Logo Hanh Huong
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
14,271,324
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Quyển 26 đến 27

17 Tháng Chín 201417:07(Xem: 4313)
Quyển 26 đến 27

 

Đại Tạng No. 1451

CĂN BẢN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ

- Mùla-Sarvàstivàda -

TỲ-NẠI-DA TẠP SỰ

- Mùla-Sarvàstivàda Vinaya Ksudraka Vastu -

(Cuộc đời đức Phật và các đệ tử)

Hán dịch: Tam Tạng Nghĩa Tịnh, đời Đường, Trung Quốc

Việt dịch: Tỳ khưu Tâm Hạnh, PL 2542 - TL 1998

 Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ Nại Da Tạp Sự

 

Quyển thứ hai mươi sáu

 

--- ooOoo ---

 

Tiếp theo nhiếp tụng bốn trong biệt môn sáu: Sự việc Phật hiện đại thần thông.

 

Thế Tôn trú ở vườn Trúc Lâm, bờ hồ Yết Lan Đạc Ca, thành Vương Xá. Bấy giờ, quốc-vương, đại-thần, Bà-la-môn, cư-sĩ, nhân-dân thương nhân trong thành phố làng xóm đều tôn trọng cung kính cúng dường Đại-sư Thế Tôn và chúng Bí-sô nhiều lợi dưỡng như thức ăn uống, y phục, ngọa cụ, y dược, những vật phục vụ đời sống. Nhưng các ngoại đạo chẳng được vua, quan, Bà-la-môn ... cung kính nên không được thức ăn cho đến vật phục vụ thân thể.

 

Ma vương Ba-tuần suy nghĩ: "Từ lâu ta rất phiền muộn vì Kiều Đáp Ma nhưng chưa hại được vậy nên dựa vào các ngoại đạo để gây não loạn".

 

Khi ấy, Lục-sư Bộ Kích Noa ... chẳng phải Nhất thiết trí, kiêu mạn xưng Nhất thiết trí, đang hoạt động tại thành Vương-xá.

 

Ma vương Ba Tuần hóa ra hình dáng Bộ Kích Noa, đi đến gặp Mạt Yết Lị Cù Xá Lê Tử, hiện thần thông thân phóng nước lửa phun mưa sấm chớp trước vị này. Mạt- Yết Lị Cù Xá Lê Tử hỏi:

 

- Này Bộ Kích Noa! Ngài đã thành tựu công đức đặc biệt thù thắng như vậy à?

 

Đáp:

 

- Tôi chứng như vậy.

 

Ba tuần lại lần lượt đến gặp San Thệ Di Bệ Kích Tri Tử, A-Thị Đa Kê Xá Cam Bạt La, Khước Câu Đà Ca Đa Diễn Na, Ny Yết Lạn Đà Thận Nhã Đê Tử, đều hiện các thần thông thân phun ra nước lửa, phóng mưa sấm sét trước mặt họ.

 

Ba-tuần biến thành Mạt Yết Lị Cù Xá Lê Tử đến nơi khác hiện các thần thông thân phun ra nước lửa, phóng ra mưa sấm chớp. Họ đều hỏi:

 

- Mạt Yết Lị Cù Xá Lê Tử, ngài thành tựu công đức thù thắng đặc biệt như vậy à?

 

Đáp:

 

- Tôi chứng.

 

Ba-tuần biến thành San Thệ Di Bệ Kích Tri Tử đi đến nơi khác cũng làm ... như trước ... cho đến đáp:

 

- Tôi chứng.

 

Ba-tuần biến thành A Thị Đa Kê Xá Cam Bạt La, cũng làm như trước ...

 

Ba Tuần biến thành Khước Câu Đà Ca Đa Diễn Na, cũng làm như trước ...

 

Ba Tuần biến thành Ny Yết Lạn Đà Thận Nhã Đê Tử đi đến trước ... hiện các thần thông thân phun ra nước lửa, phóng mưa sấm sét.

 

Họ đều hỏi:

 

- Ngài đã chứng công đức thù thắng kỳ lạ như vậy à?

 

Đáp:

 

- Tôi chứng.

