quý vị sẽ dễ dàng đạt đến những mục tiêu cuối cùng, sự giải thoáttoàn giác.

Ngay từ lúc bắt đầu, quý vị phải có ước vọng chân thành mong cầu để đạt đến những lợi ích tối hậu và tạm thời này. Nếu không có điều đó, quý vị có thể nói rằng: “Tôi sẽ nỗ lực phát triển tâm Bồ-đề này” vì những lợi ích vốn sinh khởi từ việc phát triển tâm Bồ-đề, nhưng đó sẽ chỉ là những lời nói suông. Sự rỗng tuếch của lời tuyên bố này rất rõ ràng một khi quý vị kiểm chứng lại tâm thức của mình.

Vì thế, trước tiên quý vị phải rèn luyện trong tư tưởng chung cho những cá nhân có khả năng giới hạn và trung bình nhằm phát triển một niềm ước ao đạt được hai lợi ích, trạng thái cao [là người hoặc trời] và điều tốt lành chắc chắn [sự giải thoát hay sự toàn giác]. Sau khi phát triển được điều ước như vậy, quý vị nuôi dưỡng tâm Bồ-đề, là thái độ giúp sinh khởi những lợi ích ấy. Khi làm điều này, quý vị phải phát triển lòng đại từ bi vốn là nền tảng cho thái độ này. Nói cách khác, khi quý vị quán chiếu rằng mình đã lang thang trong luân hồi, bị mất đi hạnh phúc và bị nỗi đau khổ hành hạ như thế nào, thì những sợi lông trên người quý vị phải nên dựng đứng lên. Nếu không có sự trải nghiệm này, quý vị sẽ chẳng thể trở nên bất nhẫn với sự đau khổ của những chúng sinh khác khi họ phải chịu đựng và bị tước đi hạnh phúc bởi họ lang thang trong luân hồi. Trong tác phẩm Nhập Bồ-đề Hành Luận:[14]


Những ai chưa nghĩ tưởng

Đến một thái độ như vầy

Cho lợi ích riêng họ;

Thì ngay cả trong mơ

Làm sao khởi được nó

Cho hạnh phúc tha nhân?


Do vậy, trong bối cảnh người có khả năng giới hạn, quý vị quán chiếu cách mà mình bị hãm hại trong những cảnh giới khốn cùng đến như thế nào. Trong bối cảnh của hành giả có khả năng trung bình, quý vị quán chiếu theo phương cách rằng thậm chí ở trạng thái cao, thì cũng có đau khổ và không có được hỷ lạc an tịnh. Sau đó, quý vị thúc đẩy sự phát triển tình yêu thươnglòng từ bi bằng cách nuôi dưỡng sự đồng cảm với các chúng sinh, những người quý vị xem là gần gũi với mình. Từ đây quý vị sẽ phát tâm Bồ-đề. Vì thế, sự rèn luyện suy nghĩ chung với những người có khả năng giới hạn và trung bình là phương pháp phát khởi một tâm Bồ-đề chân thật; đó không phải là một lộ trình riêng biệt nào mà vị đạo sư dẫn dắt quý vị theo.

Tương ứng theo đó, quý vị thực hiện nhiều phương cách khác nhau để thanh tịnh hóa bản thân khỏi sự bất thiệntích lũy công đức nhờ sử dụng những tu tập để phát triển được cả thái độ chia sẻ với những hành giả có khả năng giới hạn lẫn thái độ chia sẻ với những hành giả có khả năng trung bình. Các ví dụ là việc quy y và việc suy nghĩ về nghiệp và nghiệp báo. [192] Hãy hiểu rằng những điều này cũng giúp quý vị phát tâm Bồ-đề, bởi chúng phù hợp với bảy hạnh nguyện Phổ Hiền hoặc với tu tập quy y, vốn là những phương pháp rèn luyện đóng vai trò tiên quyết cho tâm Bồ-đề trong bối cảnh của những tu tập dành cho hành giả thượng căn.

Ở điểm này, vị đạo sự trình bày chi tiết một cách xuyên suốt về những phương cách mà trong đó, các rèn luyện của những hành giả có khả năng giới hạn và trung bình đóng vai trò như các thành phần cho sự phát tâm Bồ-đề vô thượng. Hơn nữa, quý vị, người đệ tử, sẽ đạt đến tri thức chắc chắn về điều này. Sau đó, bất cứ khi nào quý vị duy trì thiền, điều tối quan trọng là quý vị giữ vững hiểu biết này trong tâm và rèn luyện những giáo pháp này như là các thành phần cho sự phát triển tâm Bồ-đề của quý vị. Nếu không, lộ trình của hành giả thượng căn và những lộ trình của những hành giả có khả năng giới hạn và trung bình sẽ bị tách biệt và không liên quan. Và bởi quý vị sẽ không đạt tri thức chắc chắn về tâm Bồ-đề nào cả cho đến khi quý vị đạt đến lộ trình thật sự của hành giả thượng căn, nên việc thiếu rèn luyện trong những chủ đề này, như là những phần của sự phát triển tâm Bồ-đề của quý vị, sẽ khiến ngăn trở quý vị không phát triển được tâm Bồ-đề ấy, hoặc, trong khi quý vị thiếu sự rèn luyện này, sẽ khiến cho quý vị lệch khỏi mục tiêu to lớn của bản thân về việc phát tâm Bồ-đề ấy. Do đó, hãy lưu ý kỹ ở điểm này.

