Logo HHAD 2018 250
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
14,703,407
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

1.4.4 Diệu Vị - Phân Tích Cái Diệu Thứ Tư Thuộc Tích Môn

28 Tháng Năm 201000:00(Xem: 3426)
1.4.4  Diệu Vị - Phân Tích Cái Diệu Thứ Tư Thuộc Tích Môn

Trí Khải Đại Sư 
PHÁP HOA HUYỀN NGHĨA

PHẬT HỌC THIÊN THAI TÔNG

Nguyên tác: The Profound Meaning of the Lotus Sutra by Haiyan Shen - Từ Hoa dịch
Nhà xuất bản Phương Đông 2008

 

QUYỂN HAI

Phần Hai
ĐẶC TÍNH CÁ BIỆT CỦA NGŨ HUYỀN 

ĐỐI VỚI SỰ CHÚ GIẢI KINH PHÁP HOA

(Huyền Nghĩa, Ch.1-10, T33, 691a - 814a)

1.4.4 Diệu Vị (Wei Miao) - phân tích về cái Diệu thứ tư thuộc Tích Môn (T33, 726b - 741b) 

‘Diệu Vị’ là mục thứ tư trong Tích Môn Thập Diệu. Theo học thuyết của Trí Khải Đại Sư, yếu tố nền tảng liên quan đến việc dựng lập nên Phật giáo là Thể, Tông, và Dụng. Ba yếu tố được Trí Khải lần lượt đưa ra qua ba đề mục Cảnh như thực, Trí, và Hành. Phần nói về ‘Vị’ sau đây cho thấy rằng sự thành tựu của chúng sinh là kết quả từ việc áp dụng ba phối cảnh nói trên, và vì vậy có cái dụng đúc kết ba đề mục trước. Bởi vì có bốn thứ lớp trong sự hiểu chân lý, sự đưa trí vào chỗ hội nhập chân lý, và sự đưa trí vào chỗ thực dụng, có những Vị khác nhau được phân ra bốn loại chính.. Vì vậy, phân tích về Diệu Vị của Trí Khải là đưa vào hệ thống quả vị hành trì các thừa khác nhau, do đó các thừa được xác định có khả năng phục vụ như phương tiện đưa đến giải thoát. Đồng thời, Phật thừa nhấn mạnh vào sự khác biệt là chân thừa đạt đến giải thoát tối thượng của Phật giới. Nói cách khác, Diệu Vị biểu thị ba đề mục (Cảnh, Trí, và Hành), và chống vững đường lối phân loại của Đại sư về Tứ giáo. Với cách phân tích lập thành hệ thống bốn phần nầy, những phân chia khác nhau về giáo và hành theo lời Phật hội tụ vào một khối chặt chẻ, và có thể cùng có mặt mà không sa vào chỗ lầm lẩn và trái nghịch. Trong khi xác định sự phân chia của giáo pháp Phật, Trí Khải nói rõ bản hoài của Thế Tôn nằm sẳn trong giáo lý, chỉ vì hướng tâm chúng sinh đạt đến Phật địa. Mục tiêu đạt đến Phật giới nầy càng rõ rệt hơn qua hệ thống định phân về Vị của Trí Khải: bất kể thấp hoặc cao, tất cả hành giả ở những quả vị khác nhau đều có thể bình đẳng đạt đến Phật giới. Lối phân định của Trí Khải về sự phơi bày của Diệu Vị có thể được khám phá qua đoạn văn sau : 

‘Vì chân lý là nguyên lý hòa nhập, trí vẹn toàn không gián đoạn; (khi) sự hành trì được hướng dẩn (bởi trí), trở nên vi tế. Trên sự hiển lộ của ba ý nghĩa nầy (đó là chân lý, trí, và hành), Thể, Tông, và Dụng (từ kinh Pháp Hoa) đầy đủ. Hơn nữa, Diệu Vị nên được biết rõ.’ (260) 

Chỗ nầy ám chỉ rằng liên hệ đến chân lý toàn vẹn , trí cũng toàn vẹn.. Trí toàn vẹn có thể hướng dẩn hành đến chỗ đầy đủ. Khi cả ba đề mục chân lý, trí, và hành được chứng ngộ, thứ lớp quả vị phát sinh. Luận về Diệu Vị là điều quan trọng, vì chỉ rõ còn bao xa một hành giả đạt đến mục tiêu chứng nhập Phật giới. Thuận theo các lối hành giả hiểu khác nhau về chân lý, các thứ bậc trí hành giả đạt đến, các phương pháp hành trì hành giả thành tựu, thứ bậc quả vị có khác. Trí Khải tóm lược sáu loại quả vị, tương tự với cỏ và cây thuốc trong kinh Pháp Hoa (261). Trí Khải muốn dùng tỷ dụ nầy để nhấn mạnh sự kiện rằng mục đích làm lợi ích cho chúng sinh của chư Phật vô phân biệt, cũng như mưa rưới đều mọi cảnh vật trên mặt đất. Có thể có những chúng sinh với khả năng khác nhau, do đó thứ bậc chứng đắc khác nhau tùy thuận theo Tứ giáo.. Tuy nhiên, Trí Khải nhấn mạnh rằng bất kỳ chúng sinh hoặc cao hoặc hạ, tất cả đều bình đẳng đạt đến Phật giớí.

Sáu nhóm quả vị là : A. Cỏ thuốc nhỏ, tương tự như nhân thừathiên thừa. B. Cỏ thuốc bậc trung, tương tự như Nhị Thừa. C. Cỏ thuốc bậc thượng, tương tự như Bồ tát Tạng giáo. D. Cây thuốc nhỏ, tương tự như Tam thừa Thông giáo. E.Cây thuốc lớn, tương tự như Biệt giáo, và F. Vị Viên giáo.

Trí Khải phân tích từng nhóm trên như sau :

I. Vị cỏ thuốc nhỏ : (T33, 726b-727c) 

Theo Trí Khải, ‘cỏ thuốc nhỏ’ chỉ cho nhân thừathiên thừa. quả vị nầy kết quả từ sự tu tập Ngũ GiớiThập Thiện (là đạo đức căn bản trong Phật giáo).

(1) (T33, 726b-c) Nhìn về Nhân thừa (Jen wei), chúng sinh giữ năm giới (262) có thể đạt được vị nầy, gồm bốn thứ bậc biệu trưng bởi Chuyển Luân Vương, với bốn loại xe báu (263). Hạng thấp nhất là Thiết luân vương, hạng trung là Đồng luân vương, hạng thượng là Ngân luân vương, hạng thượng thượng là Kim luân vương.

1. (T33, 726c-727c) Nhìn về Thiên thừa (T’ien sheng wei), chúng sinh tu tập Thập thiện đạo (264) có thể đạt được vị nầy, gồm sáu thứ bậc trong sáu tầng trời cõi Dục (265) . Gồm có :
(i) Bốn tầng trời bốn hướng núi Tu Di
(ii) Tam Thập Tam thiên (Jih-hsing T’ien) 
(iii) Diệm Ma thiên (Ch’ing ching T’ien)
(iv) Đâu Suất thiên (Tou-shuai T’ien)
(v) Hóa Tự Tại thiên (Nieh-mo-ti) 
(vi) Tha Hóa Tự Tại thiên (P’o-luo-nih-mih). 
Mỗi từng trời được Trí Khải mô tả như sau :

(1) Bốn tầng trời quanh bốn hướng núi Diệu Cao là bậc thứ nhất trong thiên xứ có bốn cõi (266). Mỗi một cõi có mười cung điện (267) như sau :

(i) Tầng Maladhara thứ nhất có mười cung điện là : a. Bạch Cung Tử, hướng Nam (268), b. Cao Đài, hướng Nam (269), c. Quả Mệnh, hướng Tây (270), d. Bạch Công Đức, hướng Tây(271), e. Nhất Thiết Hỷ, hướng Đông(272), f. Hành Đạo, hướng Đông (273), g. Ái Dục, hướng Bắc (274), h. Ái Cảnh Giới, hướng Bắc (275), i. Tác Ý, hướng Bắc (276), và j. Du Hý Lâm, hướng Bắc (277).

(ii) Tầng Karipada thứ hai có mười cung điện là a. Hành Liên Hoa (278), b. Thắng Mật (279), c. Diệu Âm (280), d. Hương Nhạc (281), e. Phong Hành (282), f. Tán Hoa Hoan Hỷ (283), g. Phổ Quang (284), h. Thường Hoan Hỷ (285), i. Hương Nhạc (286), và j. Bình Phong (287)

(iii) Tầng Thường Như Ý thứ ba có mười cung điện là : a. Hoan Hỷ (288), b. Tú Bình Tụ Sắc (289), c. Phân thắng lợi (290), d. Vạn Sắc Địa (291), e. Pháp Loa (292), f. Sơn Đỉnh (293), g. Ma Cao Đài (294), h. Dục Cảnh (295), i. Thanh Lương (296), và j. Thường Du Hý (297)

(iv) Tầng Vina thứ tư có mười cung điện là : a. Càn Cao Đài (298), b. ¬ng Thanh (299), c. Hỷ Lạc (300), d. Tầm Thủy (301), e. Bạch Thân (302), f. Đồng Du Hý (303), g. Lạc Du Hý (304), h. Đồng Hành Hương (305), i. Hóa Sinh (306), và j. Chánh Hạnh (307).

(2) Đao Lợi Thiên là cõi thứ hai, Trí Khải tuyên thuyết rằng, vì cõi trời được sáng tạo do chúng sinh giữ bảy giới, những giới hạnh nầy khiến chúng sinh được tái sinh ở những cõi trời khác nhau. Chúng sinh có thể tái sinh ở cõi Tứ thiên vương nếu giữ được giới không sát sinh, có thể tái sinhcõi trời thứ ba mươi ba nếu không sát sinh và không trộm cắp, có thể tái sinhcõi trời Dạ Ma nếu không tà dâm ( thêm vào hai giới trước), có thể tái sinhĐâu Suất thiên nếu giữ được giới không nói dối (thêm vào ba giới trước), có thể tái sinh vào Hóa Lạc thiênTha Hóa tự tại thiên nếu giữ được những giới của cõi người, như bốn giới trước và giới không uống rượu (thêm với bảy giới của Phật) (Fo Ch’i-chieh) (309).

(3) Dạ Ma Thiên là bậc thứ ba, dưới sự cai quản của Dạ Ma thiên vương. Chúng sinh giữ được ba giới không sát sinh, không trộm cắp, và không tà dâm có thể tái sinhDạ Ma Thiên. (310)

(4) Đâu Suất Thiên là bậc thứ tư. Cõi trời nầy do Đâu Suất thiên vương cai quản. Chúng sinh giữ được bốn giới không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, và không nói dối có thể tái sinhcõi trời nầy.

(5) Hóa lạc thiên, có nghĩa là tự tại.

(6) Tha Hóa Tự Tại Thiên, có nghĩa tự tại hoán đổi cái vui của kẻ khác.

II. Vị cỏ thuốc bậc trung (T33, 727c - 729b) :

Trí Khải so sánh vị nầy với Nhị Thừa. Thanh văn gồm có bảy Hiền và bảy Thánh vị.

1. Thất Hiền Vị ( Ch’i - hsien Wei) (T33, 727c-728a)

Hành giả Thanh văn thừa tu tập Tứ Đế. Từ sự hiểu Khổ đế, hành giả quán nhân của khổ, từ đó hiểu được rằng tất cả là vô thường, và phải vượt qua sinh tử, đạt đến giải thoát và vào tịch diệt. Vì thế, Trí Khải xác định rằng hành giả trong vị nầy có khả năng thông đạt Tứ Đế. Vì sự liễu đạt nầy, chư vị tương ưng với phẩm hạnh cao. ba vị đầu tiên là Ngũ đình tâm vị, Biệt tướng, và Tổng tướng niệm trụ cùng đứng chung với nhau gọi là Ngũ Đình TâmTứ Niệm Trụ (311) thuộc Ngoại phần (Wai-fan), và bốn vị sau Trí Khải gọi là Tứ Thanh Tịnh (Ssu-shan-ken) (312) thuộc Nội phàm (Nei-fan).

(1) Ngũ đình tâm vị : là bậc thứ nhất trong bảy bậc Hiền thành tựu do những chúng sinh tu Ngũ đình tâm quán (313), quán sự bất tịnh của sự vật, sinh từ tâm với kẻ khác, đếm hơi thở, quán nhân duyên, hướng về Phật để vượt qua năm chướng ngại trên đường tu (314). Vị nầy được gọi là sơ vị, vì nếu diệt được chướng ngại, Đạo sẽ mở sáng. Vì thế, cái hiểu về hành và tuệ của hành giả trở nên hòa hợp. (315)

(2) Biệt tướng niệm trụ vị : (Vị thuộc Tứ niệm trụ được tu tập riêng rẽ) là vị thứ hai trong thất Hiền.. Sau khi vượt qua năm chướng ngại nói trên, hành giả có thể nhận hiểu được Tứ Đế, và thực hành Tứ Niệm Trụ (như là quán thân bất tịnh, thọ tức khổ, tâm vô thường, và pháp vô ngã, đưa đến sự loại bỏ bốn lối nhìn sai lầm (Ssu Tien tao) như xem thân là trong sạch, thọ là vui thú, tâm là thường hằng, và pháp là cố định.

(3) Tổng tướng niệm trụ vị : (Vị thuộc Tứ Niệm Trụ được tu tập chung) là bậc thứ ba trong thất Hiền. Ở đây quán sâu hơn về thân, thọ, tâm, và pháp đối với tánh chung của các pháp, như tất cả các pháp là bất tịnh, khổ, vô thường, và thiếu tự ngã.

(4) Noãn pháp vị : là vị thứ tư trong thất Hiền. Dựa vào pháp tu tập thứ hai và thứ ba nói trên, hành giảthể diệt phiền não, và đến được cái hiểu tương tự (Fa-hsiang-ssu-chieh) (316) gần với trí tuệ về kiến đạo vô nhiễm (317). Đó là Noãn (ấm) với ý nghĩa giống như tiết xuân, là thời gian khi sự ấm áp bắt đầu lan tỏa. Trí Khải dùng hơi ấm dụ cho trí tuệ thông đạt phát sinh từ quán chiếu mười sáu khía cảnh sống động của Tứ Đế (318) trong ba cõiý nghĩa tích tập những thiện pháp đến từ sự quán chiếu nầy.

(5) Đỉnh pháp vị : là vị thứ năm trong thất Hiền. Trí Khải giải thíchso sánh ý nghĩa ‘Đỉnh’ với hành giả trên đỉnh núi có cái nhìn cùng khắp mọi phương hướng. Hạnh nầy vượt trên hạnh Noãn nói trên. Sự quán chiếu của hành giả về mười sáu khía cạnh sống động của Tứ Đế được khai phá rõ rệt hơn những vị trước, và trí tuệ tương tự thông đạt của hành giả rất gần với trí tuệ vô nhiễm. Đỉnh núi sánh với nơi mà hành giả không thể dừng lại lâu, hoặc là tiến lên (nếu không bị ngăn ngại), hoặc là lùi bước.

(6) Nhẫn pháp vị : là vị thứ sáu trong thất Hiền. Ở vị nầy, trí tuệ tương tự liễu đạt của hành giả tiến xa hơn, và hành giả nhận được nguyên lý Tứ Đế. Thiện hạnh của hành giả vững vàng, khó thối chuyển, và có năng lực xa lìa dục lạc
Có ba bậc nhẫn là hạ nhẫn, trung nhẫn, và thượng nhẫn. Hạ nhẫn vẫn còn quán chiếu mười sáu khía cạnh của Tứ Đế. Trung nhẫn dần dần vượt bỏ một số khía cạnh của Tứ Đế đến mức độ hành giả chỉ quán chiếu những khía cạnh liên quan đến Khổ đế trong cõi Dục. Với phương tiện quán chiếu Khổ đế, hành giả đạt đến hạnh nhẫn cao hơn, là khái niệm liên tục và đầy đủ về Tứ Đế.

(7) Thế đệ nhất pháp vị : là vị cuối trong thất Hiền. Vị nầy tương đương với thượng nhẫn, là ‘là thiện hạnh kỳ đặc mà một chúng sinhthể đạt đến.’(319).. Xa hơn, ‘Khổ pháp nhẫn’ sinh từ ‘Thế đệ nhất pháp’ như một nhịp cầu đưa hành giả đến thánh vị kiến đạo.

2. Thất Thánh Vị (T33, 728a-729b)

Những vị nầy có đặc tính Kiến Đạo hoặc Tu Đạo, hoặc Vô Học. Trí Khải giải thích rằng lý do hành giả tại vị nầy được gọi là Thánh vì : 
‘Thuận theo Khổ đế, trí tuệ hành giả phát sinh. Vượt bỏ vô minh, hành giả bước vào thánh giới, và thông đạt nguyên lý với trí thực thanh tịnh. Vì thế gọi là bậc Thánh’(320).

a. Tùy Tín Hành Vị (Sui Hsin Hsing Wei) : là bậc thứ nhất trong Thất Thánh. Tên gọi Tùy Tín Hành chỉ cho hành giả với căn cơ thấp kém (tun ken), bước vào kiến đạo với đức tin vào những điều được học được từ người khác, không phải từ trí tuệ của chính mình.

b. Tùy Pháp Hành Vị (Sui Fa Hsin Wei) : là bậc thứ hai trong Thất Thánh. Khác với bậc trên, hành giả căn cơ cao hơn (li ken) chứng đắc vị nầy, vì vào Đạo qua quán chiếu Tứ Đế. Vị thứ nhất và thứ hai vẫn còn là sơ quả, chỉ cho Kiến Đạo.

c. Tín Giải Vị ( Hsin-chieh Wei) : là bậc thứ ba trong Thất Thánh. Tín Giới và hai vị sau cho thấy một tiến hành, chỉ cho ‘Tu Đạo’. Hành giả ở vị nầy giống như ở thánh vị thứ nhất. Trí Khải nói :
‘Hành giả với căn cơ chậm lụt dựa vào đức tin. Nếu tiến lên được, sẽ hiểu cái chân vô lậu.’(321).
Có bốn quả vị hành giả ở vị nầy có thể chứng đắc :

(i) Sơ quả : là Tu Đà Hoàn, gồm ba thứ lớp, bậc thấp nhất gọi là Hướng, thuộc về Kiến Đạo. Bậc giữa gọi là Quả, thuộc Tu Đạo. Bậc cao nhất gọi là (Sheng-chin/visesa) biểu hiện quả vị thứ hai ở cấp bậc thấp, thuộc về Tu Đạo. Tu Đà Hoàn đã diệt tám mươi tám lối nhìn sai lầm (322).

(ii) Nhị quả : là Tư Đà Hàm, thuộc Tu Đạo, cũng có ba thứ lớp. bậc thứ nhất là Hướng, đã diệt được lớp ô nhiễm thứ năm (323) cõi Dục. Bậc thứ hai là Quả đã diệt được lớp ô nhiễm thứ sáu cõi Dục. Bậc cao nhất là (Sheng-chin) biểu hiện quả vị thứ ba ở cấp bậc thấp.

(iii) Tam quả : là A Na Hàm, cũng có ba bậc. Bậc thứ nhất là Hướng, đã diệt được lớp ô nhiễm thứ bảy và thứ tám. Bậc thứ hai là Quả đã diệt được lớp ô nhiễm thứ chín. Điều nầy có nghĩa rằng hành giả đã hoàn toàn diệt được ô nhiễm cõi Dục, và sẽ không còn chịu luân hồi trong cõi Dục. 

(iv) Tứ quả : là A La Hán, thuộc về Vô Học. Có hai cấp bậc : cấp thấp là Hướng, cấp cao là Quả.

d. Kiến đắc vị ( Chien-te wei) : là vị thứ tư trong Thất Thánh. Hành giả ở vị nầy, giống như vị thứ hai, có căn cơ bén nhạy, có thể Kiến Pháp với trí tuệ. Kết quả, vượt qua hai quả vị trước, chứng ngộ quả thứ ba.

e. Thân chứng vị (Shen-cheng wei) : là bậc thứ năm trong Thất 
Thánh. Vị Thân Chứng nầy thuộc quả thứ ba, từ hành giảcăn cơ chậm lụt, dựa vào đức tin (Hsin-hsing tun-ken). Hành giả có thể vào Diệt Tận Định( Mieh-chin Ting), trong đó vạn pháp từ tâm sinh và những cái dụng của tâm bị diệt. Khôn gcòn sự khác biệt giữa năng chứng và sở chứng.. Trí Khải giải thích loại thiền định nầy như sau :
‘Thân hành giả hoàn toàn bất động, và tất cả mọi sự việc trong ba cõi cũng lắng đọng. Hành giả chứng ngộ, qua kinh nghiệm thiền, sự hủy diệt của tưởng và thọ. Vì thể được gọi là ‘chứng ngộ qua kinh nghiệm’.(324)
Sự thành tựu của tam muội nầy gọi là Thân chứng A na hàm (Shen-cheng A-na-han)

f. A La Hán giải thoát từng phần ( Samayavimukti) : là vị thứ sáu trong Thất Thánh. Samayavimukti chỉ cho năm loại A La Hán đầu tiên (325), là những bậc chỉ cỏ thể đạt đến giải thoát khi đúng thời. Các vị nầy cũng là những chúng sinhcăn cơ thấp kém, dựa vào đức tin để vào đạo. Năm vị A La Hán nầy thuộc hàng Vô Học Đạo, và mỗi bậc có hai thứ lớp chứng đắc. Bậc chưa đạt đến Diệt Tận Định (Nirodhasamapatti) được gọi là giải thoát với trí tuệ (Prajnavimulka), như là thoát ra những ngăn ngại qua lối hiểu đúng, nhưng không qua phương tiện quán chiếu; và bậc đã đạt đến Diệt Tận Định được gọi là giải thoát hoàn toàn (Ubhayatovimukta), vượt thoát những ngăn ngại qua cả hai phương tiện hiểu và quán chiếu.

g. A La Hán giải thoát toàn diện (Asamayamukta) : là bậc thứ bảy trong Thất Thánh. Đây là bậc A La Hán với căn cơ bén nhạy, thực hành Pháp, và có thể chọn thời kỳ giải thoát như ý. Vị nầy đã đạt được bất thối (Avaivartika) và cũng được gọi là Bất Động Pháp A La Hán, có nghĩa rằng không bị phiền não lay động. Vị nầy cũng có hai loại giải thoát, gồm giải thoát với trí tuệ, và hoàn toàn giải thoát.

Bích Chi Phật Vị ( T33, 729b) :

 Ngoài bảy thánh vị nói trên thuộc Thanh văn thừa, Trí Khải cũng kể ra quả vị Bích Chi Phật.. Sánh với Thanh văn, Bích Chi Phật với căn cơ bén nhạy, chuyên chú về lý Mười Hai Nhân Duyên. Mười Hai Nhân Duyên đưa đường cho vị nầy nhận hiểu khổ nhân. Bích Chi Phật còn có tên là Độc giác (Tu-chueh), nếu tự chứng đắc vào thời gian không có ứng thân Phật tại thế; được gọi là Nhân Duyên Giác (Yin-yuan chueh), nếu chứng đắcnghe được giáo lý Mười Hai Nhân Duyên vào thời gianứng thân Phật tại thế. (326)

III. Vị Cỏ Thuốc Bậc Thượng ( Shang-yao-ts’ao Wei) (T33, 729b-c)

Trí Khải so sánh vị nầy với Bồ tát Tạng giáo (327) và chỉ cho thứ lớp chứng đắc của Phật đạt đến trong những kiếp trước sự chứng đắc trong kiếp nầy. Trí Khải đưa ra ba vị thế biểu thị đường Phật đi như Bồ tát trước khi chứng đắc.

Vị thế thứ nhất đạt đến bởi Bồ tát trong Đệ Nhất A tăng kỳ kiếp. Bồ tát khởi hành với tâm mong cầu Phật địa, phát lời thệ nguyện với lòng đại bi. Bồ tát tu tập Đạo đế trước để diệt nhân khổ cho chính mình, trong khi hành trì Lục Độ để hoán chuyển chúng sinh. Quả vị nầy tương đương với ba vị đầu tiên thuộc Thất Hiền.

Vị thế thứ hai đạt đến bởi Bồ tát trong Đệ Nhị A tăng ký kiếp. Quả vị nầy tương đương với Noãn Pháp, là quả vị thứ tư trong Thất Hiền. Mặc dù vị Bồ tát nầy tự biết mình sẽ thành Phật, nhưng không nói điều nầy với chúng sinh.

Vị thế thứ ba đạt đến bởi Bồ tát trong Đệ Tam A tăng kỳ kiếp. Quả vị nầy tương đương với Đỉnh Pháp, là quả vị thứ năm trong Thất Hiền. Ở vị nầy, Bồ tát liễu đạt Tứ Đế, và tuyên thuyết cùng chúng sinh rằng Bồ tát sẽ là Phật vị lai.