 

Thấy sự việc như vậy, từng người đều có ý nghĩ: "Những vị kia đều có đại uy thần, sức thù thắng, chỉ riêng mình ta không có uy đức.

 

Vào lúc nọ, tại Xướng tụng đường, Lục-sư đều tụ tập cùng nhau bàn luận. Họ nói:

 

- Ngày trước chúng ta đều được quốc-vương, đại-thần, Bà-la-môn, cư-sĩ, thương-chủ ... tôn trọng lễ kính cúng dường, được nhiều lợi dưỡng như thức ăn, y phục, ngọa cụ, y dược, vật dụng cho thân thể. Hiện nay, chúng ta không còn được cung kính cúng dường như vậy nữa, thức ăn, y phục bị đoạn tuyệt trong khi đó Sa-môn Kiều Đáp Ma được các vua chúa ... cung kính cúng dường rất đầy đủ những vật dụng cần dùng. Các vị nên biết, chúng ta nên dùng sức thần thông đạo lực gọi Sa-môn Kiều Đáp Ma đến để đấu phép thượng nhân với chúng ta. Nếu Sa-môn Kiều Đáp Ma hiện một thần thông, ta sẽ hiện hai. Nếu ông ta hiện hai, ta sẽ hiện ba. Nếu ông ta hiện hai, ta sẽ hiện bốn. Nếu ông ta hiện bốn, ta sẽ hiện tám. Nếu ông ta hiện tám, ta sẽ hiện mười sáu. Nếu ông ta hiện mười sáu, ta sẽ hiện ba mươi hai. Khi Kiều Đáp Ma hiện pháp thượng nhân, ta sẽ hiện gấp hai gấp ba lần để hơn hành động của ông ta.

 

Đến gặp vua Ảnh Thắng, sau khi chú nguyện cho vua, Lục-sư thưa:

 

- Đại vương nên biết, chúng tôi đủ đại thần thông, có đại trí tuệ. Sa-môn Kiều Đáp Ma cũng tự xưng có đủ đại thần thông, có đại trí tuệ. Xin đại vương cho phép bậc trí tuệ và người trí tuệ dùng pháp thần thông thượng nhân để thi đấu nhau. Khi nào Sa-môn ấy hiện một thần thông, tôi sẽ hiện gấp hai gấp ba thần thông như vậy. Khi nào ông ấy đi đến nữa đường, chúng tôi cũng theo ông ấy đến nữa đường để cùng đấu thần thông.

 

Vua Ảnh Thắng đáp:

 

- Này Lục-sư! Ccác vị tuy sống nhưng không khác thây chết, vì sao có thể dùng pháp thượng nhân mà gọi đến Như Lai?

 

Nghe nói như vậy, họ đều từ giã.

 

Sau đó, vua ra khỏi thành để đi đến lễ kính đức Phật.

 

Giữa đường, thấy vua Ảnh Thắng, Lục-sư lại xin đấu thần thông như trước. Vua nói:

 

- Đã hai lần đến nói, ta cũng bỏ qua, nếu đến xin nữa, sẽ đuổi các ông ra khỏi nước.

 

Họ im lặng bỏ đi, về đến trú xứ cùng nhau bàn luận:

 

- Quý vị nên biết, đối với Sa-môn vua rất kính tín, việc này không chờ đợi được. Đ?i vương Thắng Quang nước Ki?u Thiểm Tỳ tính tình trung dung không có thiên lệch, ai cũng đều nghe. Nếu Kiều Đáp Ma đi đến thành kia, chúng ta gọi ông ta đấu sức thần thông.

 

Sau đó, tùy theo nhân duyên hóa độ, Thế Tôn đi khỏi thành Vương Xá đến Thất La Phiệt, trú ở vườn Cấp Cô Độc. Cũng đi theo sau, nghỉ ngơi xong, Lục-sư đến gặp vua Thắng Quang, chú nguyện xong, thưa:

 

- Xin đại vương biết cho, chúng tôi có đại thần thông, đầy đủ đại trí tuệ. Sa-môn Kiều Đáp Ma cũng thường tự xưng có đại thần thông, đủ đại trí tuệ. Xin đại vương cho phép bậc trí tuệ so tài với người trí tuệ bằng pháp thần thông thượng nhân. Nếu Sa-môn ấy hiện một thần thông, tôi sẽ hiện hai như vậy cho đến gấp ba mươi hai lần ... như trước. Nếu khi ông ấy đi đến nữa đường, chúng tôi cũng đi đến nữa đường cùng đấu thần thông.