Theo phương cách này, hãy rèn luyện theo các lộ trình của những hành giả có khả năng giới hạn và trung bình và rèn luyện tốt những điều được diễn giải trong bối cảnh dành cho hành giả thượng căn. Sau đó, bằng tất cả khả năng tốt nhất, hãy phát khởi một tâm Bồ-đề chân thật trong dòng tâm thức của mình. Tiếp theo, để tinh thần này trở nên ổn định, hãy tiến hành một sự tu tập đặc biệt về quy y và sau đó thực hiện nghi lễ về sự phát tâm Bồ-đề mạnh mẽ. Sau khi quý vị đã tiếp nhận tinh thần nguyện ước {Bồ-đề tâm nguyện} mạnh mẽ này qua nghi lễ, quý vị phải nỗ lực học hỏi các giới luật của nó. Tiếp đến, hãy phát triển sự ước ao mãnh liệt để học hỏi những hạnh Bồ-tát, như sáu Ba-la-mật-đa và bốn cách thu nhận đệ tử. Một khi sự ước ao này sinh khởi từ tận đáy lòng quý vị, hãy kiên định áp dụng lời thệ nguyện thanh tịnh về xúc tiến Bồ-đề tâm {Bồ-đề tâm hành}. Sau đó, với sự dấn thân, hãy tránh bị những vi phạm căn bản làm cấu nhiễm. Hãy nỗ lực để ngay cả những sự ô uế nhỏ nhoi và trung bình hoặc sự gây tạo những lỗi lầm cũng không làm quý vị ô nhiễm. Ngay cả nếu quý vị bị ô nhiễm, hãy làm thanh tịnh bản thân một cách triệt để bằng cách sửa đổi những sự vi phạm như được chỉ dạy trong kinh.

Tiếp theo, hãy rèn luyện bao quát về sáu Ba-la-mật-đa. Một cách cụ thể, hãy rèn luyện thật tốt về bình ổn thiền – cốt lõi của định – để làm cho tâm thức của quý vị có khả năng được đặt lên một đối tượng thiền thiện đức, theo sự ước mong của quý vị. [93] Tác phẩm Bồ-đề Đạo Đăng Luận của Trưởng lão[15] nói rằng quý vị nên phát triển định từ thiền nhằm sinh khởi những tri kiến siêu việt. Ngài dẫn ra một ví dụ đơn giản. Trong những tình huống khác, Ngài nói rằng quý vị nên phát triển định lực nhằm sinh khởi tuệ giác. Vì vậy, đạt được định chủ yếu nhằm mục tiêu cho tuệ. Sau đó, để cắt bỏ những trói buộc của quan niệm về hai bản ngã {nhân vô ngã (tib. གང་ཟག་གི་བདག་མེད) và pháp vô ngã (tib. ཆོས་ཀྱི་བདག་མེད)}, hãy lập một xác định triết lý về ý nghĩa của tánh Không, tức là sự vô ngã. Sau khi duy trì một phương pháp thiền không sai sót, hãy đạt đến sự thấu suốt, tức là trái tim của trí tuệ.

Theo đó, tác phẩm Bồ-đề Đạo Đăng Luận Thích của ngài Atiśa[16] đề cập rằng, ngoại trừ những tu tập về định và tuệ, tất cả những sự tu tập trong mức độ giới luậtbao gồm việc rèn luyện các giới luật của Bồ-đề tâm hành sẽ cấu thành việc rèn luyện giới luật. Định là việc rèn luyện về sự tập trung hoặc việc rèn tâm. Tuệ là việc rèn luyện về trí tuệ. Hơn nữa, tất cả những tu tập trong mức độ định từ thiền và bao gồm định từ thiền cấu thành nên nhân tố của sự giác ngộ được gọi là phương tiện, tức là sự tích lũy công đức, những đạo pháp phụ thuộc vào các chân lý ước lệ {tục đế}, hay còn được gọi là những giai đoạn của lộ trình bao quát. Sự phát triển của ba loại trí tuệ thấu suốt[17] cấu trúc nên nhân tố của sự giác ngộ được gọi là trí tuệ, sự tích lũy trí tuệ, vốn phụ thuộc vào những chân lý tối hậu {chân đế}, hay còn gọi là những giai đoạn của lộ trình uyên thâm. Vì thế, hãy biết thật chắc chắn về trình tự của chúng, về sự thật rằng chúng là một danh mục toàn diện, và rằng quý vị không thể đạt đến sự giác ngộ chỉ bằng phương tiện hay trí tuệ đơn thuần.

Đây là cách mà những chú ngỗng hoàng gia, những đứa con của bậc Điều ngự, tức những kẻ đang trên con đường ra đại dương mênh mông những phẩm hạnh diệu hảo của một vị Phật, sải đôi cánh của chúng và bay lên. Một cánh là những chân lý quy ước – tất cả những nhân tố về phương tiện, lộ trình bao quát. Một cánh kia, dựa vào những chân lý tuyệt đối, đang hiểu biết rõ cả thực tại lẫn vô ngã. Tuy nhiên, chúng không thể chỉ sử dụng một phần đơn lẻ của lộ trình, hay bay lên như chú chim gãy một cánh.[18] Như tác phẩm Nhập Trung Quán Luận Thích của ngài Nguyệt Xứng đề cập:[19]


Dang đôi cánh trắng và rộng của thực tại và ước lệ,

Những chú ngỗng hoàng gia, hộ tống bởi đàn chúng sinh,

Bay trên những ngọn gió đức hạnh để đạt đến vô thượng

Trên bờ xa, những phẩm hạnh Phật lớn tựa đại dương. [94]


Sau khi quý vị rèn luyện tâm thức bằng lộ trình thông thường, quý vị chắc chắn phải bước vào con đường mật chú bởi vì khi thực hiện, quý vị sẽ nhanh chóng hoàn thành hai sự tích lũy. Nếu quý vị không thể tu tập xa hơn lộ trình thông thường, hoặc không muốn làm điều đó do thiên hướng của quý vị thừa kế từ những kiếp trước quá yếu, vậy thì chỉ cần cải thiện trên từng giai đoạn này của lộ trình.