IV. Vị Cây Thuốc Nhỏ (Hsiao-shu Wei) (T33, 729c-731b)

Trí Khải sánh quả vị nầy tương tự như quả vỉ thuộc Tam Thừa (Thanh văn, Duyên Giác, và Bồ tát) của Thông giáo.

1. Những vị trong Tam Thừa Thông Giáo (T33, 729c-730a) :

Trước hết, Trí Khải nói về mười vị thuộc Tam thừa như sau :

(1) Can Tuệ Địa (Ch’ien-hui Ti) : là địa thứ nhất thuộc Thông giáo. ‘Can Tuệ’ có nghĩa rằng hành giả chưa đạt chân lý, như Lý thủy (Li-shui), và là tên gọi chung sơ địa Tam thừa. Quả vị nầy tương đương với Ngũ Đình TâmTứ Niệm Trụ, tu tập riêng và chung. (328) Đây là ba trong bảy bậc Hiền thuộc Ngoại phàm. Tam thừa chứng ngộ thế giới hiện tượngảo mộng, vượt qua tám điên đảo (329). Tu tập Tứ chánh cần (330), Tứ như ý túc (331), Ngũ căn (332), Ngũ lực (333), Thất Bồ đề phần (334), Bát chánh đạo phần (335), đặc tính tổng quát của lý Tứ Đế được Tam thừa liễu đạt.

(2) Tánh địa (Hsing Ti) : là địa thứ hai thuộc Thông giáo. Địa nầy tương đương với bốn bậc sau cùng của bảy bậc Hiền, gọi là bốn thiện căn, thuộc Nội phàm. Hành giả Tam thừa, thông đạt hơn các vị trước, chứng đắc được chỗ tương tự như vô nhiễm, như Pháp tánh thủy (fa-hsing shui), và làm chủ được kiến tư hoặc.

(3) Bát nhẫn địa (Pa-jen-Ti) : là bậc thứ ba thuộc Thông giáo. hành giả tu tập theo tín tâmPháp tánh nhẫn (fa hsing-jen), tương đương với sơ quả Tu Đà Hoàn. Hai vị nầy, vào pháp và hiểu được giả tướng, có thể đạt đến địa vị ‘chân vô lậu’. Qua tam muội không gián đoạn, được đầy đủ bởi Bát Nhẫn trong Tứ Đế, nhưng vẫn còn thiếu tám loại trí tuệ giải thoát. (337)

(4) Kiến địa (Chien-ti) : là khi Tam thừa vào Kiến đạo đạt đượctối cao (trong Vô Sinh Tứ Đế), và diệt hoàn toàn tám mươi tám loại tà kiến (338). Địa nầy tương đương với sơ quả Tu Đà Hoàn.

(5) Bạc địa (Pao-ti) : là bậc thứ năm thuộc Thông giáo, tương đương với Tư Đà Hàm . Vào địa nầy, Tam thừa còn một ít ô nhiễm ở cõi Dục. Nhận chân rằng vọng dục đồng nhất với Chân Đế, Tam thừa đến đưọc sáu bậc vô ngại như kết quả từ sự hủy diệt sáu trong chín thứ lớp ô nhiễm thuộc Dục giới (339), vì có thể đạt đến vị giải thoát thứ sáu.(340) Bởi vì chỉ còn ba thứ lớp vọng động, quả vị nầy được gọi là bạc địa.(341)

(6) Ly dục địa (Li-yu-ti) : là bậc thứ sáu thuộc Thông giáo, tương đương với A Na Hàm. Vào địa nầy, Tam thừa đã vượt qua chín thứ lớp ô nhiễm ở cõi Dục khi hiểu được rằng trói buộc và vọng dục chỉ là hư ảo, và vì thế thấy được rằng giả tưóng chính nó cũng là Không. Tánh rỗng lặng nầy ở chỗ vạn phápChân Đế. Với sự chứng ngộ về Chân Đế, Tam thừa hoàn toàn diệt được năm móc xích từ hạ giới (diệt vọng thuộc cõi Dục) (342)

(7) Dĩ-biện- địa (I-pan-ti) : là bậc thứ bảy thuộc Thông giáo, tương đương với A La Hán. Vào địa nầy Tam thừa hoàn toàn diệt bỏ cái thấy và làm sai lầm trong ba cõi, cho thấy rằng ngoài việc vượt bỏ chín lớp ô nhiễm trong cõi Dục đã thành tựu trong hai địa trước, bảy mươi hai lớp ô nhiễm trong hai cõi Sắc và Vô Sắc phải vượt qua.(343) Dựa vào sự chứng ngộ của Chân Đế, Tam thừa đi sâu hơn vào Không như Chân Đế nhấn mạnh trên Giả tướng trong cõi Sắc và Vô Sắc, vì đã chứng đắc trạng thái thực sự vô nhiễm của bậc A La Hán. Chỗ nầy cho thấy rằng chư vị đã vượt qua năm móc xích của các cõi trên cõi Sắc và Vô Sắc (344) (đó là chấm dứt bảy mươi hai sự ô nhiễm). Tên gọi địa nầy là ‘Dĩ biện’ chỉ cho sự hoàn toàn diệt vọng trong ba cõi (345). Với các bậc Thanh văn, địa nầy hoàn tất sự tu tập. Tuy nhiên, theo Trí Khải, bảy mươi hai sự ô nhiễm nầy chỉ là thứ lớp sơ khởi. Với Duyên giác, địa nầy chưa phải là hoàn toàn thành tựu, mà còn những tập khí (Yu-hsi) cần được xóa bỏ.

(8) Bích chi Phật địa (P’i-chih Fo ti) : là bậc thứ tám thuộc Thông giáo. Trí Khải nhấn mạnh rằng vào địa nầy, Bích Chi Phật đã đạt đến chỗ thật sự vô nhiễm. Sức mạnh của giá trị đức hạnh khiến vượt qua tất cả những tập khí.(346)

(9) Bồ tát địa (P’u-sa ti) : là bậc thứ chín thuộc Thông giáo. Quả vị nầy được chứng đắc bởi chư vị Bồ tát, là những bậc đã từ Không đi vào Giả và tiến sâu hơn vào chỗ diệt tập khí. Vì quán sâu Nhị Đế, Bồ tát được Pháp NhãnĐạo Chủng Trí. Tương ứng với thần lực, Bồ tát thanh tịnh Phật địa, hoán chuyển chúng sinh, học Thập Lực (347) và Tứ Vô Úy (348) của Phật. Bồ tát gần sát với chỗ hủy diệt hoàn toàn tập khí.Quả vị nầy và những quả vị tiếp theo chỉ có tên gọi là Bồ tát địaPhật địa mà không có ai là người chứng đắc quả vị. Điều nầy bởi vì Thanh vănBồ tát hạ cănDuyên giác ở bậc thứ bảy và thứ tám đã vào Niết Bàn không lưu lại. Bồ tát thượng căn ở bậc thứ tư, Bồ tát trung căn ở bậc thứ năm và thứ sáu, và Bồ tát hạc căn ở bậc thứ bảy và thứ tám đã từ Thông giáo vào Biệt giáoViên giáo.

(10) Phật Địa (Fo-ti) : là bậc cuối cùng thuộc Thông giáo.Thành tựu quán chiếu về Chân Như với trí tuệ, và diệt tất cả tập khí, vị Bồ tát nầy đạt đến Phật giới (349). Trí Khải chỉ rõ những nét chung của Tam thừa khi nói rằng :

‘Mặc dù Bồ tát và chư Phật tên gọi khác với Nhị Thừa, tất cả chư vị đều quán chiếu vô sinh qua vạn pháp. Chư vị thuộc về bậc Vô Học, và chứng đắc hai loại Niết Bàn (350), cả hai diệt ô nhiễm như tro tàn. Chư vị chứng đắc cùng quả vị, vì thế gọi là ‘Thông’ (351)
Ngoài những đặc tính chung nói trên, Trí Khải cũng đưa ra một đề mục nói riêng về Bồ tát thuộc Thông giáo.

2. Đề mục riêng về Bồ Tát Thông giáo (T33, 730a-731b) 

Trí Khải nói hai phần về Bồ tát Thông giáo là Biệt Lập (Pieh-li) và Biệt Danh (Pieh-ming). cái trước thành lập một đề mục riêng cho các Bồ tát Thông giáo, và cái sau nói rõ các Bồ tát Thông giáo mang những tên gọi tương đương với các Bồ tát Biệt giáo.

(1) Phục nhẫn (Fu-jen) : tương đương với bậc thứ nhất Can Huệ Địa thuộc Thông giáo, và Thập Tín (352) của Biệt giáo. Vào địa nầy, Bồ tát phát khởi bốn đại nguyện từ sự liễu đạt về Vô Sinh Tứ Đế. Làm như vậy, Bồ tát điều phục kiến hoặctư hoặc trong ba cõi. Chỗ nầy khác với lối tu tập của Nhị Thừa.

(2) Thuận nhẫn (Shun-jen) : tương đương với bậc thứ hai Tánh đîathuộc Thông giáo, và Tam Thập Tâm (san shih hsin) (353) thuộc Biệt giáo như Thập Trụ, Thập Hạnh, và Thập Hồi Hướng. Vào địa nầy, Bồ tát diệt kiến tư hoặc trong ba cõi và những ô nhiễm từ sự thiếu vô lượng trí trong và ngoài ba cõi (354), Bồ tát điều phục căn bản vô minh, và điều phục tâm chúng sinh. Bồ tát hành Lục Độ để làm lợi ích chúng sinh. hành xử nhu thuận với chúng sinh nên gọi là ‘thuận nhẫn’. Từ địa thứ ba cho đến địa thứ mười Thông giáo, Bồ tát mang tên Thập Địa (355) Biệt giáo. Điều nầy có nghĩa rằng mỗi mười Địa, Bồ tátthể diệt một phần căn bản vô minhchứng ngộ một phần Trung Đạo.

(3) Vô Sinh Pháp Nhẫn Đạo (Wu-sheng fa-jen Tao) : tương đương với bậc thứ ba ‘Bát Nhẫn Địa’ thuộc Thông giáo, và địa thứ nhất thuộc Biệt giáoHoan Hỷ Địa. Trí Khải giải thích địa nầy như sau :
‘Bởi vì Bồ tát hiểu chân lý như giáo nghĩa và diệt những móc xích ảo tưởng, Bồ tát không phát tâm cầu giải thoát. Vì thế, Bồ tát nhận một tên gọi đặc biệt là ‘Vô Sinh Pháp Nhẫn’.(356)

(4) Vô Sinh Pháp Nhẫn Quả (Wu-sheng Fa-jen Kuo) : tương đương với bậc thứ tư ‘Kiến Địa’ thuộc Thông giáo, và địa thứ nhất trong mười địa của Biệt giáoHoan Hỷ Địa, Bồ tátNhị Thừa chứng được cái thấy về Vô Sinh Tứ Đế. Nói về thần lực thì cả tam thừa đều có thần lực.

(5) Du Hí Ngũ Thần Thông (Yu-Hsi Wu-shen-t’ung) (357) : tương đương với bậc thứ năm Bạc Địa thuộc Thông giáo, và bậc thứ hai và thứ ba trong mười địa thuộc Biệt giáo, là Ly Cấu Địa, và Phát Quang Địa, tại đây Bồ tát từ Không vào Giả, hoán chuyển chúng sinhthanh tịnh cõi Phật.

(6) Ly dục Thanh tịnh (Li-yu Ch’ing ching) : tương đương với địa thứ sáu ‘Ly dục địa’ thuộc Thông giáo, và địa thứ tư và thứ năm trong mười địa thuộc Biệt giáo là ‘Diệm Tuệ Địa’ và ‘ Nan Thắng Địa’, Bồ tát tại đây bước vào Gìả tướng và không bị lay động bởi vọng dục cõi thế tục.

(7) Vô Sinh Pháp Nhẫn (Wu-sheng Fa-jen) : tương đương với địa thứ bảy ‘Dĩ biện địa’, và địa thứ sáu và thứ bảy trong mười địa thuộc Biệt giáoHiện tiền địa, và Viễn hành địa. Đây là quả vị của A La Hán.

(8) Vô Sinh Pháp Nhẫn (Wu-sheng Fa-jen) : tương đương với địa thứ tám ‘Bích Chi Phật’ thuộc Thông giáo, và địa thứ tám ‘Bất Động’ trong mười địa thuộc Biệt giáo. Đây là quả vị của Bích Chi Phật.

(9) Bồ tát địa là địa thứ chín tương đương với địa thứ chín ‘Thiện Tuệ Địa’ trong mười địa thuộc Biệt giáo

(10) Phật địa là địa thứ mười tương đương với địa sau cùng là ‘Pháp Vân Địa’ thuộc Biệt giáo, hiển lộ vạn pháp qua Trung Đạo, và là sự thành tựu cao nhất của Bồ tát Thông giáo, tương tự như Phật địa.

IV. Vị Cây Thuốc Lớn (Ta-shu Wei) (T33, 731b-732b)

 Trí Khải so sánh vị cây thuốc lớn với Bồ tát Biệt giáo. Đại Sư giải thích rằng Biệt giáo đặc thù về danh, giáo lý, nguyên tắc, tri kiến, và sự diệt vọng tâm.(358). Trí Khải đưa ra ba điều để minh chứng cho lập luận của Đại Sư. Trước hết, giáo lý Biệt giáo có đặc tinh của Vô Lượng Tứ Đế, bởi vì Bồ tát hiểu mỗi đế trong Tứ Đế mang vô lượng tướng. Với Vô Lượng Tứ Đế, Bồ tát đạt đến bốn thứ lớp chứng ngộ. Trí Khải tin rằng, vì có nhiều thứ bậc chứng ngộ khác nhau, điều cần thiết là đưa ra những quả vị. Đây là điểm thứ hai, nói đến quả vị Bồ tát tương quan với ba tạng kinh. Một số quả vị tổng quát được nói đến qua bộ kinh Bồ Tát An Lạc bản Nghiệp (P’u-sa Yin-luo Pen-yeh). Sự cao hạ của những quả vị nầy được giải thích trong kinh Đại Bát Nhã. Nội dung tu tập thì được nói đến trong kinh Đại Niết Bàn. Điểm thứ ba của Trí Khải là lời kết luận rằng, ngoài bảy quả vị được nói đến qua ba tạng kinh, Bồ tát vị cũng được những kinh khác nói đến. Ba điểm trên được trưng dẩn như sau :

(1) Trong tương quan với Vô Lượng Tứ Đế, vị trí của Biệt giáo có thể phân ra bốn loại phù hợp với Tứ giáo (Tạng, Thông, Biệt, và Viên) (359). Thấy rằng Tứ giáo thì vô lượng, sự vô lượng chỉ cho tất cả bao gồm, và Tứ giáo dung hợp tất cả giáo lý Phật, Trí Khải có thể giữ vững sự phân định về Vô Lượng Tứ Đế phù hợp với Tứ giáo.
Đặc biệt mà nói, loại Vô Lượng Tứ Đế thứ nhất phù hợp với Tạng giáo, diệt được kiến hoặctư hoặc nhưng không điều phục và hủy diệt được sai lầm vì thiếu vô lượng trí cứu giúp chúng sinh (nhiều như cát bụi), cũng không điều phục và diệt được căn bản vô minh. Chỗ nầy bởi vì điều phục và hủy diệt sự sai lạc thứ nhất là đặc tính của Thông giáoBiệt giáo, và điều phục và hủy diệt sự sai lạc thứ hai là đặc tính của Biệt giáoViên giáo.
Vô Lượng Tứ Đế thứ hai phù hợp với Thông giáo, gián tiếp tiến đến chỗ điều phục và hủy diệt trần sa hoặc, nhưng chưa điều phục và hủy diệt được căn bản vô minh. Đối với địa thứ bảy thuộc Thông giáo hiểu chân lý Giả trong ba cõi, hành giả chỉ có thể dập tắt sự thiếu vô lượng trí trong ba cõi, nhưng không ngoài ba cõi.
Vô Lượng Tứ Đế thứ ba phù hợp với Biệt giáo, có khả năng điều phục và diệt trần sa hoặc cũng như căn bản vô minh. Thấy rằng Bồ tát Biệt giáo hiểu sự sai lầm vì thiếu vô lượng trí trong và ngoài ba cõi, Bồ tátthể diệt những sai lạc nầy, bởi vì có thể diệt được căn bản vô minh.
Vô Lượng Tứ Đế thứ tư phù hợp với Viên giáo, tiến thẳng về chỗ điều phục và diệt trần sa hoặccăn bản vô minh. Điều nầy bởi vì Bồ tát Viên giáo có khả năng liễu đạt Tam Đế chiếu soi cả sự và lý trong Pháp giới.

(2) Điểm thứ hai của Trí Khảivị trí của Biệt giáo có thể phân ra làm ba nhóm tương quan với ba tạng kinh.(360)

Thứ nhất, bảy sự phân chia quả vị được nói đến qua kinh Bồ Tát An Lạc Bản Nghiệp ( P’u-sa Yin-luo Pen-yeh). Trí Khải nói rằng qua tạng kinh nầy, bảy thứ bậc được đưa ra, có những quả vị trùng hợp với những quả vị thuộc Tạng giáoThông giáo.

(i) Thập Tín (Shih-hsin) (361) : là những vị đầu tiên thuộc Biệt giáo tương đương với ba bậc đầu trong Thất Hiền của Tạng giáo thuộc Ngoại phàm (362) và cũng tương đương với bậc thứ nhất Can Huệ Địa (363), trong đó quả vị Bồ tát Thông giáo mang tên là Phục Nhẫn.(364)

(ii) Thập Trụ (Shih-chu) (365) : là những vị thứ hai thuộc Biệt giáo tương đương với bậc thứ tư Noãn Pháp Vị (366) trong Thất Hiền của Tạng giáo thuộc Nội phàm, và cũng tương đương với bậc thứ hai Tánh Địa (367) thuộc Thông giáo, trong đó quả vị Bồ tát Thông giáo mang tên Thuận Nhẫn (368).

(iii) Thập Hạnh (Shih-hsing) : (369) là những vị thứ ba thuộc Biệt giáo tương đương với bậc thứ năm Đỉnh Pháp (370) trong Thất Hiền của Tạng giáo thuộc Nội phàm.

(iv) Thập Hồi Hướng (Shih-hui-hsiang) (371) : là những vị thứ tư thuộc Biệt giáo tương đương với bậc thứ sáu và thứ bảy Nhẫn PhápThế Đệ Nhất Pháp (372) trong Thất Hiền của Tạng giáo thuộc Nội phàm.

(v) Thập Địa (Shih-ti) : là những vị thứ năm thuộc Biệt giáo tương đương với Tứ Quả (373) trong Thất Thánh của Tạng giáo. Tuy nhiên, theo Trí Khải, thứ bậc của những vị nầy là Tứ Quả của Biệt giáo, không những diệt được kiến hoặctư hoặc trong ba cõi như Tứ Quả của Tạng giáo, mà còn diệt được vô minh.

(vi) Đẳng Giác (Teng-chueh Ti) : như vị thứ sáu thuộc Biệt giáo là vị thứ năm mươi mốt Bồ tát địa, và là bậc sau cuối trước khi đạt đến Phật địa. (374) Quả vị nầy gọi là Đẳng giác Phật.

(vii) Diệu Giác (Miao-chueh Ti) : như vị thú bảy thuộc Biệt giáo là vị thứ năm mươi hai Bồ tát địa, là địa mà nơi đó, Bồ tát chứng đắc Đạo quả. Đây là quả Phật Biệt giáo

Thứ hai, bảy sự phân loại về quả vị được khảo sát trong tương quan với kinh Đại Bát Nhã. Ở đây, Trí Khải luận mức độ cao thấp trong sự diệt vọng của bảy thứ bậc liên quan đến Tam Quán được nói đến qua kinh Đại Niết Bàn.

(i) Với Thập Tín, Bồ tát tu tập quán chiếu từ Giả vào Không (Ts’ung-chiao Ju-k’ung Kuan) (375), và điều phục kiến hoặctư hoặc trong ba cõi. Chỗ nầy là nơi Bồ tát chuẩn bị bước vào Thập Trụ.

(ii) Nếu Bồ tát đạt đến quả Thập Trụ, Bồ tát diệt kiến hoặctư hoặc, và sự ô nhiễmtrần sa hoặc trong tam giới.

(iii) Quán chiếu từ Không vào Giả (Ts’ung-k’ung Ju-Chia) là Thập Hạnh, diệt ô nhiễmtrần sa hoặc ngoài tam giới.

(iv) Tu tập chánh quán về Trung Đạo (Hsiu Chung-tao Cheng-kuan), Bồ tát bước vào Thập Hồi Hướng, phá căn bản vô minh (Fa Wu-ming).

(v) Chứng được Trung Đạo chánh quán, Bồ tát vào Thập Địa đến Phật giới, diệt căn bản vô minh (P’o Wu-ming) 

(vi) Nếu Bồ tát muốn đoạn diệt tập khí phiền não với Nhất Thiết Chủng Trí, Bồ tát học Bát Nhã. Đây là quả vị Đẳng giác.

(vii) Khi tập khí vô minhphiền não đoạn diệt, Bồ tát được gọi là Phật, và sự chứng đắc đồng với Diệu giác.

Thứ ba, bảy sự phân chia quả vị được khảo sát trong tương quan với kinh Đại Bát Niết Bàn. Trí Khải nói về những quả vị Bồ tát Biệt giáo khác nhau là kết quả của Thánh hạnh trong kinh Đại Niết Bàn.(376) . Đặc biệt, Thánh Hạnh tu trì Gìới và Định đưa đến quả vị Thập Tín (377) . Tu Tuệ thuộc Sinh DiệtVô Sinh Tứ Đế đưa đến quả vị Thập Trụ (378). Tu Tuệ Vô Lượng Tứ Đế đưa đến quả vị Thập Hạnh (379). Tu Tập Nhất Đế (Trung Đạo), và Vô Tác Tứ Đế đưa đến quả vị Thập Hồi Hướng (380). Chứng ngộ Nhất Đế (Trung Đạo) và thành tựu Vô Tác Tứ Đế tức đầy đủ Thánh Hạnh, và chứng được Thập Địa. Chỗ nầy nói lên rằng Bồ tát trụ ở Vô Úy, đắc hai mươi lăm tam muội, diệt hai mươi lăm Hữu. Từ đây, Bồ tát tiến lên Đẳng giác. Vào Diệu giác, Bồ tát đắc Phật nhãn

Điểm thứ ba của Trí Khải đưa đến kết luận rằng những quả vị Biệt giáo không những được nói qua ba bản kinh trên mà còn được nói đến trong những bản kinh khác.

V.Viên Giáo Vị (Yuan-chiao Wei) (T33, 732b-741b)

Đây là đề mục sau cùng về các quả vị. So sánh với năm đề mục trước, Trí Khải nhìn quả vị Viên giáothực vị trên tất cả những vị khác. Để giữ vững lập luận của mình, Đại Sư phân tích sự siêu việt của những quả vị thuộc Viên giáo qua mười khía cạnh :

(1) Định nghĩa (Chien-ming-i), phân biệt ba vị trí về chữ Viên và Viên giáo vị có thể đưa ra ý nghĩa trọn vẹn.

(2) Minh định thứ tự quả vị (ming wei shu) đưa ra hai nhóm quả vị Viên giáo trong chiều hướng đi lên.

(3) Minh định Viên vị về điều phục và diệt vọng niệm.(Ming Yuan weiTuan-fu) khiến cái dụng siêu việt từ những quả vị nầy được nhấn mạnh.

(4) Minh định công dụng (Ming kung yung) làm sáng tỏ Viên giáo vị liên quan đến giá trị công dụng cứu giúp chúng sinh.

(5) Tổng hợp tất cả các vị và luận thô tế (T’ung-chu wei Lun ts’u miao) khảo sát sáu nhóm quả vị, thẩm định tâm mức thô và tế, khiến vị thế siêu việt của Viên giáo được xác định.

(6) Minh định sự sinh khởi của các vị, nhấn mạnh rằng mặc dù Viên giáo vị siêu việt, các vị khác cũng có giá trị, bởi vì tất cả đều mang lại lợi ích cho chúng sinh.

(7) Minh định sự phế bỏ các vị (Ming wei-fei) Trí Khải đưa ra một cách nhìn toàn diện vào các vị. Tất cả các vị đều có giá trị vì khế hợp với căn cơ khác nhau của chúng sinh. Tuy nhiên, nhìn về sự tương đối của ba giáo pháp (Tạng giáo, Thông giáo, và Biệt giáo) đối với mục tiêu cứu cánh của Phật giới, những vị trí tương đối nầy nên vượt qua nếu làm trở ngại hành giả trên tiến trình hướng về Viên giáo.

(8) Khai thô vị, hiển tế vị ( Kai ts’o wei hsien miao wei) đưa ra cái nhìn rốt ráo, trong đó không còn sự khác biệt giữa thô vị và tế vị. Điều nầy bởi vì thô vị hàm chứa và đưa về tế vị, không có thô, tế không thể thành tựu.