 

Vua Thắng Quang thưa với Lục-sư:

 

- Các ngài hãy chờ tôi bạch Phật.

 

Đi đến gặp Thế Tôn, lạy sát hai chân rồi ngồi qua một bên, nhà vua cung kính chắp tay thưa với Thế Tôn:

 

- Ngoại đạo Lục-sư muốn dùng pháp thượng nhân thần thông mời Thế Tôn cùng đấu để so đạo đức. Con cầu xin Ngài từ bi chiến thắng ngoại đạo để trời người vui mừng, làm cho người có tín tâm được hoan hỷ, người không tín tâm diệt được gốc tội ác.

 

Nghe thưa, Đại sư bảo vua Thắng Quang:

 

- Đại vương nên biết, Ta dạy cho các đệ tử Thanh-văn rằng này các Bí-sô không nên lai vãng đến các Sa môn, Bà-la-môn, trưởng giả, cư sĩ để hiện pháp thượng nhân thần thông ở trước họ. Ta lại dạy cho các đêï tử pháp như vầy, này các Bí-sô nếu có pháp thắng thiện cần phải che dấu, có tội lỗi xấu ác phải phát lộviệc phải làm trước.

 

Bấy giờ, vua Thắng Quang ba lần cầu thỉnh, Thế Tôn đều đáp như vậy.

 

Phật bảo:

 

- Đại vương! Phật có năm việc phải làm. Đó là:

 

    Một: Đối với hữu tình chưa từng phát tâm, làm cho họ phát tâm Vô-thượng chánh-đẳng-giác.

    Hai: Thọ ký cho pháp vương, quán đảnh thái tử đã trồng thiện căn từ lâu.

    Ba: Làm cho cha mẹ thấy được chân-đế.

    Bốn: Hiện đại thần thông nơi thành Thất La Phiệt.

    Năm: Hóa độ cho chúng sinh nào mà nhờ Phật dạy thì được giải thoát.

 

Khi ấy, với suy nghĩ chư Phật thời quá khứ đều hiện thần thông ở đâu, Thế Tôn thấy ở thành Thất La Phiệt. Ngài lại thấy bảy ngày sau đại chúng vân tập. Sau khi biết như vậy, Phật bảo vua Thắng Quang:

 

- Vua hãy về đi, xem đúng thời cơ, Ta sẽ hành động.

 

Vua thưa:

 

- Sẽ vào lúc nào?

 

Đáp:

 

- Đợi bảy ngày sau.

 

Vua lạy sát chân Phật, từ giã ra về, đi đến gặp ngoại đạo, nói:

 

- Quý vị nên biết, sau bảy ngày nữa, Như Lai sẽ vì mọi ngườihiện đại thần thông. Các vị cần làm việc gì thì tùy ý.

 

Nghe nói xong, ngoại đạo bàn bạc với nhau: "Có thể Sa-môn Kiều Đáp Ma chạy trốn hoặc tìm đồng bọn, chúng ta phải làm sao đây? Sa môn chắc chắn tìm đồng bọn, chúng ta cũng nên tìm bạn hữu".

 

Bấy giờ, tại thành Câu Thi Na có một ngoại đạo tên là Hiền-Thiện, già đến 120 tuổi. Những tráng sĩ trong thành này đều cung kính tôn trọng chí tâm cúng dường Thiện Hiền, cho là bậc A-la-hán.

 

Sau khi mưu tính, Lục-sư đến gặp Thi?n Hiền, thưa:

 

- Thiện Hiền! Ngài là người đồng phạm hạnh với chúng tôi.

 

Chúng tôi muốn gọi sa môn Kiều Đáp Ma cùng đấu thần thông hiện pháp thượng nhân, ngài hãy tương trợ.

 

Đáp:

 

- Các vị thật không nên có hành động cùng đấu thần thông với Sa môn ấy.

 

- Vì sao?