Quý vị được chỉ dạy rằng tất cả các thừa nói chung và mật chú thừa nói riêng nương tựa vào vị đạo sư đều rất cốt yếu. Bởi thế, một khi bước vào con đường chân ngôn, quý vị nên làm theo những sự giải thích về mật chú, và tu tập một pháp môn dựa vào vị đạo sư thậm chí còn chuyên sâu hơn những gì tôi diễn giải trước đây. Sau đó, hãy làm cho tâm thức quý vị trở nên chín muồi với những quán đảnh đến từ những nguồn Mật thừa thanh tịnh, trì giữ một cách đúng đắn với ngay cả sự rủi ro cho tính mạng của quý vị, về tất cả những lời thệ và nguyện mà quý vị nhận được trong suốt các quán đảnh của quý vị. Quý vị có thể phát nguyện lại nếu mình bị một sự vi phạm căn bản tác động, tuy nhiên tâm thức quý vị sẽ bị hư hoại, và sẽ rất khó khăn để tăng trưởng những phẩm hạnh diệu hảo. Vì thế, hãy nỗ lực một cách cụ thể để không bị những vi phạm căn bản làm hư hỏng và không bị những vi phạm thứ cấp làm ô nhiễm. Ngay cả nếu quý vị bị ô uế bởi những điều này, hãy thanh tịnh hóa bản thân với sự sám hối và kiềm chế, vì những sự thệ nguyện là nền tảng của lộ trình.

Tiếp đó hãy rèn luyện theo những lời hướng dẫn tốt đẹp về Du-già với các biểu tướng (nói về những cấp độ Mật thừa thấp hơn), hoặc Du-già của giai đoạn phát khởi (nói về Mật thừa Du-già ở mức cao nhất). Sau khi sự rèn luyện này đã vững vàng, hãy rèn luyện thật tốt về Du-già không biểu tướng (nói về những cấp độ Mật thừa thấp hơn), hoặc Du-già của giai đoạn hoàn mãn (nói về Mật thừa Du-già ở mức cao nhất).[20]

Tác phẩm Bồ-đề Đạo Đăng Luận trình bày phần chính yếu của lộ trình như vậy; những giai đoạn của lộ trình cũng hướng dẫn quý vị theo cách này. Đại Trưởng lão cũng đã giáo huấn điều này trong những bản văn khác. Tác phẩm Đại Thừa Đạo Thành Tựu Pháp Tập của Ngài nói rằng:[21]


Nếu ngươi ước mong chứng vô thượng Bồ-đề,

Vốn cao quý bất khả tư lường,

Hãy dốc lòng tu tậpthành tựu tâm Bồ-đề,

Bởi sự giác ngộ phụ thuộc vào tu tập. [95]

 

Bởi thân thể an lạcthuận duyên toàn hảo này

Thật khó lòng đạt được, và một khi nhận được

Sẽ rất khó mà sở hữu lại lần sau,

Hãy khiến nó đầy ý nghĩa nhờ nỗ lực tu tập.


tác phẩm Đại Thừa Đạo Thành Tựu Pháp Hạng Huống Tập của Ngài nói rằng:[22]


Khi một cơ duyên sinh khởi

Cho những phạm nhân trốn khỏi ngục tù,

Họ bỏ chạy khỏi nơi ấy,

Bởi mục tiêu họ không như những thường nhân.


Cũng thế khi cơ duyên sinh khởi

Để vượt qua biển cả luân hồi,

Ngươi trồi lên ra khỏi chốn luân hồi,

Bởi mục tiêu ngươi không như những kẻ khác.


Tương tự:[23]


Hành Bồ-tát giới bằng cách trì theo

Tu tập quy y, giữ giới cao hơn,

Và nền tảng Bồ-đề tâm nguyện mãnh liệt,

Hãy tu tập đúng đắn, theo các giai đoạn, bằng năng lực của ngươi,

Tất cả những Bồ-tát hành –

Sáu Ba-la-mật-đa và tương tự.


Hơn nữa:[24]


Nuôi dưỡng trí huệ tâm và phương tiện

Trí huệ định lực, và hợp nhất chúng.


Ngoài ra, tác phẩm Định Tập Phẩm của Bodhihadra {Giác Hiền} đề cập rằng:[25]


Đầu tiên, hãy vững vàng tâm Bồ-đề toàn hảo của ngươi,

Sinh khởi từ sức mạnh từ bi.

Đừng tham chấp tận hưởng những nguồn vui trong luân hồi,

Và quay lưng đừng bám lấy chúng.

Được ban những bảo vật toàn hảo như niềm tin,

Hãy tôn kính đạo sư của ngươi, người ngang hàng đức Phật.


Với những lời nguyện đạo sư đã dạy,

Hãy tinh tấn trong thiền.

Nhận qua lòng từ của thầy

Sự ban tặng những quán đảnh, cả bình cam lồmật ngữ.