(9) Dẩn kinh (yin ching) dùng tỷ dụ về năm vị sữa để chứng minh những điểm đã nói đến trong phần thứ tám rằng thô và tế vị là một thực thể. Điều nầy để nói rằng từng nhóm trong sáu nhóm vị đều có năm vị sữa, là năm thứ bậc, từ A La Hán cho đến Phật quả. Vì mỗi nhóm có năm vị sữa, Trí Khải nói rõ rằng năm vị sữa có trong Viên giáo vị cũng không khác. Điều nầy có nghĩa rằng hành giảthể đạt đến chứng ngộ trong bất cứ vị nào trong năm vị.

(10) Minh định thủy chung của Diệu Vị (Ming miao wei Shih-chung) kết luận rằng những thứ bậc khác nhau của Viên giáo vi diệu từ thủy chí chung, bởi vì hành giả có thể vào Phật địa từ bất cứ nơi nào. Trí Khải phân tích mười phần trên như sau :

1. Định nghĩa ‘Viên’ (T33, 732b-c) :

Trong phần thứ nhất nầy, Trí Khải khảo sát ý nghĩa chữ Viên theo ba lối, thấy rằng Viên giáocứu cánh bao gồm Tam thừa (Thanh văn, Duyên giác, và Bồ tát), vì ba thừa vào một Phật thừa. Vì vậy, theo Trí Khải, chữ Viên có thể được xác định như thông danh viên nghĩa (Ming t’ung I-yuan), biệt danh viên nghĩa (Ming-pieh I-yuan), và viên cả hai mặt danh và nghĩa (Ming- I Chu- yuan). Ba điều nấy được chú giải trong tương quan với những đoạn kinh Pháp Hoa

‘Thông danh viên nghĩa’ chỉ cho các bậc Thanh văn Viên giáo. Mặc dù cùng tên với các bậc Thanh văn các giáo pháp khác, nhưng hàm chứa nghĩa ‘Viên’. Điều nầy thấy rõ qua lời chư vị Thanh văn :

‘Ngày nay chúng con thật sự là Thanh Văn (sound-hearer), vì đã làm cho âm thanh của Phật đạo được nghe bởi tất cả.’(381)

Trí Khải lập luận rằng, ý nghĩa thật sự của Thanh văn (Sheng wen) là những bậc mang âm thanh của Phật làm lợi ích cho chúng sinh. Vì vậy. qua văn mạch nầy, mặc dù chư Thanh văn ở dây mang cùng tên với chư Thanh văn Thông giáoTạng giáo, ý nghĩa ‘làm cho âm thanh của Phật đạo được nghe bởi tất cả’ ám chỉ rằng vị thế của Thanh văn Viên giáotoàn vẹn.(382). Cách Trí Khải dùng để thẩm định vị trí toàn vẹn hay không toàn vẹn dựa vào nghĩa hơn là vào tên gọi, cho thấy Thanh văn Viên giáo cùng tên mà viên nghĩa.

‘Biệt danh viên nghĩa’ chỉ cho các bậc Bồ tát Biệt giáo trong nội dung Viên giáo. Theo Trí Khải, mặc dù năm mươi hai quả vị Bồ tát Biệt giáo (Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, Đẳng giác , và Diệu giác) thì khác tên, nhưng từ khởi đầu, chính giữa, và sau cuối đều toàn vẹn, vi diệurốt ráo, bởi vì được thành hình để diễn đạt Phật trí, khiến Bồ tát Biệt giáo qua Viên giáo biệt danh viên nghĩa.

‘Viên danh nghĩa’ chỉ cho quả vị Viên giáo. Để giữ vững lập luận nầy, Trí Khải nói rằng đối với danh, hạnh Viên giáo gắn liền với vị Viên giáo tức Như Lai Hạnh (Ju-lai Hsing) (383), vì vậy vị Viên giáo toàn vẹn về danh. Đối với nghĩa, hạnh Viên giáo đưa chúng sinh về với tri kiến Phật, và vì vậy, vị Viên giáo toàn vẹn về nghĩa. Đoạn kinh Pháp Hoa ‘khai, thị , ngộ, nhập, tất cả đều là tri kiến Phật ’(384) có thể làm sáng tỏ chỗ nầy. Vì thế, vị Viên giáo toàn vẹn cả hai mặt danh và nghĩa.

2. Minh định số quả vị (ming wei-shu) (T33, 732c-735b) : 

Trong phần thứ hai nầy Trí Khải minh định số quả vị Viên giáo qua những thứ lớp khác nhau trong chiều hướng thượng. Quả vị Viên giáo được chia ra hai nhóm sơ khởithuần thục. Nhóm quả vị sơ khởi gồm có Viên giáo Ngũ Phẩm Đệ Tử Vị (Yuan-chiao Wu p’in Ti-tzu Wei) và nhóm thuần thục gồm có Viên Giáo Thất Chủng Vị (Yuan chiao Ch’i-chung Chieh-wei). 

(1) Viên Giáo Ngũ Phẩm Đệ Tử Vị (385) : là nhóm sơ quả thuộc Viên giáo, tương đương với ba bậc Hiền đầu tiên trong Thất Hiền (gọi là Nội phàm) của Tạng giáo,, Can Huệ Địa của Thông giáo, và Thập Tín của Biệt giáo. Tuy nhiên điểm khởi đầu của Viên giáo vượt trên những giáo pháp khác. 

Theo Trí Khải, bậc thứ nhất trong Ngũ Phẩm Đệ Tử Vị của Viên giáoTùy Hỷ Phẩm Vị (Sui-hsi-p’in wei), hành giả đã có đức tin hiểu vẹn toàn (Ch’i Yuan-hsin-chieh). Với nhất tâm, hành giả ôm trọn mười pháp giới ( I- hsin-chung Chu Shih-fa-chieh). Sự tu tập Viên giáo hạnh giúp hành giả dung hợp tất cả hành trì vào một, tâm hành giả thường tịch, thường chiếu. Với một tâm như vậy, tất cả pháp hoại diệt như kết quả chứng ngộ rằng vạn pháp quy về Không, Giả, và Trung Đạo. Từ đó, mỗi niệm của hành giả tương hợp với bờ kia (paramitas). Thứ hai, bậc đọc tụng kinh (Tu stung p’in wei), Trí Khải nói rằng hành giả, nhằm mục đích gia tăng lòng tinViên giáo, tự tâm tiếp tục quán chiếuTrung Đạo, bên ngoài thì chấp nhận, ủng hộ, đọc, tụng kinh điển Đại thừa. Có được kiến thức từ những kinh điển nầy, hành giả có thể có được dụng lực giúp hành giả trong sự quán chiếu. Thứ ba, bậc thuyết pháp (Shuo-fa-p’in wei) sự quán chiếu tự tâmhọc hỏi bên ngoài, hành giả có thể thuyết pháp Phật. Thứ tư, bậc siêng hành lục độ (chien hsing Liu-tu), trong khi điều tiên quyết vẫn là quán chiếu, hành giả bắt đầu tu tập lục độ để lợi ích chúng sinh. Bậc sau cuối là thường hành lục độ (cheng hsing liu tu) có ý nghĩa sâu hơn trong việc hành trì. Trí Khải nói rằng sự tiên quyết của hành giảhành trì lục độ. Khi sự quán chiếu của hành giả (tương hợp với Viên giáo) thuần thục, lý và sự hợp nhất. Tu tập lục độ giúp hành giả chứng ngộ chân tánh nằm trong sinh hoạt hằng ngày, và hai điều nầy thì không có gì trái nghịch. ‘Vào trong Sự không ngăn ngại,( hành giả thông đạt) được Lý, ở trong Lý không cô lập, ( hành giả thông đạt) được Sự’ (386) Hiển nhiên, thế giới giác quán đưa đến sự chú giải hiển lộ tri kiến Phật.

(2) Viên Giáo Thất Chủng Vị : là nhóm quả vị thuần thục thuộc Viên giáo, gồm bảy thứ bậc có cùng tên gọi như của Biệt giáo, nhưng siêu việt hơn.

(i) Thập Tín Vị (Shih-hsin wei) (387) : là bậc thứ nhất trong bảy bậc thuộc Viên giáo. Khác với Thập Tín thuộc Biệt giáo, Trí Khải gọi quả vị nầy là Viên Giáo Thiết Luân Thập Tín Vị (Yuan chiao T’ieh-lun Shih-hsin wei). Có thể liên hệ với Lục Căn Thanh Tịnh Trí (Liu ken Ch’ing ching chih) (388) vì cả hai liên quan đến cách tu tập giống Trung Đạo. Quả vị nầy tương đương với bốn thứ bậc cuối của Thất Hiền (tứ thiện căn) (389) của Tạng giáo, ba loại Tam Tâm của Biệt giáo (Thập Trụ, Thập Hạnh, và Thập Hồi Hướng). Ở vị nầy, hành giả bắt đầu quán trí Vô Tác của Đạo đế (Kuan wu-t’so Chih Tao-ti). Trí Khải giải thích từng bước một làm cách nào hành giảthể đạt đến quả vị nầy. Bằng cách nghe giáo nghĩa Viên giáo, hành giả được tín tâm trọn vẹn, từ đó hành trì tương ứng với Viên giáo. Tinh tấn tu trì, hành giả có thể vào quả vị Viên giáo. Theo như Trí Khải giải thích, do sự tu tập thiện xão bình đẳng của tất cả chúng sinh trong pháp giới, hành giả lập tức vào được tín tâm (hsin-hsin). Tu tập từ bi vào được niệm tâm (nien hsin). Tu tập tịch chiếu vào được tịnh tâm (ching hsin). Tu tập phá chấp, vào được tuệ tâm (hui hsin). Tu tập phân biệt cùng và thông (passageway and obstruction) (390), vào được định tâm (Ting hsin). Tu tập Ba Mươi Bảy Trợ Đạo được chứng đắc (391), hành giả tức thời được tâm bất thối (p’u-t’ui hsin). Tu tập chánh đạo (đạo Tam thừa hành trì), và trợ đạo (chỉ cho 37 phẩm) vào được hồi hướng tâm ( hui hsianh hsin). Tu tập hạnh nội phàmngoại phàm (thuộc Thất Hiền), và hạnh Thất Thánh (392) vào được nguyện tâm (yuan hsin). Ngoài ra, Trí Khải nói rằng quả Thập Tín giúp hành giả diệt được trần sa hoặc ngoài ba cõi, và diệt được căn bản vô minh.

(ii) Thập Trụ (Shih-chu wei) : là lớp thứ hai của Thất Chủng Vị thuộc Viên giáo, tương đương với Thập Địa Biệt giáo (393). Trí Khải định nghĩa chữ ‘Trụ’ có nghĩa là trụ trong Tam Đức của Niết Bàn, tức Pháp Thân, Trí Tuệ Bát Nhã, và Giải Thoát (394).
Tam Đức tương quan với ba loại Tâm Pháp (San chung hsin-fa), là nơi Trí Khải mô tả ba vị Thập Trụ. Sự chứng đắc trí thanh tịnh - Phật tánhduyên nhân của Phật địa (Yuan-yin Shan-hsin-fa) là loại tâm ‘trụ trong tam muội Thủ Lăng Nghiêm ( Shurangama Samadhi), từ đó hành giả chứng đắc giải thoát bất khả tư nghì’(395). Sự chứng đắc tuệ tâm - Phật tánh như liễu nhân của Phật địa (Liu-yin Hui Hsin-fa) là loại tâm ‘trụ ở chỗ rốt ráo Không của Đại Bát Nhã’ (396). Sự chứng đắc lý tâm - Phật tánh là chánh nhân của Phật địa (Cheng-yin Li-hsin-fa) là loại tâm ‘trụ nơi chân lý tối thượng của Trung Đạo như Pháp Thân của Chân Như (397)
Ngoài ba Trụ nầy, Trí Khải liệt kê bảy Trụ khác. Trụ nơi thanh tịnh viên mãn Bồ đề tâm (Chu Ch’ing ching Yuan-man P’u-t’i-hsin) chỉ cho ‘từ bi vô điều kiện của chư Bồ tát, và tự thệ nguyện thâm nhập toàn thể Pháp giới’ (398). Trụ nhất niệm (chu I-nien chung) ‘Bồ tát thành tựu muôn ngàn hạnh ba la mật’ (399). Trụ Nhất Thiết Chủng Trí (Chu I Ch’ieh-chung Chih) là nơi Bồ tát có thể ‘diệt kiến tư hoặccăn bản vô minh trong Pháp giới’(400). Trụ ở chỗ chứng đạt Phật nhãn (chu te Fo-yen) Bồ tát có thể ‘liễu đạt Pháp Tam Đế trong khắp mười pháp giới’ (401) Trụ trong chỗ hội nhập viên mãn tất cả pháp môn (chu Yuan-ju I-ch’ieh Fa-men) Bồ tát có thể chứng đắc ‘hai mươi lăm tam muội, làm lợi ích chúng sinh khó thấy được’(402). Trụ ở chỗ thành tựu hạt giống viên mãn của Bồ tát (chu Ch’eng-chiu P’u-sa yuan-man yeh), Bồ tát có khả năng hiển lộ tất cả các loại thần lực làm lợi ích chúng sinh. Trí Khải nói tiếp : ‘(Bồ tát) đạt đến chỗ ‘mở Giả hiển Chân’, vào đạo Nhất Thừa. Bồ tát có thể trang nghiêmthanh tịnh cõi Phật’ (403) . Trụ ở chỗ viên mãn tất cả công đức từ tất cả các đế vào một đế (Chu neng-ts’ung I-ti chu-tsu I-chieh Chu-ti Kung-te) ‘tâm Bồ tát tịch diệt, tự nhiên trôi vào biển tuệ viên dung (sarvajna) (404).

(iii) Thập Hạnh (shih-hsingwei) (405) : là bậc thứ ba trong Thất Chủng Vị Viên Giáo, liên hệ đến sự hủy diệt mười lớp vô minh với mười loại trí (406). 
Bậc thứ nhất trong Thập Hạnh diệt được căn bản vô minh, tương đương với Đẳng giác của Biệt giáo. Bậc thứ hai trong Thập Hạnh tương đương với Diệu giác của Biệt giáo. Điều nầy có nghĩa rằng những vị còn lại thuộc Viên giáo (bắt đầu từ bậc thứ ba Thập Hạnh về sau) thì độc tôn. . Bởi vì không có vị nào trong ba giáo pháp (Tạng, Thông, và Biệt) có thể sánh được với Viên giáo vị, những vị sau rốt nầy là siêu việt. Địa vị độc tôn của những vị (từ vị thứ ba Thập Hạnh cho đến Đẳng giác) phản ảnh cái dụng diệt một số phần căn bản vô minhgia tăng một số phần chứng ngộ Trung Đạo.

(iv) Thập Hồi Hướng (Shih-hui-hsiang Wei) : là bậc thứ tư trong Thất Chủng Vị Viên Giáo. Trí Khải giải thích rằng hành giả, ở vị nầy, đã tự nhiên vào đạo, và niệm niệm đều tương hợp với Chân Như ; tất cả nguyện, hành, sự, và lý tự nhiên dung hòa toàn vẹn, quy vào biển Pháp giới bình đẳng. Sâu hơn, hành giả đạt được mười loại trí diệt được mười loại căn bản vô minh. (407)

(v) Thập Địa (Shih-ti wei) : là bậc thứ tư trong Thất Chủng Vị Viên Giáo
Trí Khải cho rằng Thập Địathực trí vô nhiễm, tự nhiên vào đạo. Như đất có khả năng sinh trưởng tất cả pháp Phật, và dung chứa tất cả chúng sinh trong Pháp giới, khiến tất cả vào được Phật địa trong ba thời. Hơn nữa, Bồ tát đạt được mười loại trí diệt được mười loại căn bản vô minh (408).

(vi) Đẳng giác (Teng-chueh wei) : là bậc thứ sáu trong Thất Chủng Vị Viên Giáo. Trí Khải tuyên thuyết rằng vào địa nầy diệt phần căn bản vô minh sau cuối, và chứng ngộTrung Đạo. Vì vậy, địa nầy được xem như đã diệt được vô minh.

(vii) Diệu giác (Miao-chueh wei) : là bậc cuối trong Thất Chủng Vị Viên Giáo. và liên quan đến Diệu Giác Trí (Miao Chueh Chih) (409). Với Trí Khải, quả vị nầy hiển lộ sự chứng đắc sau cùng và Phật trí siêu việt, bởi vì quả vị nầy được gọi là của Bồ tát ‘không còn gì khác để vượt qua’.

Phần trên là sự phân tích về các vị thuộc Viên giáo. Với cách so sánh từ những quả vị tương đương của các giáo pháp khác, Trí Khải cho thấy rằng quả vị Viên giáo thật sự siêu việt. Điều nầy bởi vì Bồ tát Viên giáo có thể hoại diệt triệt để vô minh không chướng ngại. Bồ tát chứng đắc quả vị tối hậu vào Phật giới. Sự chứng đắc viên mãn Phật giới của Bồ tát Viên giáo không phải chỉ có tên mà còn có nghĩa.

Với mục đích giữ vững cách phân loại số quả vị của Viên giáo, Trí Khải trưng dẩn những đoạn kinh Pháp Hoa để cho thấy rằng cách phân loại nầy không phải là đường lối dựng lập của riêng Đại Sư. Thật sự, Tứ Giáohệ thống của Trí Khải sáng tạo trong việc phân chia giáo lý của Thế Tôn, và cách xếp đặt những quả vị của Viên giáo là kết quả từ sự liễu đạt của Đại Sư về pháp Phật.

Nhìn về Ngũ Phẩm Đệ Tử Vị, Trí Khải lập luận rằng trong kinh Pháp Hoa, phẩm ‘Phân Biệt Công Đức’ có đưa ra những quả vị nầy. Phẩm ‘Phương Tiện’, câu kinh ‘khiến chúng sinh khai tri kiến Phật’ (Yu-ling Chung-seng K’ai-fo Chih-chien) chỉ Thập Trụ; ‘hiển lộ tri kiến Phật’ (Shih-fo Chih-chien) chỉ Thập Hạnh ; ‘ngộ tri kiến Phật’(Wu-fo Chih-chien) chỉ Thập Hồi Hướng; ‘nhập tri kiến Phật’( Ju-fo Chih-chien) chỉ Thập Địa, và Đẳng giác.(410) Diệu Giác hiển lộ qua câu kinh ‘Chỉ Phật với Phật mới tận tường được chân tánh của vạn pháp’ (Wei Fo-yu-fo Nai-neng Chiu-ching Chu-fa Shih-hsiang) (411). Sự tương quan giữa những đoạn kinh Pháp Hoa và những thứ bậc quả vị Trí Khải đưa ra phù hợp với sự chú giải của tôn sư của Trí Khảitôn giả Tuệ Tư. Ngoài ra, Trí Khải nhấn mạnh rằng số quả vị Viên giáo trong sự diệt vô minh chỉ vì là phương tiện thích ứng. Tự tánh, quả vị Viên giáo bất tư nghị : hợp lại, có thể là một vị; phân ra, có thể là nhiều bậc.

3. Minh định quả vị Viên giáo qua sự đoạn diệtđiều phục (Ming Yuan-wei Tuan-fu) (T33, 735c-736c) (412) 

Trong phần nầy, Trí Khải nhấn mạnh sự kiện rằng những vị khác nhau trong Viên giáo bình đẳng siêu việt đối với ba giáo pháp kia trong việc diệt kiến hoặc tư hoặccăn bản vô minh. Ngũ Phẩm Đệ Tử Vị siêu việthành giả có thể điều phục kiến tư hoặccăn bản vô minh một cách toàn hảo. (413) Thập Tín siêu việthành giảthể đạt đến sự phơi bày hài hòa hình tướng (trí tuệ gần nhất với Kiến Đạo thực vô nhiễm), từ đó hành giảthể diệt cái thấy và nghĩ sai lầm trong ba cõi, và diệt trần sa hoặc trong và ngoài ba cõi (414). Vì vậy, Trí Khải gọi tên hai quả vị nầy là ‘Điều Phục Đạo Vị’ (Fu-tao wei). Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, và Đẳng giác, tất cả đều diệt được căn bản vô minh, và hiểu được nguyên lý tối thượng Phật tánh thường trụ. Trí Khải cho rằng khái niệm nầy được gọi tên là ‘tịch lặng trong vô sinh’, và sơ quả Thập Trụ bắt đầu trực tiếp diệt vô minh được gọi là ‘Đoạn Đạo Vị’ (Tuan-tao wei) (415). Đối với Diệu giác, là quả vị viên mãnthành tựu tối hậu không để sót lại một phần vô minh nào, Trí Khải gọi tên là ‘tĩnh lặng trong tịch diệt.( Chi-mieh-jen wei) (416)

4. Minh định công dụng (Ming Kung- yung) (T33, 736c - 737a) 

Trong phần thứ tư nầy, Trí Khải minh định công dụng những quả vị Viên giáo trong việc hoán chuyển tâm người.(417) Trí Khải nói rằng Bồ tátNgũ Phẩm Đệ Tử Vị vẫn sinh hoạt trong thế tục để cứu giúp chúng sinh, và là những bậc mà chúng sinh có thể nương dựa. Mặc dù chưa ngộ lý, tuệ quán của Bồ tát đã toàn vẹn. Bồ tát viên mãn tự tánh của phiền não, và vào được yếu mật Như Lai Tạng (418). Trí Khải đưa ra bốn loại hành giả chúng sinh có thể nương dựa (I-chih) (419), liên quan đến những quả vị Bồ tát Viên giáo.

Vị hành giả thứ nhất chỉ cho Bồ tát Ngũ Phẩm Vị (Wu-p’in wei) hoặc Lục Căn Thanh Tịnh Vị (Liu ken Ch’ing-ching wei). Hành giả thứ hai là Bồ tát Thập Trụ. Hành giả thứ ba là Bồ tát Thập Hạnh, và Thập Hồi Hướng. Hành giả thứ tư là Bồ tát Thập Địa, và Đẳng giác.

5. Hội tụ các quả vị để luận chỗ thô, tế (T’ung-chu-wei Lun-ts’u-miao) (T33, 737a-b) 

Trong phần thứ năm nầy, Trí Khải đưa ra cái nhìn tổng quát về những thứ bậc quả vị thô và tế. Trong số ba loại cỏ thuốc và hai cây thuốc lớn, cả bốn loại đều là thô, chỉ có cây lớn là tế. Tuy nhiên, vị cây lớn cũng là thô sánh với Viên giáo vị, bởi vì cánh cửa trước mở ra những phương tiện, trong khi cánh cửa sau trực chỉ không cần dùng phương tiện. Vì thế, chỉ có Viên giáo vị là vi tế.

(i) Nhìn về cỏ thuốc nhỏ của nhân thừathiên thừa, Trí Khải nói rằng vì sự ô nhiễm của bốn số phận (destinies) (420) thừa nầy vẫn không vượt qua ba cõi luân hồi.

(ii) Với cỏ thuốc bậc trung Nhị Thừa (Thanh vănDuyên giác), Trí Khải xác định rằng có thể ra vào (vượt ba cõi) bằng cách diệt vọng trong tam giới. Tuy nhiên, trí của Nhị Thừa vin vào Không, chưa thấy cùng tột được thực tánh, và tìm cầu giải thoát cho riêng mình mà không vì người.

(iii) Đối với cỏ thuốc bậc thượng chỉ Bồ tát Tạng giáo, Trí Khải nói rằng mặc dù các vị Bồ tát nầy thực hành lục độ như phương tiện độ tha vì từ bi, quả vị nầy vẫn còn là thô pháp vì vẫn còn phân biệt hình tướng, nên không thể đồng nhất Không với Giả.

(iv) Với cây thuốc nhỏ, Trí Khải nói rằng vì thấy được Không trong các Pháp, trí hành giả khéo vào được Không, nhưng cái dụng của loại trí nầy là diệt kiến tư hoặc trong tam giới mà không ra ngoài tam giới, vì vậy nên vẫn còn là thô.