 

- Vị ấy có uy đức lớn, thế lực lớn. Làm sao biết được, vì có lý do.

 

Hỏi:

 

- Lý do gì?

 

Đáp:

 

- Khi đại Sa-môn ấy chưa xuất thế, ta nhớ có lần trú bên bờ hồ lớn Mạn Đà Chỉ Nhĩ để tịnh tọa. Vào sáng sớm sau khi khất thực, ta đến bờ ao Vô Nhiệt im lặng thọ thực. Khi ấy thiên thần trú ở hồ này đích thân mang nước đến cung cấp cho ta. Sau khi Sa-môn Kiều Đáp Ma xuất thế, đệ tử số một trong hàng thanh vănXá Lợi Phất. Cầu tịch Chuẩn Đà đệ tử của vị ấy mang y phấn tảo đến ao Vô Nhiệt để giặt. Chư thiên bên hồ lấy y ấy giặt rồi đem lại vị kia, rất thành kính lấy nước giặt y rưới lên thân mình. Theo ta suy nghĩ, ta không bằng đệ tử của đệ tử vị ấy. Nay, các vị muốn gọi Đại sư của họ đến đấu thần thông, thật không phải là việc tốt.

 

Nghe như vậy, họ bàn nhau: "Đây cũng là bè đảng của sa môn ấy, hãy tìm vị khác cùng nhau mưu tính".

 

Giả dạng cung kính, từ tạ ra đi, đến nơi vắng vẻ, Lục-sư bàn nhau: "Bbiết tìm đồng bọn của chúng ta ở đâu đây?".

 

Một người nói:

 

- Thành kia có một vị chứng ngũ-thông, hãy đến đó bàn tính với họ, tất được tương trợ.

 

Một người nói:

 

- Người ấy không đủ sức hiện các thần thông nhưng tại chỗ yên tịnhTuyết Sơn nơi rừng rậm, ao trong, hoa trái xum xuê, gió tùng reo vi vu, chim đẹp đua hót, có năm trăm tiên nhân sống ở đó, phần đông đã chứng đắc ngũ thông. Chúng ta nên đến đó bàn với họ.

 

Đến nơi, sau khi chào hỏi, họ thưa:

 

- Quý vị cùng chúng tôi đồng tu phạm-hạnh. Hiện nay, chúng tôi muốn gọi Sa-môn Kiều Đáp Ma cùng thi đấu pháp thần thông thượng nhân, quý vị có thể hỗ trợ không?

 

Đáp:

 

- Đấy là việc tốt. Chúng tôi xin tham dự. Khi thi đấu, nên hiện tướng trạng lạ. Thấy tướng trạng ấy chúng tôi sẽ đến tương trợ.

 

Cung kính vâng lời, Lục-sư từ giã.

 

Một hôm, vương tử Ca La em khác mẹ với vua Thắng Quang mặc y phục đàng hoàng trang sức hương thơm, vòng hoa, anh lạc, đi ngang qua cạnh cung vua bên thành. Trên lầu cao, thấy vương tử đi qua, quá yêu mến sắc đẹp Ca La nên nội nhân của vua ném vòng hoa trên người vương tử. Những người khác đều thấy, có kẻ oán ghét đem thưa với đại thần, đại thần tâu vua:

 

- Vương tử Ca Lagiao hảo tư tình với nội nhân của vua.

 

Nghe tâu, vội vàng không xét kỹ, vua ra lệnh đại thần chặt tay chân vương tử. Tuân lệnh vua, họ dẫn vương tử ra chợ, khiến đồ tể chặt tay chân. Bấy giờ, thân tộc vương tử và nhân dân bu quanh thương xót kêu khóc rất đau khổ. Có ngoại đạo đi ngang qua, thân tộc vương tử thưa thỉnh:

 

- Vương tử Ca La bị vua nỗi giận chặt hết tay chân. Các ngài có thể dùng năng lực của lời nói thật làm cho tay chân bị chặt của vương tử bình phục như xưa không?

 

Nghe hỏi, ngoại đạo im lặng không đáp.

 

Thấy Tôn giả A Nan Đà khất thực ngang qua đó, thân tộc ấy hỏi:

 

- Vương tử Ca La bị chặt tay chân, thánh giả có thể làm cho bình phục như xưa không?