Làm thanh tịnh thân, khẩu, và ý,

Những hành giả như vậy thích hợp để chứng ngộ.

Bằng việc hoàn thành những sự tích tập

Sinh khởi từ định chi,

Họ sẽ chóng đạt sự chứng ngộ vô thượng.

Đó là con đường của mật chú.


ii) Mục đích

Vấn: Nếu những giáo pháp dành cho những hành giả có khả năng giới hạn và trung bình là các điều kiện tiên quyết cho hành giả thượng căn, chúng có lẽ cũng được xem là những giai đoạn cho lộ trình của hành giả thượng căn. [96] Vì sao lại sử dụng thành ngữ này: “các giai đoạn của lộ trình được chia sẻ với những hành giả có khả năng giới hạn và trung bình”?

Đáp: Có hai mục đích to lớn của việc phân biệt ba loại người và theo đó hướng dẫn các đệ tử: (1) điều đó đánh tan suy đoán cho rằng quý vị là một hành giả thượng căn cho dù không phát triển những trạng thái tâm thức tương tự như những hành giả có khả năng giới hạn và trung bình, và (2) điều đó mang lại lợi ích to lớn cho những người có tâm thức ở mức tốt nhất, trung bình và thấp nhất. Nó mang lợi ích cho họ như thế nào? Ngay cả hai loại hành giả có khả năng cao hơn cũng phải tìm cầu địa vị cao và sự giải thoát, vì vậy không có gì sai lầm khi giáo huấn các đệ tử có khả năng trung bình và cao về những sự tu tập phát triển những thái độ của những hành giả có khả năng giới hạn và những hành giả có khả năng trung bình. Họ sẽ phát triển được những phẩm hạnh diệu hảo.

Những hành giả có khả năng giới hạn nhất có thể rèn luyện những sự tu tập cao hơn, nhưng điều này sẽ dẫn đến việc họ từ bỏ nhãn quan thấp hơn của họ mà lại không tăng trưởng lên được một nhãn quan cao hơn, và vì vậy họ sẽ không được gì cả. Hơn nữa, có thể có những hành giả nhiều thiện duyên đã phát khởi những lộ trình cao hơn trong những kiếp trước. Nếu họ được giáo huấn về những lộ trình chia sẻ với những hành giả khả năng thấp hơn và sau đó rèn luyện chúng, thì họ sẽ nhanh chóng tăng trưởng những phẩm hạnh diệu hảo đã phát khởi trước đó hoặc những phẩm hạnh chưa phát khởi từ trước. Vì vậy, bởi họ đã phát khởi những lộ trình thấp hơn, nên họ có thể được dẫn dắt theo những lộ trình lần lượt cao hơn, và do đó lộ trình của chính họ đã tu tập trong những kiếp trước sẽ không bị trì hoãn.

Tác phẩm Chân Ngôn Vương Vấn Kinh[26] dùng ví dụ về một thợ kim hoàn khéo tay dần dần tinh luyện được món trang sức để minh họa sự cần thiết cho việc hướng dẫn tâm thức của đệ tử theo các giai đoạn. Để thận trọng tránh sự dài dòng, tôi không trích dẫn chúng đầy đủ ở đây. Vị hộ pháp Long Thọ cũng đã hướng dẫn các đệ tử theo những giai đoạn trong suốt những lộ trình để đạt đến địa vị cao và sự tốt lành chắc chắn:[27]

Ban đầu có những giáo pháp về trạng thái cao;

Rồi đến với những giáo pháp về sự tốt lành chắc chắn.

Bởi khi đạt đến trạng thái cao,

Ngươi dần vươn tới sự tốt lành chắc chắn.


Tương tự, Tôn giả Vô Trước cũng nói rằng:[28]


Hơn nữa, các vị Bồ-tát hướng những đệ tử của họ thành tựu nhân tố đức hạnh của sự giác ngộ một cách đúng đắn và theo các giai đoạn. Để làm được điều này, ban đầu họ đưa ra những giáo pháp dễ dành cho những chúng sinhtrí tuệ non trẻ, yêu cầu họ tu tập theo những huấn thị và giải nghĩa ở mức dễ dàng. Khi nhận thấy trí tuệ của những chúng sinh này phát triển lên khả năng trung bình, các vị yêu cầu họ tu tập những giáo pháp và huấn thị ở mức trung bình, và những sự giải nghĩa trung bình. [97] Khi nhận thấy trí tuệ của những chúng sinh này trở nên rộng mở, các vị yêu cầu họ tu tập những giáo pháp và huấn thị uyên thâm, và những sự giải nghĩa vi diệu. Đây là luồng hoạt động mang tính quyết định cho hạnh phúc của những chúng sinh này.


Ngoài ra, tác phẩm Hạnh Hiệp Đăng Luận của ngài Thánh Thiên mô tả phương pháp trước tiên quý vị rèn luyện tư duy về Ba-la-mật-đa thừa và sau đó bước vào mật chú thừa. Tác phẩm chứng minh rằng quý vị phải thực hiện điều này theo các giai đoạn. Sau đó điểm này được tóm tắt như sau:[29]


Phương pháp những chúng sinh khởi đầu

Tham gia vào mục tiêu tối thượng

Được đức Phật toàn hảo huấn thị

Tương tự từng bậc của cầu thang.


Hơn nữa, tác phẩm Tứ Bách Kệ Tụng[30] cũng đề cập rằng trình tự của con đường là xác định:


Thoạt tiên, ngừng các việc thất đức.