(v) Về cây thuốc lớn của Biệt giáoViên giáo, Trí Khải nói rằng cả hai quả vị tu trí quán chiếu Trung Đạo, vì trí Trung Đạo diệt vô minh ngoài ba cõi. Vì thế, cả hai quả vị đều là vi tếTuy nhiên, Đại Sư đi xa hơn khi nói rằng Biệt giáo vào thực tánh qua cửa phương tiện, như đi qua vô số hành trì trước khi đến được với Trung Đạo. Hơn nữa, cái thấy về Trung Đạoquả vị nầy không giúp hành giả nhận chân được vạn pháp như một toàn thể, vì các pháp được nhìn riêng biệt. Như vậy, vô minhBồ tát Biệt giáo diệt thì không hòa nhập và đầy đủ như Viên giáo. So sánh với Viên giáo, Trí Khải cho rằng pháp môn của Biệt giáo chưa được thiện xão ( vì gián tiếp) nên thô. Nói cách khác, Trí Khải xác định rằng Bồ tát Viên giáo hội nhập lý Trung Đạo, và thấy được rằng cho đến một làn hương của thế giới hiện tượng cũng không gì khác hơn là sự phơi bày của Trung Đạo. Trí về Trung Đạo của Bồ tát Viên giáo viên hợp bắt đầu từ điểm đầu tiên. Niệm theo niệm phù hợp với mười pháp giới, và Bồ tát vào được Chân Như. Như vậy, cánh cửa Viên giáo rộng mở bất cầu phương tiện để đạt đến chân lýPhật địa, bởi vì đó là vi diệu. (421)

6. Minh định sự sinh khởi các vị (Ming wei hsing) (T33, 737b)

Trong phần nầy, Trí Khải nhìn từng phần riêng biệt về các vị Viên giáo. Đại Sư tuyên thuyết rằng mặc dù tất cả các vị khác, ngoài các Viên giáo vị, tương đối và thô, nhưng vẫn khế hợp trong việc làm lợi ích cho chúng sinh. Tất cả những giáo lý được Như Lai thuyết ra đều ứng hợp với căn cơ khác nhau của chúng sinh, thấy rằng chúng sinh cảm nhận khác nhau, mức độ thanh tịnh khác nhau, nhận biết lỗi lầm của chính mình khác nhau, dùng những cách khác nhau để tự điều phục, và chứng ngộ khác nhau khi nghe được giáo lý Phật. (422) 

Nhìn về các quả vị thích ứng với căn cơ chúng sinh, Trí Khải nói về sự sinh khởi các vị. Vị Tạng giáoThông giáo nghiêng về chúng sinh trong Tam giới ; và vị Biệt giáoViên giáo cho các Bồ tát ngoài Tam giới. Vì thế, Trí Khải kết luận rằng những vị khác nhau hàm chứa những mục đích khác nhau của Phật, vá tất cả những mục tiêu nầy đều cần thiết cho sự giải thoát chúng sinh nên thấy rằng không thể khinh suất bất cứ vị nào. Trí Khải đưa ra những mục đích của Thế Tôn như sau 

(i) Tạng giáo vị nhằm phát khởi sự thanh tịnh qua hiện tượng trong ba cõi (Sheng Chieh-nei Shih-shan) (423), diệt bỏ xấu ác từ phối cảnh của Sự trong ba cõi (P’o Chieh-nei Shih-eh) (424), và vào Không như Chân Đế bằng cách phân tích và hợp nhất các pháp (Yuan-shih Ju-chen). 

(ii) Thông giáo vị nhằm mục đích phát khởi sự thanh tịnh về Lý trong tam giới (Sheng Chieh-nei Li-shan) (425), diệt xấu ác về Lý trong ba cõi (P’o Chieh-nei Li-eh) (426), và vào Không như Chân Đế bằng cách ngay nơi Pháp tức Không. (Yuan-li Ju-chen).

(iii) Biệt giáo vị nhằm mục đích phát khởi thanh tịnh qua hiện tượng ngoài ba cõi (Sheng-Chieh-wai Shih-shan) (427), diệt xấu ác trần sa hoặc trong thế giới hiện tượng (P’o Ch’en-sha Shih-eh) (428), và vào Trung Đạo bằng cách vượt lên trên Không và Giả, thấy rằng cả hai quan điểm nầy không phải là rốt ráo (Ts’ung-shih Ju chung). 

(iv) Viên giáo vị nhằm mục đích phát khởi thanh tịnh từ Lý ngoài ba cõi (Sheng Chieh-wai Li-shan)(429) từ Lý diệt xấu ác từ căn bản vô minh (P’o Wu-ming Li-eh)(430), và chứng ngộ Trung Đạo bằng cách viên dung cái nhìn về Không và Giả, thấy rằng lý Trung Đạo bao gồm cả hai lối nhìn nầy.(Yuan-li chien-chung)

Lập luận củaTrí Khải về sự phát khởi các vị khác nhau đưa ra một sự thăng tiến của các vị trong Tứ giáo. Vị trước có cái dụng làm nấc thang cho vị sau. Vị sau dựa vào vị trước để diệt vọng chứng chân. Trong số các vị, vị thuộc Tạng giáoThông giáo liên quan đến Không như Chân Đế. Vì hai vị nầy không thể vượt trên lý Không, nên chỉ có thể sinh khởi thanh tịnh qua Sự và Lý trong ba cõi và diệt xấu ác qua Sự và Lý trong ba cõi. Vị của Biệt giáoViên giáo thẳng vào Trung Đạo, viên dung Không và Giả. Vì vậy, vượt ngoài ba cõi, phát sinh thanh tịnh qua Sự và Lý ngoài ba cõi, diệt xấu ác qua sự và lý ngoài ba cõi. Hiển nhiên, mỗi tầng lớp vị trong Tứ giáo liên quan mật thiết với nhau : vị trước đưa đến vị sau, như một tiến trình giúp hành giả chứng ngộ bình đẳngTrung Đạo. Kết quả, Viên giáo vị được xác nhậnrốt ráo diệt căn bản vô minh và đưa hành giả nhập Phật địa. Đây là phương sách của Trí Khải nhấn mạnh vào sự siêu việt của Viên giáo vị trong khi xác định giá trị không thể bỏ qua của các vị trong ba giáo pháp kia. Theo Trí Khải, đang đi hoặc đã đến cùng một thực thể trên căn bản : không có sự diễn tiến, sự kết thúc không thể hiển lộ; không có sự kết thúc, sự diễn tiến không có giá trị.

7. Minh định sự phế bỏ những vị khác nhau (Ming Wei-fei) (T33, 737b -739a)

Trong những phần trên, Trí Khải đưa ra một sự hợp lý về lối sinh khởi các vị. Tuy nhiên, trong phần thứ bảy nầy Trí Khải nhấn mạnh vào một lối nhìn khác liên quan đến sự loại bỏ các vị nầy, nếu những quả vị nầy đã hoàn thành việc đưa hành giả đạt đến Phật giới. Trí Khải giải thích :

‘Tự nguyên lý, không có Vị. Vị là từ duyên mà sinh. Vì duyên tiếp tục sinh khởi, Vị cũng tiếp tục hoại diệt.’(431)

(i) Nhìn về sự hoại diệt các vị trong Tạng giáo, Trí Khải nói rằng Tạng giáo giúp hành giả vượt bỏ những xấu ác, hướng về thanh tịnh. Nếu đạt đến thanh tịnh, giáo pháp nầy sẽ bị loại bỏ trên tiến trình của hành giả. Với sự vượt qua giáo pháp Tạng giáo, hạnh và vị cũng bị phế bỏ. (432)

(ii) Nhìn về Thông giáo, Trí Khải nói rằng Thông giáo giúp hành giả không dừng lại ở chỗ an trụ vào khái niệm về Không. Vì Không đế chỉ là một phần của chân lý, hành giả nên tiến đến chỗ thấy được Bất Không (hiện tướng giả tạm) . 

(iii) Nhìn về Biệt giáo, Trí Khải nói rằng Biệt giáo giúp Bồ tát vượt qua trần sa hoặc. Khi phần việc nầy đã hoàn thành, giáo lý đã đầy đủ thì Biệt giáo vị nên bị loại bỏ. Ngoài ra, Trí Khải còn nói rằng một lý do khác nữa là Biệt giáo vẫn còn dùng ngôn từ của tha nhân để thích ứng với khuynh hướng của chúng sinh. Đặc biệt, Trí Khải nhấn mạnh rằng tất cả hạnh và vị trước Thập Địa nên bị loại bỏ. Tuy nhiên Thập Địa vị và Phật vị không nên phế bỏ ( nếu nói trong tương quan với sự chứng đạt Phật giới), và nên phế bỏ (nếu nói về những thứ lớp chứng đạt) . Sau cùng, vì để thành tựu Viên giáo vị, Biệt giáo vị cũng nên bị vượt bỏ.(434)

(iv) Nhìn về Viên giáo vị, Trí Khải khẳng định rằng tất cả tám quả vị của Viên giáothực vị, không phải là kết quả từ phương tiện giáo hóa khế cơ, mà hơn như vậy, đến thẳng từ giáo lý tối hậu diễn đạt lời của chư Phật, nên không phải xóa bỏ. (435).

 Hơn nữa, Trí Khải đưa ra một giải thích sâu hơn về các vị thuộc Viên giáo với các vị thuộc ba giáo pháp kia liên quan đến tương đốituyệt đối. Giáo pháp tương đối có hai đặc tính. Trước hết, những giáo pháp nầy không ngược dòng, và gián tiếp, thấy rằng Thế Tôn không trực tiếp diễn đạt bản hoài của Ngài trong việc hướng chúng sinh về Phật giới qua những giáo pháp tương đối nầy. Thứ hai, giáo pháp tương đối dùng để khế hợp căn cơ tự nhiên của chúng sinh (sui-ching) như rừng phải có cây (436). Với phương tiện diễn đạt Tam thừa (Thanh văn, Duyên giác, và Bồ tát), Thế Tôn dùng giáo pháp tương đối để hướng chúng sinh đến chỗ bình đẳng lãnh hội được Viên giáo, và vào được một Phật thừa. Hiển nhiên, giáo pháp tương đối, biểu thị qua ba loại cỏ thuốc và hai loại cây thuốc, thì không phải là giáo pháp tối thượng, nên phải vượt bỏ. Quả vị rốt ráo, biểu thị qua Viên giáo, sánh với ‘sông lớn (tên gọi) Hoàng Sa chảy thẳng vào bể Tây’, và sánh với ‘cành vàng lá bạc trong khu rừng quý báu’. Bởi vì những vị nầy không gián tiếp (như phương tiện thích hợp) nhưng trực tiếp (đi thẳng vào chân tánh) , những vị nầy không bị vượt bỏ (437). Hơn nữa, từ cái nhìn hợp nhất ba giáo pháp tương đối (Tạng, Thông, và Biệt giáo) với giáo pháp rốt ráo (Viên giáo), vị của những giáo pháp trước nên vượt bỏ, và vị của giáo pháp sau thì không.(438) Nói cách khác, vì Nhất Thừa của Phật giới là sự hợp nhất của Tam thừa, ba thừa nầy không còn cần thiết phải hiện diện, nhưng Nhất thừa thì cần thiết.

Ngoài những lý do loại bỏ các vị nói trên, Trí Khải đưa ra sự quán chiếu về ba giáo pháp tương đối : nên hoặc không nên phế bỏ (439). Ba giáo pháp nầy không nên vượt bỏ với ý nghĩa rằng cả ba là một phần trong những lời dạy của Thế Tôn. Ba giáo pháp nầy nên vượt bỏ với ý nghĩa rằng nếu mục tiêu có mặt đã thành tựu. Áp dụng cùng nguyên tắc để quán sát về Viên giáo, giáo pháp nầy cũng được nhìn dưới khía cạnh thành tựu và không thành tựu (440). Mặt khác,Viên giáo được nhìn như đã thành tựu từ thời điểm thuyết giáo đầu tiên của Thế Tôn, đối với ba giáo pháp trước kinh Pháp Hoa, Viên giáo được nhìn như là chưa thành tựu, đưa đến sự kiện rằng chưa có ý thức về Viên giáo. Nói cách khác, Viên giáo có mặt trong kinh Pháp Hoa.

8. Khai thô vị, hiển tế vị (K’ai ts’u-wei, hsien-miao wei) (T33, 739a-b)

Phần thứ tám nhấn mạnh vào tánh đồng nhất giữa thô vị và tế vị. Thô vị đồng như tế vị với nghĩa vị trước hàm chứa vị sau, và đưa đường cho sự thành tựu của vị sau (như cái trước là nền tảng phát sinh cái sau). Như vậy, vị thô của ba giáo pháp tương đối hàm chứa vị tế của Viên giáo. Dùng văn từ của Trí Khải thì Ba Là Một (Chi san Shih-I), chỉ cho Chân Diệu. Mở bày thô vị để hiển lộ tế vị.

9. Dẩn Kinh (Yin-ching) (T33, 739b-740c)

Phần thứ chín trưng dẩn tỷ dụ về năm vị sữa nói đến trong kinh Đại Niết Bàn để khảo sát các vị của Tứ giáo (441). Đối với mối tương quan giữa tỷ dụ và các vị trong Tứ giáo, Trí Khải nói :

‘Nếu Tứ giáo không được dùng để giải thích tý dụ, tỷ dụ không thể được hiểu ; nếu năm tỷ dụ không được dùng để phân chia các vị trong Tứ giáo, thì khó mà thuyết phục.’(442)

Ở đây, Trí Khải dùng năm vị sữa sánh với bốn vị Tứ giáo. Điều nầy để nói rằng mỗi vị hàm chứa năm vị, thành tựu năm thứ lớp chứng đắc trong mỗi vị. Với phương cách phân tích năm thứ bậc của từng vị trong bốn vị với năm vị sữa, sự khác biệt giữa các vị được thấy rõ. Thí dụ, vị sữa của Tạng giáo thì không giống với vị sữa của Thông giáo, và vị sữa của Thông giáo thì không giống với vị sữa của Biệt giáo v.v... Trí Khải phân tích chi tiết về những tỷ dụ nầy như sau :

(1) Nhìn về năm vị sữa dùng làm tỷ dụ cho năm thứ bậc quả vị Tạng giáo, Trí Khải giải thích rằng thứ bậc đầu tiên chỉ cho chúng sinh vô minh, sánh với sữa. Một chúng sinh vô minh thì chưa phát khởi sự tu tập, và chưa thể diệt vọng (443). Bậc thứ hai chỉ cho Tu Đà Hoàn, sánh với vị kem. Trí Khải nói rằng Tu Đà Hoàn diệt được cái thấy sai lầm, và từ một chúng sinh vô minh, trở thành một vị thánh, như sữa trở thành kem (444). Bậc thứ ba là Tư Đà Hàm, sánh với sữa đặc. Trí Khải nói tiếp rằng Tư Đà Hàm diệt sáu lớp vọng. Vì vậy, quả vị nầy sánh với sữa đặc (445). Bậc thứ tư là A Na Hàm, sánh với vị bơ. Trí Khải giải thích rằng A Na Hàm diệt được cái thấy sai lầm ở cõi Dục. Vì vậy được sánh với vị bơ (446). Bậc thứ năm là A La Hán, Bích Chi Phật, và Phật Tạng giáo sánh với vị đề hồ, vì A La Hán, Bích Chi Phật, và Phật hoàn toàn diệt cái thấy và làm sai lầm trong ba cõi (447).

(2) Nhìn về năm vị sữa dùng để tỷ dụ năm thứ bậc quả vị của Thông giáo, Trí Khải giải thích rằng bậc thứ nhất chỉ cho chúng sinh vô minh, sơ quả Tu Đà Hoàn, và nhị quả Tư Đà Hàm. Tuy nhiên, hạng chúng sinh vô minh thật sự không có quả vị, bởi vì chúng sinh vô minh chưa thể diệt vọng, giống như sữa pha trộn lẫn với máu bò. Hai quả vị kế tiếp không vượt qua được số đáng kể về cái thấy và thái độ sai lầm, quả vị nầy sánh với vị sữa (448). Bậc thứ hai sánh với quả vị A Na Hàm. Trí Khải nói rằng A Na Hàm hoàn toàn diệt được thấy và nghĩ sai lầm trong Dục giới, sánh với chất kem (449). Bậc thứ ba chỉ cho bậc A La Hán. Trí Khải nói rằng quả vị thứ tư nầy diệt được cả hai cái thấy và làm sai lầm, sánh với sữa đặc (450). Bậc thứ tư chỉ cho Bích Chi PhậtBồ tát. Trí Khải trưng dẩn rằng Bích Chi Phật, với trí tuệ sắc bén, diệt tập khí, và dần dần vượt qua Thanh văn. Quả vị Bích Chi Phật, cùng với Bồ tát, sánh với chất bơ (451) . Bậc thứ năm là Thập Địa. Trí Khải nói rằng Thập Địa được gọi là Phật địa, quả vị như chất đề hồ (452) . 

(3) Nhìn về năm vị sữa dùng để tỷ dụ năm thứ bậc quả vị của Biệt giáo, Trí Khải nói rằng bậc thứ nhất chỉ cho chúng sinh vô minh, thật sự không có quả vị, vì vẫn còn sánh như sữa pha trộn máu bò. Sữa sánh với vô minh, máu sánh với bốn thứ trói buộc (453). . Vì chúng sinh vô minh có bốn thứ ràng buộc, như vị sữa pha lẫn với máu (454). Bậc thứ hai chỉ cho (Uravaka). Trí Khải nói rằng những địa trong Thập Địa nầy tương đương với Nhị thừa, thấy rằng đã diệt được bốn thứ trói buộc. Vì thế, quả vị nầy sánh với vị sữa (455). Bậc thứ ba chỉ Bích Chi Phật. Trí Khải nói thêm rằng với trí Kim Cương rốt ráo của Thập Địa rõ ràng về lý, và sắc bén thâm nhập tri kiến, tương đương với Bích Chi Phật, là bậc đã diệt được tập khí. Vì thế, quả vị nầy sánh với chất kem (456). Bậc thứ tư chỉ Bồ tát. Trí Khải diễn tả rằng Thập Hạnh diệt vọng trần sa hoặc, quả vị nầy sánh với sữa đặc. Những quả vị trong Thập Hồi Hướng diệt trần sa hoặc ngoài tam giới, sánh với chất bơ. Vì vậy, quả vị Bồ tát được nhìn như sữa đặc và chất bơ (457). Bậc thứ năm chỉ cho Phật. Trí Khải mô tả Phật trên Thập Địa, diệt vô minhbiểu thị Phật tánh. Với một thân, ứng muôn thân và hằng trăm cõi Phật. Với tám tướng (458), đến Phật giới. Vì vậy, quả vị Phật sánh với chất đề hồ (459).

(4) Nhìn về năm vị sữa dùng để làm tỷ dụ năm thứ bậc quả vị của Viên giáo, Trí Khải luận về một đoạn kinh Niết Bàn :

‘Trong núi Tuyết, (460) có một loại cỏ gọi là cỏ Nhẫn Nhục. Nếu một con bò ăn được loại cỏ nầy, liền lập tức biến thành chất đề hồ (461). Con bò sánh với chúng sinh vô minh, cỏ sánh với Bát Chánh Đạo. (Nếu hành giả) tu tập Bát Chánh Đạo, lập tức vào được Phật tánh, gọi là đạt đến vị đề hồ. Điều nầy sánh với Viên Giáo, là nơi hành giả đi được trên con đường dài và rộng, quán sát rằng tất cả chúng sinh đồng thể tánh Niết Bàn, là cái không thể bị hoại diệt.’(462) 

Dẩn kinh Đại Niết Bàn, Trí Khải muốn nói rằng Bồ tát Viên giáo không cần phải đi qua bốn thứ lớp vị sữa trước khi đến vị đề hồ. Đây là một diễn đạt về sự siêu việt của Viên giáo. Trí Khải xác định rằng có bốn sự vi diệu xây dựng nên Viên giáo, và có thể được tỷ dụ như sau : 

(i) Sự kiện rằng con bò có thể tức thời làm thành chất đề hồ như chân lý khi ăn loại cỏ nầy có nghĩa rằng khái niệm về chân lý Viên giáotối hậu. Như vậy, cỏ Nhẫn Nhục (jen-ts’ao) dụ cho Diệu Cảnh (Ching-miao) .

(ii) Sự chứng đắc giải thoát kết quả từ việc bò ăn cỏ cho thấy rằng con bò dụ cho Diệu Trí (Chih-miao) thâm nhập chân lý.

(iii) Sự kiện giải thoát thực sự từ việc ăn cỏ cho thấy rằng tác động ăn chỉ cho Diệu Hành (Hsing-miao). 

(iv) Sau cùng, đề hồ dụ cho Diệu Vị (Wei-miao).

Để tô đậm sự siêu việt của Viên giáo, Trí Khải so sánh bốn khía cạnh nầy của Viên giáo với ba giáo pháp kia. Con bò ăn loại cỏ khác có ý rằng những pháp thô từ ba giáo pháp kia. Điều nầy bởi vì loại cỏ khác chỉ khiến cho máu bò làm thành sữa, và sữa phải đi qua những thay đổi (sữa thành kem, kem thành sữa đặc, sữa đặc thành bơ) trước khi có thể trở nên đề hồ. Điểm thứ hai liên quan đến chất đề hồ. Trí Khải nói rằng đề hồý nghĩa hoàn toàn khác biệt trong nội dung Tứ giáo. Mặc dù tất cả Tứ giáo đều cho rằng Phật trí sánh với đề hồ, nội dung Phật trí khác nhau, và sự trở nên đề hồ có thể là những thứ bậc khác nhau. Hành giả Tạng giáoThông giáo chưa hiểu được Trung Đạo, và chỉ biết đến Nhị Đế (Tục đếChân đế), do đó họ nhìn Không Đế (Absolute Truth of emptiness) là đề hồ. Bồ tát Biệt giáo, hướng về Thập Địa, sơ khởi diệt vô minh, có thể được xem như là Phật. Vị Bồ tát nầy thấy được lý Trung Đạođề hồ. Bồ tát Viên giáo, sơ quả Thập Trụ, đã đạt đến tri kiến Trung Đạo, có thể được nhìn như đề hồ. Với sự so sánh chất đề hồ qua nội dung Tứ giáo, chất đề hồ của Viên giáo được xem là vi tế (463).

Hơn nữa, Trí Khải dẩn chứng một đoạn kinh từ phẩm thứ hai mươi bảy, kinh Đại Niết Bàn :

‘Như một người nào đó bỏ độc dược vào sữa để giết người, ngay cả chất đề hồ cũng có thể giết người.’(464) 

 Đoạn kinh văn nầy được đưa ra nhằm mục đích nói rằng Phật tánh có mặt ở khắp nơi, và tất cả quả vị Viên giáo đều quan trọng như nhau, hành giả có thể chứng ngộ chân lý ở bất cứ vị nào trong các vị nầy. Trí Khải so sánh vị sữa với trí vô minh, thuốc độc với trí chân thực. Thuốc độc có thể giết người. Cũng vậy, thực trí dụ cho thuốc độc có khả năng tiêu diệt vô minh. Trí Khải nói rằng giống như thuốc độc, thực trí có mặt ngay trong trí của kẻ ngu. Chỗ nầy đưa ra một ý nghĩa quan trọng về tính cách không cố định, là không chắc chắn thuốc độc sẽ phát tác vào lúc nào. Bởi vì năm vị sữa chứa đầy thuốc độc, tất cả năm vị đều có khả năng giết người (diệt vô minh). Chỗ nầy có nghĩa rằng chúng sinhthể đạt đến Phật trí trong bất cứ vị nào mà không phải đi qua từng vị một. Diệt vô minh có nghĩa là đạt đến Phật trí trong năm vị nầy được Trí Khải kể ra trong tương quan với Tứ giáo như sau :

(1) Cái diệt thứ nhất được nói đến qua năm vị của kẻ ngu. ‘Diệt với sữa pha lẫn máu’(Hsueh-ju Sha-fen) chỉ cho kẻ còn ở trong vô minh, nhưng có cơ hội nghe kinh Hoa Nghiêm, tức thời nhận được yếu chỉ và vào được Phật tuệ (465). Thứ hai ‘diệt với chất kem’ (Lao-chung Sha-fen) chỉ cho hành giả, sau khi đạt đến Thập Trụ, chứng ngộ qua kinh Hoa Nghiêm. Thứ ba ‘diệt với sữa đặc’(Sheng-su Sha-fen) chỉ cho hành giả bậc Thập Hạnh chứng ngộ. Thứ tư ‘diệt với bơ’ (Shu-su Sha-fen) chỉ cho hành giả bậc Thập Hồi Hướng chứng ngộ. Thứ năm ‘diệt với chất đề hồ (T’i-hu Sha-fen) chỉ cho bậc Thập Địa chứng ngộ.

(2) Cái diệt thứ hai được nói đến qua hai vị của Tạng giáo. ‘diệt với chất sữa’ (Ju-chung Sha-fen) chỉ cho kẻ vô minh, Thanh văn, và Bồ tát. Khi hành giả nghe được Tạng giáo, hành giả lập tức thầm nhận được lý Trung Đạo (466). ‘Diệt với chất kem’ chỉ cho hành giả tứ quả, thầm nhận được lý Trung Đạo.

(3) Cái diệt thứ ba được nói đến qua năm vị Thông giáo. ‘Diệt với chất sữa’ chỉ cho kẻ vô minh, và Tam thừa. Nếu hành giả nghe được Thông giáo, có thể thầm nhận được Phật tánh. ‘Diệt với chất kem’ chỉ cho vị Bồ tát, khi vào một vị nào đó, thầm nhận nguyên lý. ‘Diệt với sữa đặc’ chỉ cho Bồ tát là bậc vào được Đạo Chủng Trí. ‘Diệt với chất bơ’ chỉ cho Bồ tát được chân lý ở địa thứ chín trong Thập Địa. ‘Diệt với chất đề hồ’ chỉ cho Bồ tát được chân lý ở địa thứ mười trong Thập Địa

(4) Cái diệt thứ tư được nói đến qua năm vị Biệt giáo. ‘Diệt với chất sữa’ chỉ cho Thập Tín, khi nghe được giáo lý Phật, nhận được yếu chỉ. ‘Diệt với kem, sữa đặc, và chất bơ’ chỉ cho các bậc Thập Trụ, Thập Hạnh, và Thập Hồi Hướng. ‘Diệt với chất đề hồ’ chỉ cho chỉ cho Thập Địa.