 

Đáp:

 

- Quý vị ở đây, chờ tôi bạch Phật rồi trở lại cho biết.

 

Nghe nói, mọi người rất hoan hỷ nói:

 

- Bây giờ vương tử đã được mạng sống.

 

Vội vàng trở về, vào rừng Thệ Đa, thu xếp bát cơm xong, A Nan Đà đến gặp Thế Tôn thưa lại việc trên. Phật bảo A Nan Đà:

 

- Ông hãy đến đó, bảo quyến thuộc sắp xếp tay chân vương tử lại như cũ, sau đó mới dùng lời nói chân thật để chú nguyện. Nên chú nguyện bằng lời chân thật thế này: "Trong các chúng sinh loài không chân, hai chân, nhiều chân, loài có sắc hay không sắc, loài có tưởng hay không tưởng hay chẳng phải không tưởng, đức Như Laitối thượng. Trong các pháp hoặc hữu vi hoặc vô vi, pháp vô-dục-nhiễm là tối thượng. Trong các tập thể, đại chúng, đám đông, chúng Thanh-văn của Phật là tối thượng. Trong các giới cấm tinh cần khổ hạnh, tu tập phạm hạnh, thánh-giới thanh tịnhtối thượng. Nếu lời này là chân thật không hư dối sẽ khiến cho tay chân của vương tử Ca-La đã bị cắt bình phục như xưa".

 

Nghe Phật dạy xong, sau khi bạch Phật rằng: "Thế Tôn, con sẽ làm như vậy", A Nan Đà lạy sát chân Phật, đi đến chỗ Ca La. Tôn giả bảo quyến thuộc xếp đặt tay chân vương tử lại như cũ rồi làm đúng như lời Phật dạy, dùng lời nói chân thật chú nguyện:

 

- Trong các chúng sinh loài không chân, hai chân ... như trên cho đến ... thánh-giới thanh tịnhtối thượng. Nếu thánh ngôn này không hư dối thì có thể làm cho tay chân bị chặt của vương tử bình phục như xưa.

 

Khi Tôn giả chú nguyện xong, tay chân vương tử bình phục như cũ. Thấy sự việc như vậy, mọi người đều hớn hở reo mừng vang dậy tán thán việc hy hữuTôn giả A Nan Đà thắng các ngoại đạo và đưa vương tử đến gặp Phật, lạy sát chân Ngài, đứng hết qua một bên, bạch rằng:

 

- Đại đức Thế Tôn! Đây là vương tử Ca La.

 

Vương tử lễ sát chân Phật rồi ngồi qua một bên. Thuận theo sự sai khác về căn tính sở thích của vương tử, Thế Tôn giảng dạy pháp yếu. Nghe pháp xong, vương tử chứng quả Bất-hoàn và đắc thần thông.

 

Nghe vương tử Ca La nhờ Tôn giả A Nan Đà dùng năng lực thật ngữ chú nguyện nên tay chân bình phục như xưa, vua Thắng-Quang đến xin lỗi vương tử: khanh hãy tha thứ cho ta.

 

Đáp:

 

- Xin vâng.

 

Vua nói:

 

- Ca La nên trở về nhà.

 

Đáp:

 

- Đại vương, tôi đã ly dục, nay ở lại đây phục vụ Như Lai không trở về nữa.

 

Vua nói:

 

- Lành thay, hành động tùy ý.

 

Nhà vua làm một nơi kinh hành trong rừng cho vương tử cư trú. Vì các chi thể của vương tử được nối lại từng phần nên gọi rừng này tên là rừng Từng Phần.

 

Vua Thắng Quang đến gặp Phật, đảnh lễ sát chân, thưa:

 

- Thế Tôn! Nếu Ngài cho phép, con sẽ làm nhà hiện thần thông từ cửa thành đến rừng Thệ Đa.

 

Phật dạy:

 

- Tùy ý.