Tiếp theo, ngừng sai lầm về ngã.

Cuối cùng, dứt tất cả tà kiến;

Ai hiểu điều này là bậc tinh thông.

Tương tự, vị đa văn đạo sư Mẫu Hầu đã nói rằng:[31]


Tựa như việc nhuộm vải không còn vết nhơ:

Trước tiên họ phát triển điều thiện trong tâm đệ tử

Thông qua những bàn luận về bố thítương tự,

Và rồi họ bảo đệ tử quán tưởng về giáo pháp.


Viện dẫn bản văn này, đại sư Nguyệt Xứng cũng cho rằng đạo pháp có một trình tự xác định. Vì trình tự mà chúng tôi dùng để hướng dẫn những người khác đi theo con đường một cách rõ ràng là rất thiết yếu cho sự tu tập của họ, hãy đạt đến sự chắc chắn vững vàng về phương pháp này.




 


 

Chương


[1]BA216 Bodhi-patha-pradîpa, P5343: 20.4.5-6.

[2]BA217 Ibid., P5343: 103, 20.4.5.

[3]BA218 Caryâ-saṃgraha-pradîpa, P5379:186.3.6-7.

[4]Ở đây Chân ngôn thừa là tên gọi khác của Mật thừa và xin phân biệt với Chân ngôn tông của Trung Hoa.

[5]Tức là Giai đoạn Phát khởi và Giai đoạn Hoàn tất hay Hoàn mãn trong tu tập Mật thừa.

[6]BA219 Bodhi-patha-pradîpa, P5343: 20.4.6.

[7]BA220 Tác phẩm Du-già Hạnh Địa Luận - rNal 'byor spyod pa'i sa mam par gtan la dbab pa bsdu ba (Vs), P5539: 9.2.4-5. P5539, tập 110 được trích dẫn khác nhau như gTan la dbab pa bsdu pa (Viniścaya-saṃgrahaṇi) rNam par ngcs pa bsdu pa (Nirṇaya-saṃgraha). Tên đầy đủ trong danh mục Pali là Yogâ-caryâ-bhûmau-nirṇaya-saṃgraha.

[8]BA221 Abhidharma-koúa-bhâṣya (AKbh), P5591:189.1.4-6.

[9]BA222 Saṃvṛti-bodhicitta-bhâvanopadeúa-varṇa-saṃgraha, P5307:18.3.4-7.

[10]BA223 Madhyamaka-hṛdaya-kârikâ, P5255: 3.4.2-4.

[11]Ý trong hai câu thơ cuối của đoạn kệ này không thấy trình bày trong bản Anh ngữ mà chúng được thay bằng dấu …, nhưng lại có thấy trích dẫn trong bản chú giải của Sopa Rinpoche nên chúng tôi thay thế các các dấu chấm này cho rõ. Steps on the Paht to Enlightenment. P248. Vol1. Lhundub Sopa. Wisdom. 2004.

[12]“con của đấng Chiến Thắng”, “con Phật”, “con của đấng Thiện Thệ” v.v... chỉ đến các Bồ-tát đã thọ giới và được xem như trong gia đình con Phật. Chữ Hán-việt ban đầu là “Phật tử” nhưng về sau, chữ này đã bị mở rộng về mặt nội hàm bất kể là cho người có Bồ-tát giới hay không. Cho nên từ “Phật tử” có thể gây hiểu nhầm dù không sai về cách viết.

[13]BA224 BCA: 1.9a-c; P5272: 245.2.3-4.

[14]BA225 Ibid.: 1.24; P5272: 245.3.6-7.

[15]BA226 Bodhi-patha-pradîpa, P5343: 21.2.6-7.

[16]BA227 Bohdi-mârga-pradîpa-pañjikâ-nâma, P5344, vol. 103.

[17]Ba loại trí huệ hay tam minh (chn. 三智) này được giải thích trong Giáo Pháp Về Đại Bát-nhã Ba-la-mật-đa, bao gồm (1) trí huệ thấu hiểu khía cạnh phổ dụng của các pháp. Đây là loại trí huệ của Thanh Văn thừaDuyên Giác thừa thấy biết được chân lý về bản chất không cố hữu không thật có của các hiện tượng {các pháp}, (2) Trí huệ thấu hiểu về các lộ trình khác nhau đến giác ngộ. Chư Bồ-tát có loại trí huệ này vốn khiến họ thấy biết về khía cạnh đặc thù về sự tồn tại hay chân lý về sự tồn tại tạm bợ, cũng như là nhiều lộ trình khác nhau đến giác ngộ, nên theo đó họ có thể cứu độ các chúng sinh khác, (3) trí huệ hiểu biết cả khía cạnh phổ dụng lẫn khía cạnh đặc thù của các pháp. Đây là trí huệ Phật hay Phật trí. Phật trí vốn nhận thức cả hai khía cạnh này của toàn thể các pháp còn gọi Trung Đạo, cũng như nhận thức về nhiều lộ trình đến giác ngộ khác nhau. Tuy nhiên, theo như giải thích của Sopa Rinpoche thì có vẻ như ngài Sopa ám chỉ đó chính là Tam Vô Lậu Học (giới định và tuệ). Xem thêm chi tiết trong chú thích kế.

 three kinds of wisdom. The Soka Gakkai Dictionary of Buddhism. Truy cập 12/02/2012.

 <http://www.sgilibrary.org/search_dict.php?id=2343>.