(5) Cái diệt thứ năm được nói đến qua Viên giáo. ‘Diệt với chất sữa’ chỉ cho hành giả, khi nghe được kinh Pháp Hoa, lập tức diệt vô minh, vào Phật tánh. ‘Diệt với chất kem, sữa đặc, và chất bơ’ chỉ cho hành giả được sáu căn thanh tịnh diệt vô minh và vào được Phật tánh. ‘Diệt với chất đề hồ’ chỉ cho hành giả bậc Thập Địa diệt vô minh, vào được Phật tánh.

Sự liệt kê về cách diệt vô minh qua Tứ giáo nói trên cho thấy rằng mỗi vị đều khả dĩ diệt được vô minh và nhận được Phật tánh. Nói cách khác, Phật tánh có thể phơi bày bất cứ thời điểm nào bởi vì dù là thô hoặc tế đều chứa đựng bản hoài của chư Phật cứu độ chúng sinh.

10. . Minh định thủy và chung của Diệu Vị (Ming Miao-wei Shih-chung) (T33, 740c-741b)

Đây là phần nói về Viên giáo vị sau cùng. Trí Khải kết luận rằng mặc dù Diệu Vị thuộc Viên giáo gồm những thứ lớp chứng đắc khác nhau (từ sơ địa cho đến địa sau cuối), đều cùng lúc cho thấy rằng không có sự khác biệt giữa điểm đầu tiên và điểm cuối cùng. Phần trên nói đến sự diệt vô minh khác nhau (thấy rằng chúng sinhthể đạt đến Phật tánh bất cứ lúc nào), là những thí dụ sống động về sự vô phân biệt giữa thủy và chung của Diệu Vị qua Viên giáo.

Phần trên nói đến sự phân tích của Trí Khải về Diệu Vị. Sáu nhóm quả vị được đưa ra, quả vị Nhân thừaThiên thừa, Nhị thừa thuộc Tạng giáo, Bồ tát Tạng giáo, Tam thừa Thông giáo, Biệt giáo, và Viên giáo. Trong sáu nhóm quả vị nầy, bốn nhóm qua Tứ giáo là quan trọng nhất, mặc dù có từng loại, nhưng tương quan lẫn nhau trong hệ thống phân loại của Trí Khải.

(1) Quả vị Nhị thừa Tạng giáo gồm có Thất HiềnThất Thánh thuộc Thanh văn, và Duyên giác. Thất Hiền được chia ra ngoại phàm biểu thị cho ba vị đầu của Ngũ đình tâmTứ niệm trụ.; và nội phàm biểu thị cho Tứ thanh tịnh tâm, Noãn, Đỉnh, Nhẫn, và Thế đệ nhất pháp. Thất Thánh thuộc Tứ quả A la hán, chỉ cho Tùy tín hạnh, Tùy pháp hạnh, Tín giải, Kiến đắc, Thân chứng, Huệ giải thoát La Hán, Câu giải thoát La Hán.

(2) Vị Tam thừa Thông Giáo gồm có mười quả vị và nói riêng về các Bồ tát mang những tên khác với mười quả vị nầy. Mười quả vị nầy là : Can Huệ Địa, tức Phục Nhẫn Bồ tát, Tánh Địa tức Thuận Nhẫn Bồ tát, Bát Nhẫn Địa tức Vô Sinh Pháp Nhẫn Đạo, Kiến Địa tức Vô Sinh Pháp Nhẫn Quả, Bạc Địa tức Du Hí Ngũ Thần Thông, Ly Dục Địa tức Ly Dục Thanh Tịnh, Dĩ Biện Địa tức Vô Sinh Pháp Nhẫn, Bích Chi Phật Địa tức Vô Sinh Pháp Nhẫn, Bồ Tát Địa, và Phật Địa.

(3) Vị Biệt giáo gồm năm mươi hai quả vị Bồ tát chia ra bảy bậc. Bảy bậc nầy là : Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, Đẳng Giác, và Diệu Giác.

(4) Vị Viên giáo gồm hai nhóm : Nhóm thứ nhất chỉ cho Viên giáo Ngũ Phẩm Đệ Tử Vị tương đương với Nội phàm, Can Huệ Địa của Thông giáo, và Thập Tín của Biệt giáo. Nhóm thứ hai chỉ cho Viên giáo Thất Chủng Vị mang bảy tên gọi như bảy thứ lớp của Biệt giáo

Bốn nhóm quả vị qua Tứ giao đồng như nhau về thứ bậc, nhưng vì Tứ gíáo được đề ra trong chiều hướng thượng, nên có bốn quả vị Tứ giáo. Biểu đồ về những thứ bậc tương đương trong Tứ giáo được toát yếu như sau :

Ba quả vị đầu tiên của Thất Hiền thuộc Tạng giáo, Ngũ Đình TâmTứ Niệm Trụ thuộc về Ngoại phàm, tương đương với vị thứ nhất trong mười vị thuộc Thông giáoCan Huệ Địa, tức Phục Nhẫn Bồ tát, Thập Tín của Biệt giáo, và Ngũ Đẳng Đệ Tử Vị của Viên giáo.

Bốn quả vị sau cuối của Thất Hiền thuộc Tạng giáo, Tứ Thanh Tịnh thuộc Nội phàm, tương đương với vị thứ hai trong mười vị thuộc Thông giáo, là Tánh Vị, tức Thuận Nhẫn, Tam Thập Tâm của Biệt giáo ( là Thập Trụ, Thập Hạnh, và Thập Hồi Hướng), và Thập Tín của Viên giáo.

Vị thứ nhất và thứ hai của Thất Thánh vị thuộc Tạng giáo, Tùy Tín HạnhTùy Pháp Hạnh thuộc về sơ quả Tu Đà Hoàn, tương đương với vị thứ ba trong mười vị thuộc Thông giáoBát Nhẫn Địa, tức Vô Sinh Pháp Nhẫn Đạo Bồ tát, và sơ địa trong mười địa của Biệt giáoHoan Hỷ Địa.

Vị thứ ba trong Thất Thánh vị thuộc Tạng giáo, Tín Giải thuộc Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, và A Na Hàm, tương đương với bậc thứ tư, thứ năm, và thứ sáu trong mười vị thuộc Thông giáoKiến Địa tức Vô Sinh Pháp Nhẫn Quả Bồ tát, Bạc Địa tức Du Hý Ngũ Thần Thông Bồ tát, và Ly Dục Địa tức Ly Dục Thanh Tịnh Bồ tát. Nói cách khác, Kiến Địa tương đương với sơ địa trong Thập Địa thuộc Biệt giáoHoan Hỷ Địa. Bạc Địa tương đương với địa thứ hai và thứ ba trong Thập ĐịaLy Cấu Địa, và Phát Quang Địa. Ly Dục Địa Tương đương với bậc thứ tư và thứ năm là Diệm Tuệ Địa, và Cực Nan Thắng Địa.

Vị thứ tư và thứ năm trong Thất Thánh thuộc Tạng giáo là Kiến Đắc và Thân Chứng thuộc quả A Na Hàm, tương đương với vị thứ sáu trong mười vị thuộc Thông giáoLy Dục Vị.

Vị thứ sáu và thứ bảy trong Thất Thánh thuộc Tạng giáoA La Hán giải thoát từng phần và A La Hán giải thoát toàn diện thuộc tứ quả A La Hán, tương đương với vị thứ bảy trong mười địa thuộc Thông giáoDĩ Biện Địa tức Vô Sinh Pháp Nhẫn Bồ tát, và địa thứ sáu và thứ bảy trong mười địa thuộc Biệt giáoHiện Tiền ĐịaViễn Hành Địa.

Vị thứ tám trong mười vị thuộc Thông giáoBích Chi Phật Địa tức Vô Sinh Pháp Nhẫn Bồ tát, tương đương với địa thứ tám thuộc Biệt giáoBất Động Địa.

Vị thứ chín trong mười vị thuộc Thông giáoBồ tát địa, tương đương với địa thứ chín thuộc Biệt giáoThiện Tuệ Địa.

Vị thứ mười trong mười vị thuộc Thông giáoPhật Địa, tương đương với địa thứ mười thuộc Biệt giáoPháp Vân Địa.

So sánh với Viên giáo thì Thập Địa của Biệt giáo tương đương với Thập Trụ của Viên giáo. Hơn nữa, vị thứ nhất trong Thập Hạnh Viên giáo tương đương với Đẳng giác của Biệt giáo, và vị thứ hai trong Thập Hạnh Viên giáo tương đương với Diệu Giác của Biệt giáo. Từ vị Thập Hạnh thứ ba cho đến Diệu Giác thuộc Viên giáo, những quả vị nầy thuần túy của Viên giáo, và vượt trên những quả vị của ba giáo pháp Tạng, Thông, và Biệt giáo.

Phương cách so sánh những quả vị trong Tứ giáo phản ảnh sự phân tích không rời rạc của Trí Khải về hệ thống phân loại qua Tứ giáo. Sự phân tích của Đại Sư về các quả vị dung hợp tất cả các giáo thuyết Phật giáo về quả vị. Chiều hướng thượng của Tứ giáo hoàn toàn rõ rệt qua bốn nhóm quả vị 

(i) Sự chứng đắc cao nhất của Tạng giáo thuộc tứ quả A La Hán chỉ tương đương với vị thứ bảy trong mười vị của Thông giáo, địa thứ sáu và thứ bảy trong mười địa của Biệt giáo, và Thập Trụ của Viên giáo.

(ii) Sự chứng đắc cao nhất của Thông giáoPhật địa chỉ tương đương với Thập Địa của Biệt giáo, và Thập Trụ của Viên giáo.

(iii) Sự chứng đắc cao nhất của Biệt giáoDiệu Giác chỉ tương đương với bậc thứ hai trong Thập Hạnh của Viên giáo.

(iv) Tất cả những quả vị còn lại của Viên giáo (từ quả Thập Hạnh thứ ba đến Diệu Giác) thì vượt trên tất cả những quả vị Biệt giáo. Điều nầy nói lên rằng những quả vị Viên giáo là sự chứng đắc rốt ráo Phật giới. Biểu đồ về các quả vị qua Tứ giáo hài hòa với biểu đồ Cảnh, Trí, và Hành. Như vậy, nói về việc đạt đến chỗ rốt ráo thì con đường Viên giáothậm thâm vi diệu, có thể được chứng đắc Phật tánh. Trong khi xác định sự siêu việt của Viên giáo, Trí Khải nhắc chúng ta rằng không nên khinh suất Tạng giáo, Thông giáo, và Biệt giáo, bởi vì nếu không có những giáo pháp tương đối đưa đường chúng sinh về với tuyệt đối, thì chúng sinh không thể đạt đến sự chứng ngộ toàn diện

1.4.5 Diệu Tam Pháp - phân tích về cái Diệu thứ năm thuộc Tích Môn (T33, 741b-746c). 

Sau khi luận về Diệu Cảnh, Diệu Trí, Diệu Hành, và Diệu Vị, đề mục thứ năm của Trí Khải là Diệu Tam Pháp. Chúng ta có thể nói rằng đề mục Diệu Vị thứ tư là kết quả của Diệu Cảnh, Diệu Trí, và Diệu Hành, từ cái trước, cái sau thành tựu. Trong phần nầy đi xa hơn kết lại bốn cái Diệu nói trên, thấy rằng Diệu Tam Pháp gần với Diệu Vị (cái trước chứa đựng cái sau) (467).

Trong lối nhìn của Trí Khải, đường (track) là pháp (dharma) và pháp là đường : ‘Cái gọi là pháp có thể gọi là đường, theo đường chư Phật vào Phật giới’ (468) .

Đặc biệt, Tam Pháp cũng được gọi là Tam quĩ phạm (San-kui), chỉ cho Chân tánh, Quán chiếu, và Tư thành. Ba quĩ phạm nầy là lối phát họa của Trí Khải về thế giới hiện tượng: có ba pháp vạch ra, và tất cả sự vật trong mười pháp giới gồm thu ba pháp nầy. Nói cách khác, toàn thể vũ trụ được dựng lập bởi ba quĩ phạm. Đường ngang, ba quĩ phạm bao che chiều rộng mười phương; đường dọc, thâm nhập ba thời, từ điểm bắt đầu như nhân, và điểm sau cùng như quả. Theo định nghĩa của Trí Khải, Chân Tánh chỉ cho thực tánh bất biến của chúng sinhđặc tính không nhiễm ô và không sai khác; Quán Chiếu chỉ cho trí tuệ có khả năng diệt vọng, hiển lộ thực tánh của chúng sinh; và Tư Thành chỉ sự triển khai những hạt giống cần thiết cho trí tuệ chứng ngộ thực tánh nầy. Tam quĩ phạm liên quan đến Phật tánh như Tam Nhân của Phật tánh. Chân Tánh hợp vớì Chánh Nhân, chỉ cho sự kiện tất cả chúng sinh có sẳn thực tánh nầy. Quán Chiếu hợp với Liễu Nhân, đó là năng lực trí tuệ sẳn có giúp chúng sinh mở bày chân tánh bên trong. Tư Thành hợp với Duyên Nhân, hoặc bản năng sẳn có về Phật giới trong tất cả chúng sinh, giúp vào việc phát triển những mầm mống quý báu để đạt đến trí tuệ. Theo như định nghĩa nầy, Trí Khải tin rằng Tam Phật tánh là mầm mống Phật giới ẩn tàng đưa đến sự chứng đắc Phật giới, chiếu soi ánh sáng vào sự phổ độ chúng sinh. Tam quĩ phạm, mặt khác, là sự hiển lộ quả Phật tánh, quả giải thoát sau cùng. Trí Khải gọi Tam Phật tánh (Triple Buddha-nature) là Tam Quĩ Tánh Đức (Hsing-te San-kui).

Hơn nữa, thuyết của Trí Khải về Tam Pháp hiển thị Một Phật Thừa như cốt lõi của kinh Pháp Hoa. Trí Khải nói rõ rằng một Phật thừa gồm có Tam quĩ. Chỉ khi nào hành giả ngồi được trên cổ xe thành lập bởi tam quỉ phạm thì mới có thể đến được Bồ đề đạo tràngchứng đạo. Điều nầy cho thấy rằng Tam quĩ là ‘Tu Đức Tam Quĩ Phạm’ (Hsiu-te San-kui). Với Trí Khải, Tam quĩ trong giáo lý Phật đặc biệtý nghĩa như phản ảnh tất cả nhân quả của sự chứng đắc Phật giới. Thấy rằng Tam quĩ gồm tất cả pháp từ thủy chí chung, thể và tướng trong vũ trụ có thể gồm thu trong Tam quĩ. Tam quĩ thành tựu Đại thừa có thể xem như là thể, và Tam quĩ phạm chứa đựng vạn vật có thể xem như là tướng.

I. Định nghĩa Tam Quĩ Phạm 

Với mục đích phân tích tam quĩ, Trí Khải đưa ra một lối nhìn thâm sâu bằng cách trước hết định nghĩa tam quĩ trong tương quan với một Phật thừa. Một Phật thừa nầy là đặc tính tổng quát của tam quĩ, bởi vì cái trước thành tựu cái sau. Một và Ba không phải là cố định, nói Nhất Thừa liên quan đến ba quĩ phạm, và quán chiếu ba quĩ phạm không gì khác hơn là trên một Phật thừa. Điều nầy bởi vì một Phật thừa nội dung cực kỳ phong phú, và mang những tên gọi khác nhau. Thể và Tướng tương nhập vào nhau, thành một thực tại. Trí Khải nói : ‘Một Phật thừa nầy tương ứng với Tam Pháp, cũng có tên là Đệ Nhất Nghĩa Đế, Đệ Nhất Không, và Như Lai Tạng. Ba thực thể nầy không cố định là ba, vì ba được nói qua một ; một thực tại cũng không là một, vì một được nói qua ba.(469)

Tóm lại, ba quĩ phạm và một Phật thừa là hai tên gọi của một thực tại, một trong ba, và ba trong một. Trí Khải nói về tánh bất định nầy bằng cách dẩn một lối nói xác định, phủ định, và hai lần phủ định (một, không phải một, chẳng phải một, chẳng phải chẳng phải một). 

(i) Lối nói xác định ‘một’ diễn tả khái niệm Đệ Nhất Nghĩa Đế (Supreme Truth) khiến sự tuyệt đối của chân thực tại được chỉ rõ. Trí Khải dùng danh từ Đệ Nhất Nghĩa Đế để nói rằng vạn pháp vào một Phật thừa.

(ii) Lối nói phủ định ‘không phải một’ diễn tả khái niệm về Như Lai Tạng, chỉ tánh dụng của chân thực tại. Danh tự nầy được Trí Khải dùng để nói đến sự phong phú của Như Lai Tạng qua vô lượng pháp môn giáo hóa chúng sinh. Để khế hợp căn cơ khác nhau của chúng sinh, Thế Tôn thuyết ra các thừa khác nhau.

(iii) Lối nói hai lần phủ định ‘chẳng phải một, chẳng phải chẳng phải một’ đưa ra khái niệm ‘Đệ Nhất Nghĩa Không’ (Supreme Meaning of Emptiness). Danh tự nầy chỉ cho cái dụng phát sinh từ tánh Không, và Trí Khải dung hợp với phương tiện khéo léo và thích hợp của chân thực tại : Tương đối hàm chứa Tuyệt đối và ngược lại. Thế Tôn thuyết pháp theo những duyên nầy. giáo lý dường như cố định nhưng không hẳn là cố định, bởi vì Thế Tôn thuyết pháp tuyệt đối của một Phật thừa cũng như pháp tương đối của Tam thừa (Thanh văn, Duyên giác, và Bồ tát). Mặc dù trong giáo lý Thế Tôn có pháp tương đối Tam thừa, cuối cùng, tất cả đều hoán chuyển vào Nhất Thừa tối thượng.

Chúng ta có thể đặt câu hỏi rằng : Với ý nghĩatam quĩ phạm đại diện tất cả pháp? Điểm nầy nên được nhìn trong tương quan với Tam Diệu (Cảnh như thực, Trí, và Hành). Trong hệ thống hiểu Phật pháp của Trí Khải, ba môn Diệu nầy có nhiều ý nghĩa nhất trong những yếu tố phải có để đạt đến giải thoát. Ba môn Diệu nầy không thể phân ly : Chân lý như một đối tượng phải được thâm nhập trong sự chứng đắc giải thoát; trí đòi hỏi nhằm mục đích thâm nhập chân lý; và thực hànhphương tiện để đạt trí nhằm vào được sự thật. Trí Khải nhìn chân lý như Thể, trí như Tông, và hành như Dụng. Tất cả ba yếu tố nầy cần phải có trước khi đạt đến giải thoát, thấy rằng ba cái diệu nầy đã lần lượt tạo nên đặc tính của tam quĩ phạm. Quĩ phạm Chân Tánh liên quan đến chân thực tại, biểu thị Diệu Cảnh ; quĩ phạm Quán Chiếu liên quan đến trí thâm nhập vào chân thực tại, biểu thị Diệu Trí ; và quĩ phạm Tư Thành liên quan đến thực hành để đạt đến trí thâm nhập vào chân thực tại, biểu thị Diệu Hành. Vì vậyTrí Khải nhìn ba môn Diệu đầu tiên như nhân chứng đắc Bồ Đề, và ba quĩ phạm là quả Phật giới . Mặc dù tam diệu là nhân, và ba quĩ phạm là quả, nhân và quả có trong nhau : nhân đưa đến quả, và quả sinh ra nhân. Tự nền tảng, nhân và quả là một thực thể, và cả hai thành tựu bởi tam quĩ phạm.

Vậy thì cái gì là sự khác biệt giữa nhân và quả được gọi tên và có mặt riêng biệt?. Trước hết, Trí Khải nói rằng ba cái diệu xem như ba quĩ phạm có thể mô tả nhân giải thoát, và một Phật thừa thành tựu bởi tam quĩ phạm là quả Phật giới. Thứ hai, tam diệu Cảnh, Trí, và Hành được trình bày riêng biệt để diễn tả tiến trình đạt đến giải thoát. tam quĩ phạm được nói chung như một thực thể để phát họa quả như một Phật thừa. Thứ ba, ba cái diệu và ba quĩ phạm lần lượt chiếu soi từ thủy chí chung sự tu tập đạt giải thoát của hành giả. Tam diệutam quĩ phạm liên quan đến tánh đức tam quĩ (hsing-te san-kui), và tam quĩ phạm liên quan đến tu đức tam quĩ (hsiu-te san-kui)

Hơn nữa, Trí Khải nhấn mạnh rằng tam quĩ phạm có những ý nghĩa khác nhau qua Tứ giáo với sự kiện rằng Tứ giáo kết quả từ giáo, hành, và chứng khác nhau. Chỉ khi nào những định nghĩa về ba quĩ phạm qua Tứ giáo được phân biệt, hành giả có thể hiểu trọn vẹn ý nghĩa tổng quát của ba quĩ phạm như Một Đại Thừa. Như Trí Khải nói :‘Hành giả nên biết phương tiện khế hợp được Như Lai áp dụng trước khi hành giả hiểu ba quĩ phạm là Một Đại Thừa.’(470). Trí Khải có ý nói rằng vạn pháp đến từ một nguồn - Như Lai Tạng. Từ điểm nầy, chư Phật đưa ra nhiều phương cách khác nhau để cứu độ chúng sinh, như tam thừa lần lượt qua Tạng giáo, Thông giáo, và Biệt giáo. Thật sự, chỉ có Một Đại ThừaPhật thừa, bao gồm ba thừa nầy, và trong hệ thống của Trí Khải, Phật thừa tối hậu nầy được trình bày bởi Viên giáo.

Nói một cách tổng quát, Chân Tánh nằm trong chân thực tại luôn hiện hữu, không thể bị hủy diệt. Quán Chiếu nằm trong trí tuệ thâm nhập chân lý. Tư Thành nằm trong tu tập giải thoát. Ba quĩ phạm nầy mang những nội dung khác nhau qua Tứ giáo hoặc thô hoặc tế. Với tiêu chuẩn của Trí Khải, nếu nội dung từng quĩ phạm không liên hệ với nhau để tạo thành một thực thể liên tục, thì những quĩ phạm nầy trở thành những giáo pháp tương đối. Chỉ khi nào nội dung của cả ba mặt tương nhập vào nhau và cùng hoạt dụng thành tựu nhất thừa tối hậu thì mới được nhìn là vi tế.

Trong đường hướng nào ba quĩ phạm có thể được xác định như Một Phật Thừa? Điều nầy làm được bằng cách quán chiếu ba quĩ phạm qua Tứ giáo. Theo Trí Khải, một cổ xe hợp lý là phải có thể chấtcông dụng. Quĩ phạm Chân Tánh biểu thị chất liệu cổ xe, quĩ phạm quán chiếu và tư thành chỉ cho dụng. Thể chứa đựng dụng, do đó hành giả không thể chỉ đạt đến giải thoát cho riêng bản thân mình, nhưng tiếp tục hoán chuyển người. Dụng có hai nghĩa. Nói cách khác, dụng cụ là nhân duyên khiến hành giả đạt đến giải thoát. Mặt khác, dụng cụ cũng là sự hiển lộ chân lý. Từ Thể sinh ra Dụng. Đạt đến chỗ tự giải thoát. hành giả nên tiếp tục con đường giáo hóahoán chuyển chúng sinh. Vì vậy, Thể phải chứa đựng Dụng, và Dụng phải dựa trên Thể. Một cổ xe vĩ đại toàn hảo hoàn thành khi thể và dụng hòa hợp vào một thực tại, trong khi từng phần vẫn tương ưng với bản tính đặc thù. Thể đưa đến Dụng cho thấy rằng chư Phật không chỉ tự giải thoát, mà còn liên tục thuyết pháp hóa độ chúng sinh. Dụng đưa vảo Thể cho thấy rằng hoạt dụng phổ độ của chư Phật đồng thời phát sinh từ chân tánh tĩnh lặng. Sau đây là sự quán sát của Trí Khải về ý nghĩa của tam quĩ phạm qua Tứ giáo.