 

Vua liền làm nhà tô trát đàng hoàng, dựng trăm ngàn cờ lọng rực rỡ, rưới nước thơm chiên đàn, rãi hoa quý vô giá, treo các phướng màu gió thổi rất hấp dẫn, vàng ngọc chiếu sáng, chuông báu kêu vang, đốt hương hải-ngạn khói tỏa thành lọng, như vườn Hoan Hỷcõi trời Đao Lợi, làm bảo tọa sư tử vi diệu xinh đẹp cho Phật Thế Tôn bằng vàng, bạc, lưu ly, pha lê, mã não trang trí bằng các loại hiếm có trên đời.

 

Các đệ tử ngoại đạo của Lục sư cũng tùy theo sức mình làm sáu tòa ngồi cho thầy mình. Các ngoại đạo đều hộ vệ theo, Lục-sư ngồi ở trước, sai sứ đến tâu vua: đại vương nên biết, chúng tôi đã đến, hãy gọi sa môn Kiều Đáp Ma.

 

Nghe họ thông báo, vua cùng nội cung, đại thần, nhân dân khắp nơi trong thành đều đi đến nhà hiện thần thông. Vua bảo sứ giả Ma Nạp Bà:

 

- Ngươi đến lễ Phật và thưa lại lời của ta, thăm hỏi Thế Tôn có khỏe mạnh, sinh hoạt an ổn, sức lực bình thường không và bạch rằng các ngoại đạo đều đã tập trung, xin Phật biết để định liệu.

 

Vâng lệnh vua, sứ giả Ma Nạp Bà đến gặp Phật, sau khi thăm hỏi, ngồi qua một bên, bạch:

 

- Thế Tôn! Đại vương Thắng Quang đảnh lễ dưới chân Phật, thăm hỏi Thế Tôn có khỏe mạnh, sinh hoạt an ổn, sức lực bình thường không!

 

Phật đáp:

 

- Xin chúc đại vương và ngài thân thể khỏe mạnh an lạc.

 

Ma Nạp Bà thưa:

 

- Đại vương Thắng Quang thưa rằng các ngoại đạo đều đã tập trung, xin Phật biết để định liệu.

 

Phật bảo Ma Nạp Bà:

 

- Ngài có thể đi về.

 

Bấy giờ, Thế Tôn dùng sức thần thông gia bị Ma Nạp Bà, như vua nhạn xòe hai cánh, bay lên hư không đến nhà hiện thần thông.

 

Thấy đức Phật từ hư không bay đến, mọi người đều vui mừng tán thán việc chưa từng có.

 

Thấy việc kỳ lạ, lòng thêm kính tín, vua bảo các ngoại đạo:

 

- Như Lai đại sư đã hiện thần biến. Các vị hãy tuần tự hiện việc kỳ lạ.

 

Họ đáp:

 

- Đại vương! Có vô biên đại chúng đang vân tập, giả như hiện thần thông, không biết cái nào là của Sa môn hay của chúng tôi.

 

Khi ấy, Vương tử Ca La dùng thần lực đi đến núi Hương Túy lấy các loại cây rừng hoa trái xum xuê kỳ lạ có chim đẹp hót vang đi theo cây, đem an trí ở phía bắc của nhà hiện thần thông.

 

Thấy như vậy, vua càng thán phục, bảo với ngoại đạo:

 

- Như Lai đại sư đã hiện thần biến, các vị cũng nên tuần tự biến hiện.

 

Họ đáp:

 

- Đại vương! Chẳng phải trước đây chúng tôi đã nói rằng hiện nay có vô biên đại chúng vân tập, giả như hiện thần biến chẳng biết là của ai.

 

Tiếp theo Trưởng giả giúp người nghèo Tô Đạt Đa dùng sức thần thông lấy cây Như Ýcõi trời Ba-mươi-ba đem an trí nơi mặt Bắc nhà hiện thần thông.

 

Thấy như vậy, vua càng hoan hỷ, bảo các ngoại đạo:

 

- Như Lai đại sư đã hiện thần thông, các vị hãy làm đi.

 

Ngoại đạo đáp:

 

- Mọi người quá đông, biết ai hơn thua, giữa tôi và Sa-môn không thể phân biệt được.

 

Khi ấy có trăm ngàn nhân dân các nước xa gần đều tập họp đến. Trên hư không có trăm ngàn ức chư thiên thích xem thần thông cũng vân tập đến.