[18]Trong chú giải đến ba đoạn giảng luận cuối này, theo giải thích của Sopa Rinpoche thì tu tập sáu Ba-la-mật-đa tương ứng với Tam vô lậu học (giới-định-tuệ) như sau: bốn Ba-la-mật-đa đầu là giới, Ba-la-mật-đa thiền địnhđịnhTrí huệ Ba-la-mật-đa là tuệ. Việc tu tập để đạt giác ngộ được so sánh như hai cánh chim bay đến thành tựu, không có cả hai thì không thể đạt giác ngộ. Cánh chim thứ nhất là phương tiện bao gồm tất cả các tu tập từ đầu cho đến nhất tâm định, được xem là khía cạnh tích lũy công đức và được chú trọng nhưchân lý ước lệ (tục đế). Cánh chim còn lại là tất cả các loại tu tập để đạt đến sự chứng ngộ trực tiếp về bản chất thật sự của con người (bản ngã người) và các pháp cũng như là chính trí tuệ này. Các tu tập này được xem là sự huân tập về trí huệ và được chú trọng nhưchân lý tối hậu (chân đế).

 Steps on the Path to Enlightenment. Vol1. P292. Lhundub Sopa. 2004.

[19]BA228 Madhyamakâvatâra-nâma: 6.226; P5262:106.2.4-5.

[20]Du-già với biểu tướng là loại thiền mà trong đó hành giả quán tưởng sự trình hiện của một bổn tôn hay một giác thể và mật chú trong mục tiêu thành tựu sắc thân Phật, loại thiền này không liên hệ đến hiểu biết về tính Không. Loại thiền lên tính Không trong đó nhắm đạt đến trực chứng tính Không được gọi là Du-già không có biển tướng. Xem thêm chuyên về chủ đề này: Yoga Tantra: Paths to Magical Feats. Dalai Lama, Tsongkhapa and Jeffrey Hopkins. Snow Lion. 2005.

[21]BA229 Mahâyâna-patha-sâdhana-saṃgraha, P5352:51.5.23.

[22]BA230 Mahâyâna-patha-sâdhana-varṇa-saṃgraha, P5351:50.3.3-5.

[23]BA231 Ibid., P5351: 50.4.8-50.5.2.

[24]BA232 Ibid., P5351: 51.3.5-6.

[25]BA233 Samâdhi-saṃbhâra-parivarta, P3288: 257.5.2-5.

[26]BA234 Đà-ra-ni Vương Vấn Kinh - gZungs kyi dbang phyug rgyal pos zhus pa (Dhâraṅîúvara-râja-paripṛcchâ) tác phẩm Arya Ârya-tathâgata-mahâ-karuṇâ-nirdeúa-nâma-mahâyânâ-sûtra, P814:300.5.4.

[27]BA235 Raja-parikatha-ratnavall, Ra: 1.3-4; P5658:173.5.7-8.

[28]Bbh, P5538:186.1.3-6.

[29]Carya-melapaka-pradipa, P2668: 295.3.8-295.4.1.

[30]Cś: 8.15; P5246:136.3.2-3.