(1) Nội dung của ba quĩ phạm qua Tạng giáo liên quan đến sự thực chứng vô nhiễm của A La Hán, là bậc đã vào Không qua phân tích và chia chẻ các pháp đến chỗ không có gì còn lại (Hsi-fa Ju-k’ung). Trí tuệ, trong Quán Chiếu, liên hệ đến sự phân biệt nhằm mục đích đạt đến trạng thái bất động của Niết Bàn. Hành, qua Tư Thành liên hệ đến sự diệt kiến, tư hoặc trong ba cõi nhằm mục đích đạt đến Chân Không. Sau cùng, Chân Tánh được định nghĩa bởi Không như Chân Đế. Trí Khải nói rằng Chân Đế nầy là cái có từ Chân Tánh thuộc Tạng giáo, không thể được xem là Thể, bởi vì không đưa ra được ý nghĩa của Dụng, và chỉ đứng yên như một mục tiêu bất dụng mà hai quĩ phạm kia hướng về. Tuy nhiên, quĩ phạm Quán Chiếu ở tại trí tuệ bất động, cung ứng sự chứng đắc Niết Bàn, được xem là Thể. Quĩ phạm Tư Thành, giúp hành giả đạt đến trí tuệ nầy, được xem là dụng cụ. Trí Khải nói tiếp rằng thay vì quĩ phạm Chân Tánh là cổ xe, giáo lý giải thích Chân Tánh nầy có thể được nhìn như là cổ xe. Tuy nhiên khi mục tiêu nhìn Không như Chân Đế được chứng ngộ, giáo lý không còn cần thiết, và vì vậy, không có cả một giáo lý có thể được nhìn như là một thừa. Về chính sự chứng đắc, bởi vì chứng ngộ về Không đưa đến diệt sự bất động, trong đó bậc A la hán không còn hoạt dụng trong thế tục, sự chứng ngộ nầy không rốt ráo, và cũng không mang một ý nghĩa gì về thừa. Với Trí Khải, điều nầy có nghĩa rằng ba quĩ phạm chung cùng không thể làm thành chỉ một thừa. Điều có thể suy ra từ kết luận nầy là tam quĩ phạm của Tạng giáo chỉ chứa đựng ý nghĩa ‘tìm một cổ xe’ (thừa) . (471)

(2) Nội dung ba quĩ phạm Thông giáo cũng gắn liền với thực chứng vô nhiễm của bậc A la hán. Sự khác biệt nằm trong sự kiện hành giả Thông giáo vào lý Không bằng cách thấy Không ngay ở trong pháp (T’i- fa Ju-k’ung). Hành giả thấy rằng chính thế giới hiện tượng thì bất định và như mộng, vì thế là Không. Vạn hữu đồng với Không, và đây là Chân Đế. Không Đế, từ Chân Tánh có thể được xem như Thể. Quán Chiếu liên quan đến trí tuệ đồng nhất giữa Không và Hữu. Tư Thành liên quan đến những hạnh thanh tịnh Phật địa và cứu giúp chúng sinh khác nhau của Bồ tát. Mặc dù quĩ phạm Chân Tánh có thể được xem như Thể về mặt giáo thuyết (thấy rằng chư Bồ tát tiếp tục làm việc cứu độ chúng sinh trên sự chứng ngộ về Chân Không), thực sự, điều nầy chưa hoàn bị. Lý do vì cũng như hành giả Tạng giáo, mục tiêu sau cuối của chư Thanh văn, Bồ tát độn căn, và các vị Duyên Giác Thông giáo địa thứ bảy và thứ tám trong mười bậc thuộc Thông giáochứng ngộ Không. Mặc dù Bồ tát địa thứ chín và thứ mười có làm việc thanh tịnh cõi Phậtcứu độ chúng sinh, hai địa nầy chỉ có danh, không người chứng đắc. (472) Những giáo thuyết giải thích về lý Không không thể được xem như là một thừa, bởi vì sự chứng đắc khiến giáo thuyết trở nên không cần thiết. Về chính sự chứng ngộ, cũng không thể viên mãn, vì đây là trạng thái diệt tận. Trí Khải kết luận rằng cả tam quĩ phạm thuộc Thông giáo cũng không thể làm thành chỉ một thừa. Cái có thể suy ra từ kết luận nầy là ba quĩ phạm Thông giáo chỉ mang ý nghĩa ‘tìm một cổ xe (thừa).(473)

(3) Trường hợp Biệt giáo, với sự kiện rằng sự tu tập chính của Bồ tát Biệt giáo nhắm vào việc thượng cầu Bồ đề hạ hóa chúng sinh, và Bồ tát có thể vào lý Trung Đạo không những hiểu được Không tánh mà còn thấy được Giả tướng, Quán Chiếu được xem như là Thể. Trung Đạo được hiển lộ qua bản thể của trí tuệ. Trong trường hợp nầy, Chân Tánh chỉ cho thể của trí tuệ. Tư Thành nói về những hoạt dụng khác nhau của Bồ tát thực hành để hoán chuyển chúng sinh. Trí Khải giải thích rằng lý do Chân Tánh không thể được xem là Thể vì Thể đưa đến cái Dụng diệt vọng. Chỉ có quán Chiếu của Biệt giáo có cái dụng diệt trần sa hoặcchuyển đạtTrung Đạo. So sánh với tam quĩ phạm của Viên giáo, Trí Khải nói rằng tam quĩ phạm của Biệt giáo chưa hoàn chỉnh, vì quĩ phạm Chân Tánh không được xem như là Thể, và cả ba chưa đến chỗ hợp nhất thành chỉ một thừa. (474).

(4) Nhìn về ba quĩ phạm Viên giáo, Trí Khải nhấn mạnh rằng cả ba bổ xung cho nhau, và cả ba hợp nhất tạo nên một Phật thừa. Điều nầy có nghĩa rằng quĩ phạm Chân Tánh chỉ sự thường trụ của tánh Phật như chánh nhân Bồ đề. Dựa vào thực tại nầy- ngay Chân Tánh phát sinh quĩ phạm Quán Chiếu, cả tịch lặng và chiếu soi, và chuyển đạt Đệ Nhất Nghĩa Không. Trí Khải nói rằng sau khi Bồ tát Viên giáo chứng đắc Phật giới, quốc độ không hoàn toàn tịch diệt, nhưng mang theo cái dụng cứu giúp chúng sinh đồng thời không chủ ý tự động phát sinh. Điều nầy có nghĩa rằng chư Phật trụ nơi quốc độ tịch và chiếu. Sự chiếu soi nầy chỉ cho hoạt dụng liên tục phổ độ chúng sinh, là mục tiêu sau cùng của Bồ tát hành trì để chứng nhập Bồ đề. Sự tự giải thoát không khiến cho cái dụng nầy chấm dứt, nhưng chỉ có nghĩa rằng hoạt dụng của chư Phật tự nhiên, thiện xảo, và ứng hợp với nhân và duyên. Quĩ phạm Tư Thành liên quan đến Như Lai Tạng, gồm muôn hạnh và muôn pháp môn trong Pháp giới.

Cách dùng để biểu thị ba quĩ phạm nầy là xác định, phủ định, và hai lần phủ định, như một, chẳng phải một, và chẳng phải chẳng phải một, hiển lộ trong tương quan chẳng tung chẳng hoành trong ba quĩ phạm nầy. Nói cách khác, sự tương quan là tương liên, không thể nói bằng những danh tự cố định. Cùng chung, ba quĩ phạm làm thành một thực tại hội nhập ; tách biệt, mỗi cái tự phơi bày cái dụng của riêng mình. Là ‘Một’, bởi vì vạn pháp gồm thu bởi Pháp tánh (Dharmata). ‘Chẳng phải một’ vì Phật giới có cả hai tịch và chiếu. ‘Chẳng phải chẳng phải Một ’ vì Như Lai Tạng là một thực tại gồm vô lượng hạnh và vô lượng pháp môn. Trí Khải đưa ra viên ngọc như ý để tỷ dụ cho ba quĩ phạm là một thực tại đồng thời cũng phân ra riêng biệt. Giá trị và ánh sáng khác với bảo châu, vì cả ba chỉ cho ba khía cạnh; và giá trị và ánh sáng không khác với bảo châu, vì cái trước có từ cái sau. Hiển nhiên, giá trị và ánh sáng lần lượt mô tả Quán Chiếu và Tư Thành, và là cái dụng của ngọc quý ; viên ngọc mô tả Chân Tánh, và là Thể của giá trị và ánh sáng. Vì vậy, Trí Khải gọi tam quĩ phạm là Pháp bất tư nghị

Thấy được rõ ràng rằng ba quĩ phạm Viên giáo biểu thị Một Phật Thừa, và chỉ Phật giới, là chỗ các hành giả của ba giáo pháp Tạng, Thông, và Biệt giáo không thể thấy hiểu được. Nhìn vào sự kiện các vị nầy chưa thể hiểu được ba quĩ phạm Viên giáo, Trí Khải nói rằng ba quĩ phạm lại trở thành ba ngăn ngại. Bởi vì sao? Nếu hành giả không diệt được trần sa hoặc trong và ngoài tam giới, điều nầy có nghĩa rằng hành giả chưa nắm được vô lượng pháp môn, làm trở ngại cái thấy Như Lai Tạng. Nếu hành giả chưa diệt được kiến hoặctư hoặc, có nghĩa rằng hành giả chưa chứng được tánh Không, là cái ngăn ngại cái thấy của hành giả về Đệ Nhất Nghĩa Không. Nếu hành giả chưa diệt được căn bản vô minh, có nghĩa rằng hành giả chưa chứng ngộ Chân Như trong vạn pháp, khiến nguyên lý tối thượng của chân tánh không được phơi bày.

Tuy nhiên, nhìn cách khác thì ba sự ngăn ngại nầy là cốt lõi của sự chứng ngộ Tam Đức (Pháp Thân, Trí Tuệ, và Giải Thoát). Làm cách nào những điều nầy có thể được? Trí Khải giải thích

(i) Hiểu rằng có vô lượng pháp môn như phương tiện cứu độ chúngsinh, diệt được trần sa hoặc.

(ii) Hiểu được tánh Không của thực tại, diệt được kiến hoặctư hoặc. Điều nầy có nghĩa rằng hành giả vào được Đệ Nhất Nghĩa Không. Cái Không nầy tịch mà chiếu, vì hành giả tương ưng với trí tuệ Bát Nhã, và Quán Chiếu đã hiển lộ. Sự hiển lộ quĩ phạm Quán Chiếu có tên là Bát Nhã.

(iii) Hiểu được thực tánh của chân lý, diệt được căn bản vô minh, ám chỉ rằng hành giả đã chứng ngộ được nguyên lý tối thượng của pháp tánh. Vì sự chứng ngộ nầy, quĩ phạm Chân Tánh hiển lộ, có tên là Pháp Thân. Với quĩ phạm Chân Tánh như vật liệu, hai quĩ phạm Quán Chiếu và Tư Thành làm thànhdụng cụ, ba quĩ phạm hợp lại làm thành Phật thừa. Đi trên cổ xe nầy, hành giả Viên giáo có thể trực nhập Bồ đề đạo tràng. Phật thừa nầy trong Viên giáo không những tự giải thoát mà còn đồng thời giáo hóachuyển tâm chúng sinh.

Lập luận về ý nghĩa hoàn mãn của Phật thừa thuộc Viên giáo, Trí Khải đi xa hơn, vén màn Phật thừa, là thừa trụ ở chỗ không hoàn bị cũng chẳng không hoàn bị. Điều Trí Khải kỳ vọng chứng minh là, mặc dù Phật thừa có thể được mô tả phần nào qua lối nói xác định, nội dung phong phú hơn cái mà lối nói nầy có thể hiển bài. Nếu quĩ phạm Chân Tánh như Thể trụ ở chỗ không động chẳng không động, thì, Phật thừa không viên mãn chẳng không viên mãn. Nếu quĩ phạm Quán Chiếu và Tư Thành liên quan đến hoạt dụng đồng thời tùy duyên cứu độ chúng sinh của chư Phật, thì Phật thừa được nhìn như viên mãn. Trí Khải, vì vậy đi đến kết luận rằng viên mãn và không viên mãn của Phật thừa chỉ là một thực thểhai mặt, với nghĩa rằng Thể và Dụng hợp nhất trong khi phơi bày từng đặc tính riêng. (475)

II. Thô và tế của ba quĩ phạm qua Tứ giáo 

Với phương tiện quán sát ba quĩ phạm qua Tứ giáo, Trí Khải nhìn ba quĩ phạm của Tạng giáo, Thông giáo, và Biệt giáo là thô, và quĩ phạm Viên giáo là tế. Tiêu chuẩn thẩm định thô và tế của Đại Sư dựa vào hoặc là mỗi quĩ phạm có thể được xem là một thừa, hoặc nếu cùng chung, có thể lập thành một thừa.

(1) Qua ba quĩ phạm thuộc Tạng giáo, trí tuệ vào Không qua lối phân tích và chia chẻ các pháp từ Quán Chiếu và những thực hành giúp cho đạt đến trí tuệ từ Tư Thành có thể được nhìn như một thừa riêng biệt. Mỗi thừa hoạt dụng như một thừa để giúp hành giả diệt kiến và tư hoặc, và như một con đường chứng ngộ sự vô nhiễm của A La Hán, nhưng hai quĩ phạm nầy có cái dụng trên những thứ bậc khác nhau. Với Tư Thành, hành giả mang những hạt giống giá trị đạt đến trí tuệ. Với Quán Chiếu, hành giả diệt vọng trói buộc trong vòng luân hồi, và thấy được thực tánh vô nhiễm của chính mình. Khái niệm về thực tánh nầy nằm trong Chân Tánh. Trạng thái hành giả đạt đến quĩ phạm nầy là tự giác, nhưng không có cái dụng giác tha. Vì thế, quĩ phạm nầy không thể viên mãn. Thấy rằng hai trong ba quĩ phạm thành tựu và cái thứ ba thì không thành tựu, ba quĩ phạm không thể làm thành một thừa rốt ráo trong Tạng giáo. Trí Khải cho rằng ba quĩ phạm nầy là thô, vì chỉ như giáo pháp tương đối được Thế Tôn đưa ra để ứng hợp căn cơ chúng sinh, không hợp với nghĩa Đại thừa.

(2) Ba quĩ phạm Thông giáo, bằng cách hợp nhất Hữu và Không, trí tuệ từ quĩ phạm Quán Chiếu khéo thâm nhập vào Không. Sự thực hành qua Tư Thành cũng giúp ích cho sự chứng ngộ. Tuy nhiên, Chân Tánh trong sự tận diệt của Niết Bàn thì giống Tạng giáo. Kết quả, quĩ phạm nầy không hoàn bị bậc thứ bảy và thứ tám trong mười vị của Thông giáo. Những thứ bậc chỉ cho diệt tận và Duyên giác, thì không thể nhìn như một thừa. Mặt khác, quĩ phạm nầy, về bậc thứ chín và thứ mười, đưa ra ý nghĩa của Dụng, nhưng không có người thực chứng hai vị nầy. Vì vậy, quĩ phạm nầy như một thừa thì không hoàn mãn, bởi vì Bồ tát với căn cơ khác nhau đã đi vào Biệt giáoViên giáo trên những thứ bậc khác nhau. Cũng vậy, Trí Khải thẩm định rằng ba quĩ phạm của Thông giáo không thể hội chung thành lập một đại thừa, vì là pháp thô.

(3) Ba quĩ phạm Biệt giáo, vô lượng pháp môn cứu giúp chúng sinh từ Tư Thành là nhân duyên giúp hành giả đạt đến trí tuệ thấy được giả tướng. Loại trí tuệ nầy, từ Quán Chiếu, giúp hành giả diệt vọng và vào được nguyên lý. Nguyên lý hành giả hội nhập là Trung Đạo, từ quĩ phạm Chân Tánh. Lý Trung Đạo nầy đưa ra sự xác định về những giả tướng trong thé giới hiện tượng. Dựa trên sự liễu đạt về giả tướng, khác với Thanh vănDuyên giác, Bồ tát Biệt giáo không thỏa mãn với tự giác, nhưng chủ trương vào thế tục để giúp chúng sinh hoán chuyểnmục tiêu sau cùng của Bồ tát. Vì lý do nầy, quĩ phạm Chân Tánh có thể được xem như một thừa, với nghĩa viên mãn. Tuy nhiên, Trí Khải vẫn nói rằng ba quĩ phạm của Biệt giáo là pháp thô, vì cái nầy tách rời cái kia, và cả ba không tương liên. Cùng chung, không thể hội vào một thừa, thì nói chi đến mỗi một cái có thể được nhìn riêng biệt là một thừa. 

(4) Với ba quĩ phạm Viên giáo, Trí Khải quán sát qua nhiều góc cạnh bất tư nghịvi tế không có bất cứ sự thô thiển nào. Ba quĩ phạm đã nói trên lần lượt từ thấp lên cao qua Tạng giáo, Thông giáoBiệt giáo. Quĩ phạm Tư Thành viên mãn trước hết đưa đến những giá trị hữu hiệu, Quán Chiếu viên mãn thứ hai để đạt đến chân lý, và Chân Tánh tiếp theo sau. Ngược lại, ba quĩ phạm Viên giáo từ trên đi xuống. Chân Tánh viên thành trước nhất, và hai quĩ phạm kia đồng thời bao gồm. Hai quĩ phạm nầy không phải là những thực thể riêng biệt với Chân Tánh, nhưng biểu thị sâu hơn về ý nghĩa phong phú hàm chứa trong Chân Tánh. Pháp tánh thường trụ từ Chân Tánh thì viên dungthâm nhập tất cả. Đặc tính nầy chỉ sự nhu nhuyễn và bất định của Pháp tánh : Pháp tánh có thể mang tướng, và vì vậy, không thể được hiểu qua tướng ; có thể được mô tả như hai đường tung và hoành. Vì vậy, ba quĩ phạm được Trí Khải nhìn như pháp bất tư nghị

Đặc tính của Pháp tánh, cái không thể được khái niệm hóa như tung và hoành phản ảnh như thế nào? Một đặc tính như vậy có thể được hiển lộ qua những danh tự đồng nghĩa với Pháp tánh như ‘Đệ Nhất Nghĩa Không’, và ‘Như Lai Tạng’. Trí Khải lập lại rằng Pháp tánh qua Viên giáo được xem như ‘Đệ Nhất Nghĩa Không’, là cái ‘thường tịch và chiếu’, từ quĩ phạm Quán Chiếu. ‘Thường tịch và chiếu’ được nói qua kinh Pháp Hoa như sau :

‘Trang nghiêm với thiền địnhtrí tuệ, Phật trụ ở Đại thừa, và giải thoát chúng sinh theo như Pháp mà Ngài đã chứng đắc.’ (476)

Đoạn kinh văn trên ám chỉ rằng từ sự chứng đắc Bồ đề, Phật thừa không ngừng viên mãn (chiếu soi) nhằm mục đích phổ độ chúng sinh, ngay trong tĩnh lặng. Thật sự, chư Phật tiếp tục đi trên con đường không có điểm tận cùng trong việc cứu độ chúng sinh, nhưng hành động của chư Phật là vô tác, đồng thờitự nhiên theo nhân duyên. Kết quả là, Phật thừa vẫn là hoạt dụng. Một trạng thái tĩnh lặng và chiếu soi như vậy chỉ cho chiều sâu viên mãn của Phật thừa không thể tính kể. Đồng thời, Pháp tánh cũng được nói rõ ràng qua Viên giáo như Như Lai Tạng, vô lượng hạnh và pháp môn từ quĩ phạm Tư Thành. Hẳn là sự sâu rộng của Như Lai Tạng cũng không thể đo lường. Nói về sự sâu rộng, Đệ Nhất Nghĩa KhôngNhư Lai Tạng có thể được diễn tảsâu rộng. Với Pháp Tánh, cả ba làm thành một cổ xe lớn. Pháp Tánh có thể được phát họa như một cổ xe trâu. Trong khi Như Lai Tạng dụ cho những trân bảo trang hoàng và người phục dịch, Đệ Nhất Nghĩa Không dụ cho kích thước và năng lực của cổ xe (477). Trí Khải thêm một lần nữa xác định rằng ba pháp bất tư nghị cùng chung làm thành một cổ xe lớn. Nói về Đệ Nhất Nghĩa KhôngNhư Lai Tạng không thể so lường, hai chữ sâu và rộng cũng không nói hết được chân tánh, vì một đại thừa như vậy không thể định nghĩa qua khái niệm cao, sâu, ngang, dọc. Với cái nhìn vô phân biệt thì chẳng cao cũng chẳng sâu, vậy mà, chuyển đạt được rõ ràng quả vị tối thượng Bồ đề và thể lớn rộng của hành trì. Tự tánh không ngang cũng chẳng dọc, vậy mà, tùy dụng thâm nhập dọc ngang mọi nơi không chướng ngại. (478)

III. Khai mở ba pháp thô và hiển lộ ba pháp vi tế

Một mặt, mục đích của Trí Khải khi thẩm định về sự thô tế của ba quĩ phạm qua Tứ giáo là để nhấn mạnh sự siêu việt của Viên giáo bằng cách xác định sự vi diệu của ba quĩ phạm thuộc Viên giáo, và mặt khác, báo trước lập luận ‘khai thô hiển tế’ (K’ai-ts’u Hsien-miao) của Đại Sư. Với cái nhìn của Trí Khải, phân biệt giáo pháp hoặc thô hoặc tế không phải là bản hoài của Thế Tôn. Vì tất cả thực tại của vũ trụ là sự phơi bày của chân tánh, nên được gọi là thô pháp (giáo pháp tương đối) thực sự ẩn tàng diệu pháp (giáo pháp tuyệt đối). Giáo pháp tuyệt đối phản ảnh bản hoài của Thế Tôn khi thuyết những pháp thô, tế khác nhau, với mục đích đưa chúng sinh về với một Nhất thừa Bồ đề. Vì vậy, trước khi hiển lộ ý định thật sự của Thế Tôn, ba giáo pháp Tạng giáo, Thông giáo, và Biệt giáo là pháp tương đối và thô. Chỉ khi pháp thô đã được diễn bày ẩn chứa pháp vi diệu của Phật, thì thô pháp trở thành diệu pháp, vì cũng có thể đưa chúng sinh đạt đến Bồ đề. Vì lý do nầy, Trí Khải lập luận rằng sự phân biệt giữa thô, và tế chỉ nằm trong cái thấy của chúng sinh là như vậy. Sự vi tế của ba quĩ phạm như Một Phật Thừa được nói đến trong tương quan với Phật tánh sẳn có nơi mỗi chúng sinh. Khi mỗi chúng sinh đều có Phật tánh, mỗi chúng sinh đều có khả năng lãnh hội ba quĩ phạm vi tế như Một Phật Thừa. Sở dĩ thừa của Viên giáo vi diệu là vì hành giả Viên giáo chứng ngộ rằng không có thừa nào khác để tìm cầu, ngoài Một Phật Thừa, là chỗ có thể hiển lộ Phật tánh.