 

Thế Tôn ra khỏi phòng một lúc, rửa sạch chân xong lại vào trong phòng, an tọa nhập vào định Hỏa Quang. Từ lỗ khóa phòng của Thế Tôn, lửa phun ra rực rỡ bay đến chụp lấy các nhà hiện thần thông.

 

Các ngoại đạo nói:

 

- Thần thông của Sa-môn hiện ra làm cho nhà cửa đều bị lửa thiêu đốt, hãy gọi sa môn ấy đến diệt lửa.

 

Nghe nói, vua im lặng không biết nói gì nên rất buồn bã.

 

Phu nhân Thắng Man, phu nhân Hành Vũ, đại thần Tiên Thọ, Cố-cựu, trưởng giả Cấp Cô, Mẹ Tỳ Xá Khư và những người tịnh tín khác và những người chưa tin hẳn đều rất kinh ngạc.

 

Trong khi đó, thấy lửa cháy lớn, ngoại đạo sư và đệ tử của họ đều rất vui mừng.

 

Bấy giờ, ngọn lửa cháy khắp các nhà hiện thần thông, thiêu đốt các trần cấu làm cho thanh tịnh. Quang minh rất sáng rực nhưng không làm hại gì cả, rồi tự nhiên lửa tắt, do thần lực của Phật và chư thiên.

 

Thấy vậy, nhà vua vui mừng như chết đi sống lại nên ra lệnh ngoại đạo:

 

- Như Lai đại sư đã hiện thần thông, các vị hãy hiện thần biến của mình đi.

 

Họ đành im lặng, cúi đầu không đáp.

 

Khi ấy, Thế Tôn tác ý, đạp chân phải lên Hương điện (phương Tây gọi ngôi nhà mà đức Phật ở là Kiền Đà Câu Tri. Kiền-đà là hương, câu-tri là nhà, đây có nghĩa là hương thất, hương đài, hương điện. Không thể trực tiếp xúc phạm tôn danh của Phật nên chỉ gọi cái điện mà Ngài trú, như xứ này gọi vua là Ngọc-bệ, Bệ-hạ ... Nhưng đây gọi là Phật Đường, Phật Điện, không thuận với ý nghĩa ở phương Tây.)

 

Bấy giờ, mặt đất chấn động sáu cách, rung nhẹ, rung vừa, rung cực mạnh; động nhẹ, động vừa, động cực mạnh. Phía Đông nổi lên, Tây chìm xuống; Tây nổi lên Đông chìm xuống; Bắc nổi lên Nam chìm xuống; Nam nổi lên Bắc chìm xuống; trung tâm nổi lên chung quanh chìm xuống; chung quanh nổi lên trung tâm chìm xuống. Do mặt đất chấn động nhiều cách như vậy, năm trăm tiên nhân ở núi Tuyết thấy hiện tượng lạ này đều kinh ngạc bảo nhau rằng các vị đồng phạm hạnh ấy đã hiện tướng lạ này, chúng ta nên đi.

 

Trong lúc họ lên đường, Thế Tôn vì sự hóa sinh của họ, nên phóng ra ánh sáng vi diệu màu hoàng kim chiếu đến các vị tiên nhân. Trong khoảng cách này đều sáng rực lên.

 

Các tiên nhân trông thấy Thế Tôn, với hào quang viên mãn xinh đẹp như núi báu chúa trang nghiêm, như đầy đủ cả ngàn mặt trời trong sáng, kim thân rực rỡ với 32 tướng, trang sức tự thân với 80 vẻ đẹp.

 

Sau khi trông thấy tướng hảo của Thế Tôn, tâm các vị tiên trở nên trong sáng lặng yên như tu tập thiền định đã lâu, như người không con được con, người nghèo được của báu, người thích làm vua được nhận lễ quán đảnh lên ngôi, cũng như người đã trồng căn lành nhiều đời lần đầu tiên thấy Phật. Gặp đức Phật, các vị tiên nhân lạy sát chân Ngài rồi ngồi qua một bên.