[31]Trong tác phẩm Nhất Bách Ngũ Thập Kệ Tụng - Sata-pancasatka-natna-stotra (Một trăm năm mươi kệ xưng tụng): 12.5; P2038. Tác giả là ngài Mã Minh theo bản Pali.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 130)
Evaṃ me sutaṃ, “như vầy tôi nghe”, là lời Ngài Ananda bắt đầu mỗi bài kinh mà có lẽ không Phật tử nào là không biết.
(Xem: 8619)
Nếu tính từ thời điểm vua Lương Vũ Đế tổ chức trai hội Vu lan ở chùa Đồng Thái vào năm Đại Đồng thứ tư (538), thì lễ hội Vu lan của Phật giáo Bắc truyền đã có lịch sử hình thành gần 1.500 năm.
(Xem: 407)
Phật dạy giới này áp dụng chung cho tất cả các Phật tử tại gia, không phân biệt Phật tử này thuộc thành phần hay đẳng cấp xã hội nào.
(Xem: 367)
Sa-môn Thích Đàm Cảnh dịch từ Phạn văn ra Hán văn, tại Trung-quốc, vào thời Tiêu-Tề (479-502). Cư sĩ Hạnh Cơ dịch từ Hán văn ra Việt văn, tại Canada, năm 2018.
(Xem: 1686)
Đức Phật A Di Đà tự thân có ánh sáng vô lượng, chiếu khắp cả mười phương mà không có vật gì có thể ngăn che. Vì vậy nên Phật A Di Đà có nghĩa là Vô Lượng Quang Phật.
(Xem: 1764)
Nguyên tác Hán văn: Tì-kheo Linh Diệu, tông Thiên Thai soạn - Dịch sang tiếng Việt: Thích Thọ Phước
(Xem: 1794)
Ngài Buddhaghosa sanh ra và lớn lên nước Magadha, thuộc Trung Ấn Độ, vào thế kỷ thứ V trong ngôi làng Ghosa, gần địa danh nơi đức Phật thành đạo Bodhigaya
(Xem: 1777)
Nghiên Cứu Về Kinh A Hàm (Ãgama, Sanscrist)
(Xem: 2568)
Ai nói như sau, này các Tỷ-kheo: "Người này làm nghiệp như thế nào, như thế nào, người ấy cảm thọ như vậy, như vậy".
(Xem: 2070)
Đây là những điều tôi nghe hồi Bụt còn ở tại tu viện Cấp Cô Độc trong vườn cây Kỳ Đà ở thành Vương Xá.
(Xem: 2061)
Vào thời Đức Thích-ca-mâu-ni, không có hệ thống chữ viết được phổ biếnẤn Độ. Do đó, những thuyết giảng của Ngài được ghi nhớ và ...
(Xem: 2364)
"Lại nữa, lúc bấy giờ Mahāmati thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, ngài đã từng dạy rằng: từ lúc Như Lai chứng nghiệm giác ngộ cho đến...
(Xem: 2860)
Kinh Địa Tạng là một trong các kinh Đại thừa được phổ biến rộng rãi trong quần chúng Việt Nam từ hơn nửa thế kỷ nay song song với các kinh Kim Cương, Di Đà, Phổ Môn...
(Xem: 3419)
Nguyên tác: Tôn giả Thế Thân (Acarya Vasubandhu) - Hán dịch: Tam Tạng Pháp sư Huyền Tráng; Việt dịch: Tỳ khưu Tâm Hạnh
(Xem: 2189)
No. 1613 - Nguyên tác: Tôn giả An Huệ; Dịch Hán: Tam Tạng Pháp sư Địa-bà-ha-la; Dịch Việt: Tâm Hạnh
(Xem: 3080)
Duy thức nhị thập luận, do bồ tát Thế Thân soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường... được thu vào Đại chính tạng, tập 31, No.1590.
(Xem: 3003)
Bồ-tát Trần Na tạo luận. Tam tạng Pháp sư Huyền Trang phụng chiếu dịch. Việt dịch: Quảng Minh
(Xem: 4894)
Nghe như vầy, một thời Đức Phật ở nước Xá Vệ ở vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc cùng chúng đại Tỳ Kheo năm trăm vị. Bấy giờ các thầy Tỳ Kheo...
(Xem: 3142)
No. 699; Hán dịch: Đời Đại Đường, Trung Thiên Trúc, Tam tạng Pháp sư Địa bà ha la, Đường dịch là Nhật Chiếu
(Xem: 3447)
Đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni, bắt đầu chuyển pháp-luân, độ cho năm vị Tỳ-Khưu là Tôn-giả Kiều-Trần-Như v.v... Sau cùng, Ngài thuyết pháp độ cho ông Tu-bạt-đà-la.
(Xem: 2567)
Kinh Phạm Võng nằm trong Đại Chánh Tạng, tập 24, ký hiệu 1484, gọi đủ là Phạm võng kinh Lô xá na Phật thuyết bồ tát tâm địa giới phẩm đệ thập
(Xem: 3248)
Phật thuyết-giảng Kinh Phạm-Võng để dạy về giới-luật, và các pháp cao-siêu vượt thoát được sáu mươi hai kiến-chấp vốn là các tà-kiến đã...
(Xem: 2808)
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana, vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc). Ở đây,,,
(Xem: 3332)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Kinh Tập, Kinh số 0434; Dịch Phạn - Hán: Tam Tạng Cát-ca-dạ, Dịch Hán - Việt và chú: Tỳ-kheo Thích Hạnh Tuệ; Hiệu đính: HT Thích Như Điển
(Xem: 2559)
Đời Đường, Thận Thủy Sa Môn Huyền Giác Soạn; Thánh Tri dịch nghĩa Việt và viết bài học giải...
(Xem: 2919)
Phật giáo được khai sáng ở Ấn-độ vào năm 589 trước kỉ nguyên tây lịch (năm đức Thích Ca Mâu Ni thành đạo), và đã tồn tại liên tục, phát triển không ngừng trên ...
(Xem: 3304)
Trong truyền thống Phật giáo Bắc truyền, Dược Sư là một bản kinh thường được trì tụng nhằm mục đích giải trừ tật bệnh, cầu nguyện bình an...
(Xem: 3328)
Thích-ca là phiên âm của tiếng Phạn. Phiên âm Hán Việt là Năng Nhân. Tức là họ của đấng hóa Phật ở cõi Ta-bà...
(Xem: 4296)
Kinh chuyển Pháp luân là bài thuyết Pháp đầu tiên của Đức Phật Thích-ca sau khi Ngài đã đắc đạo.