Trước hết, quĩ phạm Chân Tánh vi tế cho thấy rằng mặc dù chúng sinh sẳn có gia tài Phật tánh, nhưng chúng sinh không nhận biết được trước khi Thế Tôn thuyết kinh Pháp Hoa. Như vậy, quĩ phạm Chân Tánh qua những giáo pháp khác nhau của Thế Tôn thuyết trước kinh Pháp Hoa là pháp thô. Với sự hiển lộ một Phật thừa qua kinh Pháp Hoa, hành giả của ba giáo pháp kia có thể nhìn thấy rằng Phật tánh như gia tài chứng đắc đã sẳn dành, vì pháp thô trong quá khứ đã trở nên pháp vi tế trong hiện tại. Thứ hai, quĩ phạm Quán Chiếu vi tế bởi vì nếu hành giả vượt bỏ được trói buộc của riêng mình để đạt đến trí tuệ và nắm được chân lý. Hành giả nên hiểu rằng trí tuệchân lý không thể tách rời, và điều sai lầmtìm kiếm bên ngoài thay vì bên trong tâm, thấy rằng tự tánh chúng sinh đã ẩn tàng trí tuệ. Bao lâu hành giả thấy được rằng chân lýtrí tuệ hợp nhất thành một thực tại, thì sự chứng ngộ nầy ám chỉ rằng quĩ phạm Quán Chiếu vi tế, biểu thị Một Đại Thừa chẳng dọc chẳng ngang. Thứ ba, quĩ phạm Tư Thành vi tế vẽ ra vô lượng hạnh nguyệnpháp môn, ẩn tàng trong Như Lai Tạng, tự tánh là sự hiển lộ như thị của Phật tánh. Hiểu được như vậy, tất cả các thừa đều trở nên vi diệu, và không còn tương đối mà chỉ có tuyệt đối. (479)

IV. Tam quĩ phạm hội nhập thủy và chung 

Qua phần khai thô hiển tế nói trên, Trí Khải giữ vững lập luận của Đại Sư về tánh của ba quĩ phạm là tuyệt đối vi tế không có chút thô thiển nào. Như chỉ một Phật thừa, ba quĩ phạm diễn đạt đệ nhất nghĩa đế. Lập luận của Trí Khải cho thấy rằng sự tuyệt đối của ba quĩ phạm chỉ cho sự viên mãn của Phật thừa, biểu thị tất cả pháp Phật, và hợp nhất từ thủy chí chung sự hành trì hướng về Phật giới của hành giả, gồm bản tánh sẳn có của chúng sinh như nhân chứng đắc Bồ đề, và sự chứng đắc là quả. Nói rõ thì đặc tính của ba quĩ phạm nầy liên quan đến sự hợp nhất sự hành trì từ thủy chí chung của hành giả có thể tỷ dụ như Phật thừa vào ra không chướng ngại trong khắp mười pháp giới (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, a tu la, trời, người, Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát, và Phật), và Trí Khải nhìn như ‘vào đường dọc không ngăn ngại’. Đặc tính của mỗi pháp giới trong mười pháp giới phản ảnh qua mười Như Thị (tướng, tánh, thể, lực, dụng, nhân, duyên, quả, báo, và bản mạc cứu cánh) (480). Theo giáo thuyết ‘Nhất Niệm Tam Thiên’ (I-nien San-ch’ien) (481) của Trí Khải, một niệm của chúng sinh chứa ba ngàn pháp giới. Tại sao? Mười pháp giới là sự hiển lộ của Chân Tánh (482) Thấy rằng chúng sinh tự bản lai sở hữu thực tánh nầy (tánh chân thực của thực tại), mười pháp giới hiển lộ thực tánh cũng như vậy, có mặt khắp nơi, và có trong tâm của chúng sinh (483). Một tà niệm thuộc cõi địa ngục, ngạ quỷ, và súc sanh ; một thiện niệm thuộc cõi trời, người ; một niệm từ bi thuộc cõi Bồ tát và Phật. Hiển nhiên là những pháp giới khác nhau không thể hiển lộ nếu tâm chúng sinh không chứa đựng tất cả mười pháp giới. Nói cách khác, một niệm phát sinh gồm thu toàn thể vũ trụ, và một pháp đồng như vạn pháp. Mặt khác, toàn thể vũ trụ chỉ hiện hữu trong từng niệm, bởi vì vạn pháp đồng như một pháp. Thuyết của Trí Khải nói rằng lý do tư tưởng của hành giả tương hợp với một cảnh giới nào đó vào một thời khắc nào đó có nghĩa rằng một thiện niệm phát sinh mở bày đức hạnh và che mờ xấu ác, một tà niệm phát sinh mở bày xấu ác và che mờ đức hạnh. Thiện và ác là một thực tại, và sự khác biệt nằm ở giữa hiển lộ và che phủ. Thiện và ác hoán đổi theo duyên, giống như băng và nước. Chỗ nầy cho thấy rằng cả hai mặt hiện hữu như một thực tại của Chân Tánh, hoán chuyển theo nhân duyên. Trí Khải nhìn Thập Như Thị như diễn bày đặc tính của mười pháp giới như điểm khởi đầu của ba quĩ phạm, bởi vì mười Như Thị trong mỗi cảnh giới có thể được định nghĩa qua ba quĩ phạm. 

(i) ‘Như Thị Tướng’ là dáng vẻ bên ngoài của chúng sinh, chỉ cho những hạt giống lành của chúng sinh từ quĩ phạm Tư Thành.

(ii) ‘Như Thị Tánh’ là thể tánh bất biến bên trong của chúng sinh, thuộc quĩ phạm Quán Chiếu.

(iii) ‘Như Thị Thể’ là phẩm hạnh chính, bao gồm cả hai mặt trong, ngoài thuộc quĩ phạm Chân Tánh.

(iv) ‘Như Thị Lực’ chỉ cho tiềm lực thể tương ưng, là liễu nhân Phật giới, thuộc về quĩ phạm Quán Chiếu.

(v) ‘Như Thị Dụng’ chỉ cho hoạt dụng, thuộc quĩ phạm Tư Thành.

(vi) ‘Như Thị Nhân’ là nhân mang đến quả như nó là (vipakahetu), thuộc về quĩ phạm Quán Chiếu.

(vii) ‘Như Thị Duyên’ là nhân gián tiếp và tùy điều kiện thuộc về quĩ phạm Tư Thành.

(viii) ‘Như Thị Quả’ chỉ cho quả cùng như nhân (nisyandaphala) kết quả từ sự hội tụ của nhân duyên, thuộc quĩ phạm Quán Chiếu.

(ix) ‘Như Thị Báo’ chỉ cho quả đến từ hạt giống chúng sinh đã gieo trồng trong kiếp đã qua, thuộc quĩ phạm Tư Thành.

(x) ‘Như Thị Bản Mạc Cứu Cánh Đẳng’ có nghĩa rằng ‘tướng’ tại điểm khởi đầu, và ‘báo’ tại điểm cuối cùng tuyệt đối giống nhau, chuyển đổi vào cùng một Chân Tánh.

Đề mục Như Thị thứ mười như một kết luận gồm thu vạn pháp. Thêm vào đó, theo Trí Khải, chỉ khi nào hành giả hiểu được rằng vạn pháp chứa đựng tam đế Không, Giả, và Trung Đạo, thì mới có thể hội nhập Chân Tánh. Không Đế chỉ trí tuệ liễu đạt tánh Không trong tất cả các pháp, thuộc Quán Chiếu. Giả đế như hoạt dụng, Bồ tát vào thế tục cứu giúp chúng sinh, thuộc Tư Thành. Trung Đạo đế liên quan đến nguyên lý vạn pháp, gồm thu cả Không và Giả, thuộc Chân Tánh.(484).

Suy ra từ mười pháp giới là sự hiển lộ của Chân Tánh, và mỗi một pháp giới ẩn tàng chín pháp giới, có thể nói được rằng Chân Tánh bao gồm cả thiện và ác. Mặt xấu ác của Chân Tánh, theo lối nhìn của Trí Khải, có thể xếp vào tam vô minh, chỉ tánh và tướng phiền não, ác nghiệp, và đau khổ. Bởi vì thiện và ác đồng thời hiện hữu tạo nên Chân Tánh, ba quĩ phạm có thể được xem là biểu thị cho mặt thiện. Bởi vì ác và thiện là cùng chung thực tại, tam vô minhtam quĩ phạm là hai mặt của cùng một thực tại. Nếu sự mờ nhạt của xấu ác hiển lộ sự thiện lành, thì sự hoán chuyển của ba loại tánh tướng xấu ác chỉ cho sự phơi bày của ba loại tánh tướng thiện lành.
lý do nầy, Trí Khải lập luận rằng : 

(i) Tánh tướng phiền não đồng như tánh tướng của quĩ phạm Quán Chiếu. Nhân vô minh nằm ở chỗ thiếu trí tuệ. Biết được rằng vô minh là nhân của khổ đau thì sẽ phát sinh trí tuệ. Rõ ràng, trí tuệ có từ vô minh, nếu khôngvô minh, không có gì để gọi là trí tuệ. Như Trí Khải nói : ‘Trí tuệ không phải là một thực tại riêng biệt với vô minh, mà chỉ như băng và nước hòa lẩn trong nhau.’(485)

(ii) Tánh và tướng của ác nghiệp đồng như tánh và tướng của quĩ phạm Tư Thành. Sức hành trì tích tụ giá trị đức hạnh (giúp ích con đường đạt đạo) hiển nhiên là đức, và nghiệp chướng (luân hồi) được xem là xấu ác. Lý do tánh và tướng của ác nghiệp đồng như tánh và tướng của thiện nghiệp là vì thiện ác có trong nhau. Nguyên lý thiết yếu của sự đồng nhất nầy là ‘chuyển tà’. Tà được chinh phục bởi hành động hoán chuyển, không phải từ hành động tiêu diệt. Sự lật ngược nầy liên quan đến sự chứng ngộ rằng xấu ác không đối nghịch với thanh tịnh, mà hơn như thế, là khích động chúng sinh tu tập, hành trì. Trong khi xấu ác được nhìn như động cơ tu trì, thì đã trở thành yếu tố khả quan hơn là bi quan. Điều nầy có nghĩa rằng xấu ác không hẳn là một nhân tố bị phủ định, nhưng là một nhân tố khả dĩ được xác định (với ý nghĩa giúp ích cho sự chứng ngộ thanh tịnh). Không có tà, không thể có chánh. Sự đồng nhất giữa tà và chánh không chỉ đơn giản phơi bày trong mối tương quan trong nhau, nhưng còn hiển lộ một cái nhìn luận lý trong pháp hành trì, như là, trong khi xác định mặt lạc quan của yếu tố phủ định, hành giả thực sự chuyển đổi mặt lạc quan nầy qua tu tập. Sự có mặt của tà mở đường cho chánh. Trí Khải so sánh quĩ phạm Tư Thành như mầm lửa trong cây. Nếu nhân duyên hội đủ, tiềm lực như lửa tựu thành, có thể đốt cháy vật, như lửa đốt cháy cây. Điều nầy cho thấy rằng thiện có trong ác, và khi thiện thành tựu, sẽ phá vỡ ác. (486).

(iii) Tánh và tướng của khổ đồng nhất với tánh và tướng Pháp Thân qua Chân Tánh. Trí Khải giải thích, nếu hành giả không nhận ra được rằng khổ không gì khác hơn là sự phơi bày của Pháp Thân, thì Pháp Thân đã bị nhìn lầm là khổ não. Tuy nhiên, nếu hành giả hiểu được rằng Pháp Thânkhổ không phải là hai thực thể biệt lập, thì cái sau đồng như cái trước. Trí Khải giải thích tính đồng nhất của cả hai khi nói rằng : ‘Nói Pháp Thân tách rời khổ não cũng giống như lầm tưởng phương Nam là phương Bắc, nhưng thật ra không có một phương Nam nào khác.’(487) 
Ở đây, Trí Khải đưa ra ba loại đồng nhất giữa thiện và ác :

(1) Loại thứ nhất thấy qua mối tương nhập giữa hai khía cạnh. Hiểu rằng vô minhnhân sinh ra khổ, đó là trí tuệ. Trí tuệ, là cái phát sinh từ vô minh, giống như băng có từ nước.

(2) Loại thứ hai thấy được qua thực tại hiển lộ hoặc che phủ. Thành thiện ám chỉ hoại ác, giống như lửa cháy rụi cây.

(3) Loại thứ ba được xác định qua sự hội tụ của thế giới hiện tượng như một toàn thể, vượt lên trên lối nhìn nhị nguyên. Mặt khác, không hề có sự khác biệt giữa khổ nãoPháp Thân như Chân Tánh (vượt trên ngôn từ, gồm thu vạn pháp). Danh từ ‘Khổ’ và ‘Pháp Thân’ là một khái niệm đối nghịch có từ chúng sinh về Chân Tánh. Vì Chân Tánh là Thể của mọi hiện tượng, khổ chính là Pháp Thân, và ngược lại. Nói cách khác, vì tâm chúng sinh nên khổ và Pháp Thân phân cách. Nếu tâm chúng sinh sai lạc, chúng sinh sẽ khổ ; nếu tâm chúng sinh tỉnh thức, không có sự phân biệt giữa hai điều trên, vì Khổ đồng nhất với Pháp Thân. Sự đồng nhất giữa Khổ và Pháp Thân khiến ba quĩ phạm mang ý nghĩa biểu tượng cho nhân và quả Bồ đề.

Căn cứ vào tính đồng nhất giữa mười pháp giới và ba quĩ phạm, Trí Khải đi sâu hơn vào mười Như Thị với ba quĩ phạm bằng cách giải thích sự thành tựu của mười Như Thị trong tương quan với ba quĩ phạm. Lý do là vì mỗi pháp gìới trong mười pháp giới tương ưng với mười Như Thị, và nếu ba quĩ phạm đồng nhất với mười pháp giới thì cũng đồng nhất với mười Như Thị. Xác định ba quĩ phạm với mười pháp giới, phần nầy trở nên phong phú với nội dung đặc biệt của phần kia. Như kết quả, ba quĩ phạm không chỉ làm biểu tượng cho nhân quả Bồ đề mà còn làm biểu tượng cho Chân Tánh, bởi vì mười Như Thị hiển lộ đặc tính của Chân Tánh.

Cấu kết của Như Thị Lực và Như Thị Dụng liên hệ đến câu trả lời đầu tiên của hành giả về chứng đắc giải thoát và đưa đến kết quả phát triển quĩ phạm Chân Tánh. Như Thị Nhân đưa đến kết quả phát triển quĩ phạm Quán Chiếu. Như Thị Duyên đưa đến kết quả phát triển quĩ phạm Tư Thành. Như Thị Quả đưa đến kết quả phát triển quĩ phạm Quán Chiếu. Những kết quả như vậy là tập nhân, ảnh hưởng đến trí tuệ bát nhã viên mãn là tập quả. Sự vẹn toàn của trí tuệgiải thoát ám chỉ sự chứng đắc tối hậu, tức viên mãn Pháp Thân. Tam Đức Bồ Đề nầy, biểu thị sự viên mãn rốt ráo, được gọi là ‘Như Lai Tạng’. 

Với thủy-và-chung-như-nhất, đặc tính của Thủy là nhân Bồ đề, qua ba quĩ phạm như tánh đức trong chỗ ẩn tàng. Mặc dù ẩn mật, vẫn mang đặc tính của Chân Tánh: Không, Giả, và Trung Đạo. Điều nầy có thể được nhìn hoặc tung hoặc hoành. Đặc tính của Chung là quả Bồ đề, qua ba quĩ phạm như tu đức, là sự hiển lộ của Chân Tánh. Hoặc phơi bày hoặc dấu kín, Chân Tánh là nhân khởi đầu và là quả kết thúc bình đẳng không sai khác, thấy rằng cả hai thu gồm Tam Đế : Không, Giả, và Trung Đạo. Không Đế tương liên với thủy và chung khiến như thị bình đẳng (Ju-teng), có nghĩa rằng Quán Chiếu như Đệ Nhất Nghĩa Không. Giả Đế chỉ cho số lượng bình đẳng (Shu-teng) có nghĩa rằng Tư Thành là Như Lai Tạng. Trung Đạo chỉ diệu bình đẳng (Miao-teng) có nghĩa Chân Tánh thường trụcăn bản Bồ đề. (488)

V. Tam Quĩ Phạm theo đường hoành hội nhập mười loại Tam Pháp

Phần trên chuyển đạt học thuyết của Trí Khải rằng Pháp biểu thị Chân Tánh, ba quĩ phạm hội nhập theo đường dọc không chướng ngại từ nhân đến quả. Tuy nhiên, Trí Khải bước một bước xa hơn để nói rằng Chân Tánh hội nhập khắp nơi ngang dọc trong thể tánh tự tâmviên dung. Nói cách khác, vào đường dọc chỉ vẽ ra sự vi diệu của ba quĩ phạm về chiều cao. Chỉ khi ba quĩ phạm được luận qua chiều rộng, chỉ sự thâm nhập theo đường ngang không chướng ngại, thì có thể thấy được sự tuyệt đối vi tế. Vì vậy, Trí Khải, nói xa hơn đến ba quĩ phạm vào vạn pháp theo đường ngang với sự hổ tương giữa ba quĩ phạm và mười loại Tam Pháp. Mười loại Tam Pháp nầy là dàn bài của Trí Khải về vô lượng Phật pháp, cũng như cái nhìn toàn khắp sự tu tập của mỗi một chúng sinh khởi sự từ một chúng sinh vô minh và sau cùng là bậc giác ngộ. Trí Khải diễn tả con đường tiệm tiến của hành giả như sau :

‘Ba cõi luân hồi’(489) là pháp căn bản của sinh tử. Chỗ nầy tại sao là điểm khởi đầu. Nếu (chúng sinh) mong cầu thoát sinh tử, thì phải hiểu tam Thức (San-shih / Trivijnana), biết tam Phật tánh (San Fo-hsing), đạt tam trí tuệ (San Chih-hui), đến với tam Bồ đề tâm (San P’u-t’i-hsin), tu tập tam Đại thừa (San Ta-sheng), chứng được tam Thân (San Shen), vào Tam Niết Bàn (San Nieh-p’an). Những tam bảo như vậy lợi ích cùng khắp chúng sinh. Hoán chuyển được phiền não, hành giả vào được Tam Đức (San-te), và trú trong Như Lai Tạng’ (490).

Đoạn văn trên cho thấy rằng tất cả chúng sinh bắt đầu từ vô minh. Vô minh có thể đưa vào tam vô minh (phiền não, ác nghiệp, và khổ). Bị vây hãm trong ba chướng nầy, chúng sinh chìm đắm vô tận trong vòng luân hồi. Cũng vậy, đề mục thứ nhất Trí Khải đưa ra là tam vô minh. Mõi mệt vì nỗi khổ khôn cùng tận, chúng sinh hướng về quyền lực tự do. Với Trí Khải, động tác tìm cầu giải thoát trước nhất phản ảnh cái hiểu về tam thức. Vì vậy, đề mục thứ hai là tam thức. Cái hiểu của chúng sinh về thức thứ chín khiến nhận ra rằng tất cả chúng sinh đều tương ứng với tam Phật tánh (Chánh nhân, Liễu nhân, và Duyên nhân). Thuyết tam Phật tánh làm rõ ràng sự bình đẳng chứng đắc Bồ đề của chúng sinh. Như vậy, tam Phật tánhđề mục thứ ba. Sự chứng ngộ của chúng sinh về Phật tánh đưa đường sự chúng ngộ về tam trí tuệ Bát Nhã (Thực tướng, Quán chiếu, và Văn tự). Vì vậy, Tam Bát Nhãđề mục thứ tư. Sự phát khởi của Tam Bát Nhã đưa về Tam Bồ Đề Tâm (Thực tướng, Trí tuệ, và Phương tiện) đạt đến chứng đắc. Vì lý do nầy, Tam Bồ Đề tâm là đề mục thứ năm. Với Bồ Đề Tâm, chúng sinh bắt đầu tu tập tự giácgiác tha, và chỗ nầy đưa qua Tam Đại Thừa (Nguyên lý, Tùy thuận, Công đức). Vì vậy, Tam Đại Thừađề mục thứ sáu. Vì tu tập Tam Đại Thừa, hành giả có thể chứng được Tam Bồ Đề Thân (Pháp thân, Báo thân, và ¬ng thân). Vì vậy, Tam Thânđề mục thứ bảy. Chứng được Tam Thânbiểu tượng thành tựu Tam Niết Bàn (Tánh tịnh, Viên tịnh, Phương tiện tịnh). Như vậy, Tam Niết Bànđề mục thứ tám. Vì Phật giáo Đại thừa không chỉ nói về tự giác mà còn nói đến giác tha với mục đích phổ độ nên có sự tu tập tự giácgiác tha. Điều nầy được thấy qua Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng). Vì vậy, Tam Bảođề mục thứ chín. Sau cùng, sự viên thành quả vị Bồ đề đưa về Tam Đức (Pháp thân, Bát nhã, Giải thoát), thường trụ tại Như Lai Tạng tịch chiếu. Vì vậy, Tam Đức là kết quả rốt ráo của đạo hạnh, tức đề mục thứ mười. Mười đề mục của Tam pháp, qua cái nhìn của Trí Khải nằm trong ba quĩ phạm (thấy rằng cả hai gồm thu sự tu tập của hành giả từ thủy chí chung), vì ba quĩ phạm có thể dẩn chứng phù hợp với từng đề mục nói trên.

Mười đề mục của Tam pháp có thể được nhìn như sự biểu thị rộng hơn của ba quĩ phạm, và ba quĩ phạm như Chân Tánh đánh dấu mười đề mục của Tam pháp. Sau đây là lập luận của Trí Khải về sự tương quan của hai phần trên.

 Trước hết, ba quĩ phạm thuận theo ba vô minh. Chân Tánh đồng nhất với Khổ, Quán Chiếu đồng nhất với phiền não, và Tư Thành đồng nhất với ác nghiệp

(i) Chân Tánh đồng nhất với Khổ như thế nào? Theo cách nhìn của Trí Khải, dòng biến dịch của sinh tử trong cõi luân hồi làm biểu tượng cho Pháp Thân thường trụ. Vô thường và thường không phân cách, hoặc nói rõ hơn, thường phản ảnh vô thường, và ngược lại. Sự trôi chảy liên tục của sinh và tử chính nó bắt nguồn từ thực tánh của Pháp thân thường trụ. Cái nầy không thể nhìn riêng biệt, tách rời ra khỏi cái kia .

(ii) Quán Chiếu đồng nhất với phiền não như thế nào? Trí Khải nói rằng cái cảnh mà trí tuệ chiếu soi là sự ô nhiễm của phiền não. Không có khái niệm về chiếu soi nếu không có sự có mặt của ô nhiễm. Bởi vì cả hai tùy thuộc trong nhau, cả hai là một thực tại của cùng chân lý (mặc dù xuất hiện như là hai trong mắt kẻ vô minh). Trí Khải nói : ‘Đi ngược chiều, hành giả thấy và hiểu được đường Phật đi’.(491) Xấu ác nẩy mầm thanh tịnh. Không có cái trước, hành giả không có động cơ tu tập để gieo trồng cái sau.

(iii) Tư Thành đồng nhất với ác nghiệp như thế nào? Với Trí Khải, không có cái gì thuần thiện có mặt mà không có cái xấu ác đi kèm. Xấu ác giúp hành giả vun tưới những hạt giống lành và tích lũy phước báu. Chỗ nầy lấy tỷ dụ qua kinh Pháp Hoa. Một thí dụ được thấy trong một kiếp của Thế Tôn, khi Ngài thọ thân là Bồ tát Thường Bất Khinh (492). Vị Bồ tát nầy lễ bái mọi người, nói rằng một ngày kia các người ấy sẽ thành Phật. Việc làm nầy của Bồ tát khiến một số người nổi sân si, họ mắng nhiếc đánh đập Bồ tát. Kết quả, những kẻ nầy phải trả nghiệp nơi địa ngục. Tuy vậy, khi đã trả xong nghiệp cũ, nhân duyên xưa kia đã được gặp Bồ tát chín mùi, họ lại được gặp Bồ tát trong hiện đời. Khi nghe Bồ tát thuyết Pháp Hoa, họ được quả vị bất thối chuyển. Chỗ nầy cho thấy rằng ác nghiệp quá khứ đưa đến cơ hội được nghe Bồ tát giáo hóa trong hiện tại. Lợi ích nầy đến từ ác nghiệp đã gieo trong quá khứ. Trí Khải nhìn sự kiện nầy như ‘xấu ác đưa đến thiện lành’. Một thí dụ khác nói về lợi ích đến từ ác nghiệp của kẻ khác. Đây là việc Đề Bà Đạt Đa, người em họ của Thế Tôn, một người được xem là xấu ác vì muốn giết một vị Phật và hại tăng chúng. Tuy vậy, Thế Tôn lại nói rằng Đề Bà Đạt Đa là một thiện tri thức (493). Trí Khải dùng thí dụ nầy để lập luận : ‘Cái xấu của kẻ khác có thể giúp ích cho hành giả.’

Ở đây, Trí Khải đưa ra nột thuyết quan trọng về thiện và ác, dựa trên nguyên lý về Chân Tánh rằng pháp giới thì vô phân biệt, và thiện ác cùng một thực tại, với nghĩa, thiện ẩn tàng ác, và ác chứa đựng thiện. Trong thế giới hiện tượng, cái có hình tướng thiện có thể là ác khi đưa đến kết quả ác ; và cái có hình tướng xấu ác có thể đưa đến kết quả thiện. Thiện và ác chỉ có nghĩa tương đối, và bao lâu còn có sự phân biệt giữa thiện và ác thì không có sự tuyệt đối. Chỉ khi nào cái chúng sinh gọi là thiện hoặc là ác được nhìn như một thực thể, thì chúng sinh có thể đến được Chân Tánh. Điều nầy luôn đúng, bất kể thời giankhông gian, khi có sự xuất hiện của hai tướng thiện và ác trong cặp mắt kẻ vô minh. Khi đồng nhất tam quĩ phạm với tam vô minh, Trí Khải muốn nói rằng Chân Tánh thì viên dung, điển hình trong sự đồng nhất các thành phần đối nghịch. Vì vậy, Tri Khải đi đến kết luận : ‘Bước đi trên con đường ngược, hành giả đến được đường Phật.’(494) Sau đây là lập luận trực chỉ của Trí Khải về sự đồng nhất giữa tam vô minhtam tánh đức Bồ đề :

‘Cái gọi là Khổ chỉ cho thức, danh và sắc, xúc, và thọ. Gọi khổ là Phật tánh để nói rằng sinh tửPháp thân, là cái giống như băng đối với nước. Cái gọi là phiền não chỉ cho vô minh, vọng dục, và trói buộc. Gọi phiền nãobát nhã giống như nói củi đối với lửa. Cái gọi là nghiệp ám chỉ rằng tác ý, hữu, và ngay cả năm loại tội đọa địa ngục vô gián (495) thì không gì khác hơn là chỉ cho giải thoát. Điều nầy là để nhìn trói và mở.’ (496)

 Thứ hai, tam quĩ phạm phù hợp với Tam Thức. Nếu sự đồng nhất giữa tam quĩ phạm với tam vô minh thuộc khái niệm qua Chân Tánh, thì thuyết về Thức chỉ có thể làm sáng tỏ thêm sự đồng nhất nầy. Thức Amala là thức thứ chín và là thức vô nhiễm, đồng với quĩ phạm Chân Tánh, thức Alaya là tàng thức thứ tám, đồng với quĩ phạm Quán Chiếu, và thức Adana là thức ô nhiễm thứ bảy đồng với quĩ phạm Tư Thành.(497) Trí Khải lập lại rằng thức Alaya thứ tám chứa cả hai hạt giống sinh tửtrí tuệ. Nếu hạt giống sinh tử lớn mạnh, thức nầy lại trở thành một loại thức giống như thức Adana, là nhân luân hồi. Nếu hạt giống trí tuệ lớn mạnh, thức nầy trở thành một loại thức như thức Amala vô nhiễm, là nhân Bồ đề. Mặc dù thức Adana là nhân luân hồi, nó cũng chính là động lực khuyến khích chúng sinh gieo trồng những chủng tử quý báu để thoát ra khỏi vòng luân hồi. Chỗ nầy có nghĩa rằng cái khổ trong luân hồi trở nên cần thiết để tu tập giải thoát, từ đó thức Adana đồng với quĩ phạm Tư Thành. Nhìn về thức Alaya, thấy rằng thức nầy ảnh hưởng và giúp những hạt giống sinh tử hoặc trí tuệ tăng trường, và cả hai loại chủng tử nầy có thể khiến chúng sinh đạt giải thoát, thức Alaya đồng với quĩ phạm Quán Chiếu. Trí Khải nhấn mạnh rằng thức nầy được nói đến qua ba loại thức, bởi vì thức Alaya có ba loại làm thành ; và ba loại thức được nhìn như một thực thể vì kết vào thức Alaya. Thuyết rộng về tam thức, hiển nhiên rằng được xây dựng trên tam Phật tánh. Tam thức chỉ có thể đứng vững trên nền tảng tam Phật tánh, cho thấy rằng hoạt dụng của cái trước dựa vào nhân của cái sau. Với Trí Khải, điều quan trọng là phải nhận ra cái Phật tánh là (như nhân Bồ đề) để phát sinh trí tuệ.