(Xem: 3804)
Ba Ngàn Oai Nghi Của Vị Đại Tỳ Kheo - Được xếp vào tập T24 - Kinh số 1470 - Tổng cộng kinh này có 2 quyển
(Xem: 3759)
Những gì xảy ra trong thế giới này đều bị qui luật Nhân quả chi phối. Mọi thứ xuất hiện ở đời đều có nhân duyên. Hạnh phúcthế gian hay Niết bàn của người tu đạo không ra ngoài qui luật ấy.
(Xem: 4239)
Satipatthana Sutta là một bản kinh quan trọng làm nền tảng cho một phép thiền định chủ yếu trong Phật giáo là Vipassana...
(Xem: 3646)
Kinh Tứ Thập Nhị Chương là một bài Kinh được truyền bá khá rộng rải ở các Tồng Lâm Tự Viện của Trung QuốcViệt Nam từ xưa đến nay.
(Xem: 3244)
Bản dịch này được trích ra từ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh Vol. 48, No. 2010. Bởi vì lời dạy của Tổ Tăng Xán quá sâu sắc, súc tích, và bao hàm trong 584 chữ Hán,
(Xem: 4117)
Dịch từ Phạn sang Tạng: Kluḥi dbaṅ-po, Lhaḥi zla-ba; Dịch Tạng sang Việt: Phước Nguyên
(Xem: 5121)
Trí Phật là trí Kim – cang, Thân Phật là thân Kim – Sắc, cõi Phật là cõi Hoàng – kim, lời Phật tất nhiên là lời vàng.
(Xem: 3768)
Bấy giờ Hòa Thượng Vakkali nhìn thấy Đức Phật đang đi đến từ xa, và ông đã cố gắng ngồi dậy.
(Xem: 6587)
Xin dâng hết lên Tam Bảo chứng minh và xin Quý Ngài cũng như Quý Vị tùy nghi xử dụng in ấn tiếp tục hay trì tụng cũng như cho dịch ra những ngôn ngữ khác...
(Xem: 6280)
Niệm Phật Tâm Muội do HT Hư Vân soạn, Sa môn Hiển Chơn dịch; Tọa Thiền Dụng Tâm Ký do Viên Minh Quốc Sư soạn, HT Thích Thanh Từ dịch
(Xem: 4254)
Khi Bồ-tát Quán Tự Tại hành sâu Bát-nhã Ba-la-mật-đa, ngài soi thấy năm uẩn đều KHÔNG, liền qua hết thảy khổ ách.
(Xem: 20171)
Viết ra các bài Phật học thường thức này, chúng tôi không có tham vọng giới thiệu toàn bộ Phật pháp và chỉ cốt giúp cho các bạn sơ cơ hiểu được một cách đúng đắn, đạo lý năm thừa trong Phật giáo mà thôi.
(Xem: 3677)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, Kinh văn số 1675. Tác giả: Long Thọ Bồ Tát; Sa Môn Sắc Tử dịch Phạn sang Hán; HT Thích Như Điển dịch Việt
(Xem: 7131)
Thuở đó đức Phật đang ngự tại rừng Ta-la-song-thọ, ở ngoại ô thành Câu-thi-na, thuộc lãnh thổ trị vì của bộ tộc Lực-sĩ.
(Xem: 4605)
Đức Thế Tôn từ nơi cung trời Đâu-suất sinh xuống thành Ca-duy, chán đời sống dục lạc ở vương cung, thành tựu đạo chơn thường dưới cội cây...
(Xem: 4401)
Kinh Rong Chơi Trời Phương Ngoại là một phẩm của Kinh Pháp Cú Hán tạng có tên là Nê Hoàn Phẩm. Nê HoànNiết bàn (Nirvana, Nibbâna).
(Xem: 3934)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, quyển thứ 32, luận tập bộ toàn, kinh văn số 1637. HT Thích Như Điển dịch
(Xem: 4267)
Đây là kinh Pháp Quán Phạm Chí. Khung cảnh dựng lên cho kinh cũng giống như khung cảnh của kinh thứ mười một...
(Xem: 5813)
Đại Chánh Tân Tu đại tạng kinh, quyển thứ 32, kinh văn số 1680, luận tập bộ toàn. HT Thích Như Điển dịch Việt
(Xem: 4448)
Một thời, đức Bhagavat trú tại Vārāṇasi, nơi xứ Ṛṣipatana, trong rừng Mṛgadāva. Bấy giờ, đức Thế Tôn nói:
(Xem: 4137)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh quyển 32, luận tập bộ toàn, kinh văn 1671; HT Thích Như Điển dịch sang tiếng Việt.
(Xem: 4210)
Kinh Bát Đại Nhân Giác này của Đại Sư An Thế Cao từ nước An Tức sang Trung Quốc vào thời Hậu Hán (năm 132-167 sau công nguyên) soạn dịch.
(Xem: 4428)
Năm nay (2016) trong chương trình của tôi, không dự định đi sang Úc, nhưng ngày 23 tháng 6 năm 2016 vừa qua...
(Xem: 5099)
Tôi được nghe như vầy: một thuở nọ, Đức Thế Tôn đang ngụ tại vườn Nai, ở Isipatana gần Bénarès. Lúc bấy giờ...
(Xem: 3852)
Nay ở nơi chư Phật Chắp tay kính đảnh lễ Con sẽ như giáo nói Tư lương Bồ-đề Phật.
(Xem: 5220)
Lúc bấy giờ, ngài Vô-Tận-Ý Bồ-Tát (1) liền từ chỗ ngồi đứng dậy trịch áo bày vai hữu (2), chấp tay hướng Phật mà bạch rằng:
(Xem: 5098)
Bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (Taisho Shinshu Daijokyo) xuất xứ từ thời Vua Taisho (Đại Chánh) ở Nhật Bản từ đầu thế kỷ thứ 20.
(Xem: 6752)
Có lẽ Lăng Già là một trong những bộ kinh phân tích cái Tâm một cách chi li, khúc chiết nhất trong kinh điển Phật giáo.
(Xem: 4952)
Tôi nghe như vầy. Có một lúc, Đức Phật đã sống ở gần Xá Vệ (Savatthi) trong Khu Rừng Kỳ Đà (Jeta Wood) ở tu viện Cấp Cô Độc
(Xem: 5784)
Đại Chánh Tân Tu Đại tạng Kinh, quyển thứ 32 thuộc Luận Tập Bộ Toàn. Kinh văn số 1641. HT Thích Như Điển dịch
(Xem: 4662)
Thưa Tôn giả Gotama, những ngày về trước, những ngày về trước nữa, rất nhiều Sa-môn, Bà-la-môn là du sĩ ngoại đạo ngồi...
Quảng Cáo Bảo Trợ