Thứ ba, tam quĩ phạm phù hợp với tam Phật tánh. Quĩ phạm Chân Tánh đồng nhất với Phật tánh như chánh nhân Bồ đề, nói lên sự kiện rằng tất cả chúng sinh tương ứng với Chân Tánh, vì là tính sẳn có xác định khả năng chứng đắc Bồ đề. Quĩ phạm Quán Chiếu đồng với Phật tánh như liễu nhân Bồ đề, chỉ năng lực trí tuệ sẳn có trong mỗi chúng sinh, vì là trí tuệ chiếu soi bản tính sẳn có. Quĩ phạm Tư Thành đồng với Phật tánh như duyên nhân Bồ đề chỉ khả năng sẳn có và khuynh hướng tự nhiên của chúng sinh hướng về Bồ đề là cái khiến chúng sinh tu trì để tăng trưởng tánh đức, và những tánh đức nầy là duyên quy về Phật tánh như chánh nhân Bồ đề, vì là năng lực giúp chúng sinh làm điều thiện và phát huy trí tuệ. Trí Khải nói rằng sự đồng nhất giữa tam quĩ phạm và tam Phật tánh căn cứ vào bản tánh của chúng sinh, bởi vì chúng sinh sở hữu một bản tánh như vậy. Tuy nhiên, bản tánh nầy không hiển lộ trước khi tu tập, và hành giả phải tu tập để làm hiển lộ bản tánh Bồ đề nầy. Biết được rằng mỗi chúng sinh đều có tam Phật tánh bảo trì mục tiêu thành Phật.

Thứ tư, tam quĩ phạm phù hợp với Bát Nhã. Sự nhận biết tam nhân Bồ đề như bản tánh của chúng sinh phát sinh trí tuệ Bát Nhã. quĩ phạm Chân tánh đồng nhất với thực tánh bát nhã (Shih-hsiang P’o jo), là trí tuệ giúp chúng sinh tiếp nhận được sự sâu rộng của Chân Tánh. Quĩ phạm Quán Chiếu đồng với quán chiếu bát nhã ( Kuan chao P’o jo) là trí tuệ thuộc về tri kiến Như Lai hội nhập Chân Tánh. quĩ phạm Tư Thành phù hợp với văn tự bát nhã (Wen-tzu P’o jo) chỉ việc Như Lai sử dụng ngôn từ như phương tiện giáo hóa thích hợp để hoán chuyển chúng sinh. Trí Khải nói thêm rằng ba loại trí tuệ Bát Bhã là sự hiển lộ của ba cái vi diệu (Cảnh Diệu, Trí Diệu, và Hành Diệu).

Thứ năm, tam quĩ phạm phù hợp với tam Bồ Đề. Tam Bát Nhã thành lập nền tảng phát sinh tam Bồ đề tâm của chúng sinh hướng về chứng ngộ. Quĩ phạm Chân Tánh đồng với Thực tánh Bồ Đề chỉ lý tánh nhấn mạnh đường giải thoát. Nguyên lý nầy bao gồm tất cả, không phân biệt những đối nghịch như giải thoátluân hồi. Quĩ phạm Quán Chiếu đồng với Thực trí Bồ đề chỉ cho trí tuệ rốt ráo hội nhập vào Chân Tánh. Quĩ phạm Tư Thành đồng với Phương tiện Bồ đề chỉ những phương tiện khế hợp dùng để hoán chuyển chúng sinh.

Thứ sáu, tam quĩ phạm phù hợp với tam Đại thừa. Tam Bồ đề có thể khiến chúng sinh nhấn mạnh vào tam thừa tự giácgiác tha. Quĩ phạm Chân Tánh đồng với Lý thừa (Li sh’eng) vì bản tánh của Chân Tánh chỉ hiện hữu trong tâm, và có thể phơi bày chân lý một cách vô ngại. Quĩ phạm Quán Chiếu đồng với Tùy thừa (Sui sh’eng) chỉ cho sự tùy thuận với đối tượng của Chân Tánh kết quả trong sự chứng đắc trí tuệ Phật. Quĩ phạm Tư Thành đồng với Đức thừa (Te Sh’eng) chỉ sự chứng đắc Bồ đề với Phật trí đưa đến kết quả tự giác cũng như giác tha qua phương tiện thuyết pháp.

Thứ bảy, tam quĩ phạm đồng với tam thân (San-shen). Tu tập tam thừa đưa đến kết quả chứng ngộ tam thân Phật. (Trikaya) (498) Quĩ phạm Chân tánh đồng với Pháp Thân chỉ chân thân của Phật. Thân nầy tại Chân Tánh của tất cả các pháp (thường trụ) là kết quả của sự tích tập nguyên lý. Quĩ phạm Quán Chiếu đồng với Báo Thân đến từ sự tu tập không gián đoạn của Phật trong các kiếp. Thân nầy được trang nghiêm với thân tướng tuyệt hảotrí tuệ vi diệu, là kết quả của trí tuệ. Quĩ phạm Tư Thành đồng với ¬ng thân hoặc Hóa Thân, là thân hiện hữu vì nhu cầu của chúng sinh với ba mươi hai tướng tốt đẹp (499) có từ kết quả tích tụ giá trị đức hạnh.

Thứ tám, tam quĩ phạm đồng với tam Niết Bàn. Sự chứng đắc ba thân Phật đưa đường vào tam Niết Bàn. quĩ phạm Chân Tánh đồng với Tánh Tịnh Niết Bàn (Hsing-ching Nieh-p’an) có đặc tính thường tịch. Quĩ phạm Quán Chiếu đồng với Viên Tịnh Niết Bàn (Yuan-ching Nieh-p’an) kết quả từ sự hành trì hội nhập chân lý, có đặc tính thường tịch chiếu. Quĩ phạm Tư Thành đồng với Phương Tiện Tịnh Niết Bàn ( Fang-pien-ching Nieh-p’an) chỉ cho sự thị hiện của Phật trong thế tục khi ứng thân chấm dứt. Mặc dù chư Phật trú ở chỗ bất sinh diệt, Phật thị hiện vào ra sinh diệt như phương tiện khéo léo để giáo hóahoán chuyển chúng sinh.

Thứ chín, tam quĩ phạm phù hợp với Tam Bảo. Phật giáo như một tiến trình tự giácgiác tha thành tựu tam Niết Bàn, là cái được phát họa ra từ Tam Bảo. Quĩ phạm Chân Tánh đồng với Pháp Bảo, chỉ sự hài hòa của giáo lý, và pháp tánh như nguyên lý tối thượng. Quĩ phạm Quán Chiếu đồng với Phật Bảo chỉ sự hài hòa về sự kiện tri kiến Phật hội nhập vào giáo lý. Quĩ phạm Tư Thành đồng với Tăng Bảo chỉ sự hài hòa về cả hai mặt Lý và Sự, được thấy qua trật tự tăng đoàn trong việc thuyết giảngtu tập pháp Phật.

Thứ mười, tam quĩ phạm phù hợp với Tam Đức (San-te). Viên mãn Bồ đềmục tiêu rốt ráo của Phật pháp. Theo sự giải thích của Trí Khải, cái Đại Niết Bàn (trang nghiêm với ba tánh đức) biểu thịpháp tánh chiếu soi thường trụđặc tính thường, lạc, ngã, và tịnh. Quĩ phạm Chân Tánh đồng với Pháp Thân Đức (Fa-shen-te), làm biểu tượng của chân thân Phật, tương ứng trọn vẹn với lý tánh của Chân Tánh. Quĩ phạm Quán Chiếu phù hợp với Bát Nhã Đức (Po-jo-te) đến từ trí tuệ viên mãn của Phật. Quĩ phạm Tư Thành phù hợp với Giải Thoát Đức (Ch’ieh-t’uo-te) đến từ sự chứng đắc của Phật, có ý nghĩa chẳng ô nhiễm, chẳng trói buộc của vạn pháp. (500)

Phần trên phân tích về tam quĩ phạm hội nhập theo chiều dọc trong mười Pháp Giới và mười Như Thị, và hội nhập theo chiều ngang qua mười loại Tam Pháp. Sự hội nhập theo chiều dọc chuyển đạt vị thế siêu việt của tam quĩ phạm , và sự hội nhập theo chiều ngang chuyển đạt thể tánh sâu rộng của tam quĩ phạm. Với một chuyển đạt như vậy, tam quĩ phạm như một đại thừa được hợp hóa, vì vị trí siêu việt chứng đắc Bồ đề, và thể tánh sâu rộng viên dung vạn pháp trong mười pháp giới. Thập Như Thịđặc tính của tất cả các pháp biểu thị Phật giới siêu việt, và mười loại Tam Pháp chứa đựng nhân quả Bồ đề biểu thị thể tánh sâu rộng của Phật giới.

Sự phân tích của Trí Khải về ba quĩ phạm chuyển đạt cốt lõi của sự chứng ngộ. Như Một Phật Thừa, ba quĩ phạm diễn đạt giáo lý thiết yếu : nhân Bồ đề và quả Bồ đề. Đồng hóa với Diệu Cảnh, Diệu Trí, và Diệu Hành, Trí Khải nói rằng ba quĩ phạm biểu thị nhân Bồ đề, vì ba cái diệu nầy là ba yếu tố chính thành tựu Bồ đề hạnh. Sâu xa hơn, Trí Khải trình bày cho chúng ta thấy, như quả Bồ đề, ba quĩ phạm thâm nhập tất cả pháp Phật không ngăn ngại, bởi vì Một Phật ThừaTam Quĩ Phạm hiển thịChân Như. Vì Chân Như ở trong vạn pháp, đồng thời gồm thu đặc tính của vạn pháp, và đồng nhất với vạn pháp. Nhìn về đặc tính của Chân Như, tam quĩ phạm đồng nhất với các pháp. Với nghĩa đồng nhất như vậy, tam quĩ phạm được định nghĩa trong nội dung phổ quát của toàn thể pháp giới, và qua tiến trình hướng về Bồ đề, từ đó phương phápý nghĩa chứng đắc Phật địa được phơi bày. Như Một Phật Thừa gồm thu nhân và quả Bồ đề, tam quĩ phạm mang ý nghĩa viên mãn từ thủy chí chung, và trở nên một cái nhìn từ gần đến xa toàn thể quá trình đạt đạo. 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 169)
Evaṃ me sutaṃ, “như vầy tôi nghe”, là lời Ngài Ananda bắt đầu mỗi bài kinh mà có lẽ không Phật tử nào là không biết.
(Xem: 8631)
Nếu tính từ thời điểm vua Lương Vũ Đế tổ chức trai hội Vu lan ở chùa Đồng Thái vào năm Đại Đồng thứ tư (538), thì lễ hội Vu lan của Phật giáo Bắc truyền đã có lịch sử hình thành gần 1.500 năm.
(Xem: 412)
Phật dạy giới này áp dụng chung cho tất cả các Phật tử tại gia, không phân biệt Phật tử này thuộc thành phần hay đẳng cấp xã hội nào.
(Xem: 374)
Sa-môn Thích Đàm Cảnh dịch từ Phạn văn ra Hán văn, tại Trung-quốc, vào thời Tiêu-Tề (479-502). Cư sĩ Hạnh Cơ dịch từ Hán văn ra Việt văn, tại Canada, năm 2018.
(Xem: 1694)
Đức Phật A Di Đà tự thân có ánh sáng vô lượng, chiếu khắp cả mười phương mà không có vật gì có thể ngăn che. Vì vậy nên Phật A Di Đà có nghĩa là Vô Lượng Quang Phật.
(Xem: 1771)
Nguyên tác Hán văn: Tì-kheo Linh Diệu, tông Thiên Thai soạn - Dịch sang tiếng Việt: Thích Thọ Phước
(Xem: 1796)
Ngài Buddhaghosa sanh ra và lớn lên nước Magadha, thuộc Trung Ấn Độ, vào thế kỷ thứ V trong ngôi làng Ghosa, gần địa danh nơi đức Phật thành đạo Bodhigaya
(Xem: 1789)
Nghiên Cứu Về Kinh A Hàm (Ãgama, Sanscrist)
(Xem: 2586)
Ai nói như sau, này các Tỷ-kheo: "Người này làm nghiệp như thế nào, như thế nào, người ấy cảm thọ như vậy, như vậy".
(Xem: 2077)
Đây là những điều tôi nghe hồi Bụt còn ở tại tu viện Cấp Cô Độc trong vườn cây Kỳ Đà ở thành Vương Xá.
(Xem: 2074)
Vào thời Đức Thích-ca-mâu-ni, không có hệ thống chữ viết được phổ biếnẤn Độ. Do đó, những thuyết giảng của Ngài được ghi nhớ và ...
(Xem: 2373)
"Lại nữa, lúc bấy giờ Mahāmati thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, ngài đã từng dạy rằng: từ lúc Như Lai chứng nghiệm giác ngộ cho đến...
(Xem: 2868)
Kinh Địa Tạng là một trong các kinh Đại thừa được phổ biến rộng rãi trong quần chúng Việt Nam từ hơn nửa thế kỷ nay song song với các kinh Kim Cương, Di Đà, Phổ Môn...
(Xem: 3431)
Nguyên tác: Tôn giả Thế Thân (Acarya Vasubandhu) - Hán dịch: Tam Tạng Pháp sư Huyền Tráng; Việt dịch: Tỳ khưu Tâm Hạnh
(Xem: 2196)
No. 1613 - Nguyên tác: Tôn giả An Huệ; Dịch Hán: Tam Tạng Pháp sư Địa-bà-ha-la; Dịch Việt: Tâm Hạnh
(Xem: 3087)
Duy thức nhị thập luận, do bồ tát Thế Thân soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường... được thu vào Đại chính tạng, tập 31, No.1590.
(Xem: 3011)
Bồ-tát Trần Na tạo luận. Tam tạng Pháp sư Huyền Trang phụng chiếu dịch. Việt dịch: Quảng Minh
(Xem: 4905)
Nghe như vầy, một thời Đức Phật ở nước Xá Vệ ở vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc cùng chúng đại Tỳ Kheo năm trăm vị. Bấy giờ các thầy Tỳ Kheo...
(Xem: 3150)
No. 699; Hán dịch: Đời Đại Đường, Trung Thiên Trúc, Tam tạng Pháp sư Địa bà ha la, Đường dịch là Nhật Chiếu
(Xem: 3464)
Đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni, bắt đầu chuyển pháp-luân, độ cho năm vị Tỳ-Khưu là Tôn-giả Kiều-Trần-Như v.v... Sau cùng, Ngài thuyết pháp độ cho ông Tu-bạt-đà-la.
(Xem: 2579)
Kinh Phạm Võng nằm trong Đại Chánh Tạng, tập 24, ký hiệu 1484, gọi đủ là Phạm võng kinh Lô xá na Phật thuyết bồ tát tâm địa giới phẩm đệ thập
(Xem: 3260)
Phật thuyết-giảng Kinh Phạm-Võng để dạy về giới-luật, và các pháp cao-siêu vượt thoát được sáu mươi hai kiến-chấp vốn là các tà-kiến đã...
(Xem: 2818)
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana, vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc). Ở đây,,,
(Xem: 3341)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Kinh Tập, Kinh số 0434; Dịch Phạn - Hán: Tam Tạng Cát-ca-dạ, Dịch Hán - Việt và chú: Tỳ-kheo Thích Hạnh Tuệ; Hiệu đính: HT Thích Như Điển
(Xem: 2561)
Đời Đường, Thận Thủy Sa Môn Huyền Giác Soạn; Thánh Tri dịch nghĩa Việt và viết bài học giải...
(Xem: 2932)
Phật giáo được khai sáng ở Ấn-độ vào năm 589 trước kỉ nguyên tây lịch (năm đức Thích Ca Mâu Ni thành đạo), và đã tồn tại liên tục, phát triển không ngừng trên ...
(Xem: 3311)
Trong truyền thống Phật giáo Bắc truyền, Dược Sư là một bản kinh thường được trì tụng nhằm mục đích giải trừ tật bệnh, cầu nguyện bình an...
(Xem: 3336)
Thích-ca là phiên âm của tiếng Phạn. Phiên âm Hán Việt là Năng Nhân. Tức là họ của đấng hóa Phật ở cõi Ta-bà...
(Xem: 4303)
Kinh chuyển Pháp luân là bài thuyết Pháp đầu tiên của Đức Phật Thích-ca sau khi Ngài đã đắc đạo.
(Xem: 3818)
Ba Ngàn Oai Nghi Của Vị Đại Tỳ Kheo - Được xếp vào tập T24 - Kinh số 1470 - Tổng cộng kinh này có 2 quyển
(Xem: 3769)
Những gì xảy ra trong thế giới này đều bị qui luật Nhân quả chi phối. Mọi thứ xuất hiện ở đời đều có nhân duyên. Hạnh phúcthế gian hay Niết bàn của người tu đạo không ra ngoài qui luật ấy.
(Xem: 4244)
Satipatthana Sutta là một bản kinh quan trọng làm nền tảng cho một phép thiền định chủ yếu trong Phật giáo là Vipassana...
(Xem: 3668)
Kinh Tứ Thập Nhị Chương là một bài Kinh được truyền bá khá rộng rải ở các Tồng Lâm Tự Viện của Trung QuốcViệt Nam từ xưa đến nay.
(Xem: 3247)
Bản dịch này được trích ra từ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh Vol. 48, No. 2010. Bởi vì lời dạy của Tổ Tăng Xán quá sâu sắc, súc tích, và bao hàm trong 584 chữ Hán,
(Xem: 4128)
Dịch từ Phạn sang Tạng: Kluḥi dbaṅ-po, Lhaḥi zla-ba; Dịch Tạng sang Việt: Phước Nguyên
(Xem: 5137)
Trí Phật là trí Kim – cang, Thân Phật là thân Kim – Sắc, cõi Phật là cõi Hoàng – kim, lời Phật tất nhiên là lời vàng.
(Xem: 3772)
Bấy giờ Hòa Thượng Vakkali nhìn thấy Đức Phật đang đi đến từ xa, và ông đã cố gắng ngồi dậy.
(Xem: 6600)
Xin dâng hết lên Tam Bảo chứng minh và xin Quý Ngài cũng như Quý Vị tùy nghi xử dụng in ấn tiếp tục hay trì tụng cũng như cho dịch ra những ngôn ngữ khác...
(Xem: 6302)
Niệm Phật Tâm Muội do HT Hư Vân soạn, Sa môn Hiển Chơn dịch; Tọa Thiền Dụng Tâm Ký do Viên Minh Quốc Sư soạn, HT Thích Thanh Từ dịch
(Xem: 4255)
Khi Bồ-tát Quán Tự Tại hành sâu Bát-nhã Ba-la-mật-đa, ngài soi thấy năm uẩn đều KHÔNG, liền qua hết thảy khổ ách.
(Xem: 20178)
Viết ra các bài Phật học thường thức này, chúng tôi không có tham vọng giới thiệu toàn bộ Phật pháp và chỉ cốt giúp cho các bạn sơ cơ hiểu được một cách đúng đắn, đạo lý năm thừa trong Phật giáo mà thôi.
(Xem: 3686)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, Kinh văn số 1675. Tác giả: Long Thọ Bồ Tát; Sa Môn Sắc Tử dịch Phạn sang Hán; HT Thích Như Điển dịch Việt
(Xem: 7137)
Thuở đó đức Phật đang ngự tại rừng Ta-la-song-thọ, ở ngoại ô thành Câu-thi-na, thuộc lãnh thổ trị vì của bộ tộc Lực-sĩ.
(Xem: 4611)
Đức Thế Tôn từ nơi cung trời Đâu-suất sinh xuống thành Ca-duy, chán đời sống dục lạc ở vương cung, thành tựu đạo chơn thường dưới cội cây...
(Xem: 4407)
Kinh Rong Chơi Trời Phương Ngoại là một phẩm của Kinh Pháp Cú Hán tạng có tên là Nê Hoàn Phẩm. Nê HoànNiết bàn (Nirvana, Nibbâna).
(Xem: 3938)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, quyển thứ 32, luận tập bộ toàn, kinh văn số 1637. HT Thích Như Điển dịch
(Xem: 4282)
Đây là kinh Pháp Quán Phạm Chí. Khung cảnh dựng lên cho kinh cũng giống như khung cảnh của kinh thứ mười một...
(Xem: 5821)
Đại Chánh Tân Tu đại tạng kinh, quyển thứ 32, kinh văn số 1680, luận tập bộ toàn. HT Thích Như Điển dịch Việt
(Xem: 4458)
Một thời, đức Bhagavat trú tại Vārāṇasi, nơi xứ Ṛṣipatana, trong rừng Mṛgadāva. Bấy giờ, đức Thế Tôn nói:
(Xem: 4150)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh quyển 32, luận tập bộ toàn, kinh văn 1671; HT Thích Như Điển dịch sang tiếng Việt.
(Xem: 4219)
Kinh Bát Đại Nhân Giác này của Đại Sư An Thế Cao từ nước An Tức sang Trung Quốc vào thời Hậu Hán (năm 132-167 sau công nguyên) soạn dịch.
(Xem: 4436)
Năm nay (2016) trong chương trình của tôi, không dự định đi sang Úc, nhưng ngày 23 tháng 6 năm 2016 vừa qua...
(Xem: 5104)
Tôi được nghe như vầy: một thuở nọ, Đức Thế Tôn đang ngụ tại vườn Nai, ở Isipatana gần Bénarès. Lúc bấy giờ...
(Xem: 3866)
Nay ở nơi chư Phật Chắp tay kính đảnh lễ Con sẽ như giáo nói Tư lương Bồ-đề Phật.
(Xem: 5231)
Lúc bấy giờ, ngài Vô-Tận-Ý Bồ-Tát (1) liền từ chỗ ngồi đứng dậy trịch áo bày vai hữu (2), chấp tay hướng Phật mà bạch rằng:
(Xem: 5104)
Bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (Taisho Shinshu Daijokyo) xuất xứ từ thời Vua Taisho (Đại Chánh) ở Nhật Bản từ đầu thế kỷ thứ 20.
(Xem: 6761)
Có lẽ Lăng Già là một trong những bộ kinh phân tích cái Tâm một cách chi li, khúc chiết nhất trong kinh điển Phật giáo.
(Xem: 4958)
Tôi nghe như vầy. Có một lúc, Đức Phật đã sống ở gần Xá Vệ (Savatthi) trong Khu Rừng Kỳ Đà (Jeta Wood) ở tu viện Cấp Cô Độc
(Xem: 5795)
Đại Chánh Tân Tu Đại tạng Kinh, quyển thứ 32 thuộc Luận Tập Bộ Toàn. Kinh văn số 1641. HT Thích Như Điển dịch
(Xem: 4669)
Thưa Tôn giả Gotama, những ngày về trước, những ngày về trước nữa, rất nhiều Sa-môn, Bà-la-môn là du sĩ ngoại đạo ngồi...
Quảng Cáo Bảo Trợ