 

Thế Tôn tùy theo căn cơ khác nhau của họ, thuyết pháp thuận theo lý Tứ-đế. Họ nghe pháp xong, dùng trí tuệ như kim cương chử phá núi 20 thân kiến, chứng quả Dự-lưu. Sau khi kiến đế, họ đứng dậy chắp tay cung kính bạch Phật:

 

- Thế Tôn! Chúng con xin được xuất gia với Phật và thọ Cận-viên thành tựu tánh Bí-sô, tu tập phạm hạnh với Đại sư.

 

Thế Tôn bảo:

 

- Lành thay đến đây Bí-sô, hãy tu tập phạm hạnh.

 

Lời nói của Phật vừa xong, râu tóc họ tự rụng như đã cạo qua bảy ngày, thân mang pháp-phục, bình-bát nơi tay, đầy đủ uy nghi như Bí-sô trăm tuổi hạ. Theo như giáo pháp đã thọ, họ tự siêng năng tinh tấn không ngừng, phá tan vòng luân hồi của năm nẻo, đoạn trừ các phiền não, chứng quả A-la-hán ... nói đủ như chỗ khác ... cho đến ... là nơi cung kính tôn trọng của chư Thiên Đế Thích.

 

Bấy giờ, Thế Tôn cùng năm trăm Bí-sô La hán tiên nhân và các Bí-sô khác, trời rồng bát bộ vây quanh trước sau đi đến nhà hiện thần thông, an tọa trên tòa sư tử trước đại chúng.

 

Có Ô-Ba-Tư-Ca tên Thần Tiên Mẫu đến gặp Phật, thưa:

 

- Thế Tôn! Xin Đại sư chớ làm mệt tinh thần, tự con cùng các ngoại đạo kia đấu thần thông hiện pháp thượng nhân, chiến thắng họ làm cho trời người vui mừng, làm người có tâm kính tín được hoan hỷ, người chưa tin được kết thiện duyên.

 

Phật bảo Thần Tiên Mẫu:

 

- Không làm phiền đến ý con. Tuy con có khả năng thi triển thần thông chiến thắng ngoại đạo nhưng họ sẽ nói rằng:

 

- Sa-môn Kiều Đáp Ma không thể hiện thần thông, pháp thượng nhân như vậy chỉ do nữ Thanh văn biến hiện. Con hãy ngồi yên.

 

Khi ấy trưởng giả người nghèo Tô Đạt Đa cùng cầu tịch Chuẩn Đà, cầu tịch nữ Tổng Kế, Bí-sô ny Liên Hoa Sắc, lại có vô lượng vị có thần thông, đều đến trước Thế Tôn cùng nhau thưa thỉnh xin phép. Cũng đáp như trước, Phật bảo họ hãy an tọa.

 

Mục Kiền Liên chắp tay thưa với Phật:

 

- Thế Tôn! Xin Ngài đừng lo, con cùng ngoại đạo đấu thần thông, hiện pháp thượng nhân chiến thắng họ, tăng trưởng trời người.

 

Phật bảo Mục Liên:

 

- Tuy biết ông có thần lực chiến thắng được ngoại đạo nhưng họ sẽ nói rằng Sa môn Kiều Đáp Ma không có khả năng hiện thần thông, chỉ có Thanh-văn Mục Kiền Liênuy đức này hiện thần thông đấu cùng ta. Ông hãy ngồi yên.

 

Phật hỏi vua Thắng Quang:

 

- Ai thỉnh Như Lai cùng các ngoại đạo đấu thần thông?

 

Vua liền đứng dậy, bày vai áo bên phải, chắp tay hướng Phật bạch:

 

- Thế Tôn! Con xin thỉnh Phật cùng các ngoại đạo hiện pháp thần thông thượng nhân để chiến thắng họ làm cho trời người hoan hỷ, người kính tín tăng thêm tín tâm, người chưa tín gây nhân tín tâm, Sa môn, Bà-la-môn trời người trong tương lai đều được lợi ích, mãi mãi an lạc.

 

Thấy Phật im lặng nhận lời mình thỉnh cầu, nhà vua trở lại chỗ ngồi.

 

Bấy giờ, Thế Tôn nhập vào Thắng Tam-ma-địa, đang trên tòa bỗng nhiên biến mất rồi hiện ra trên hư không ở phương Đông, đi đứng nằm ngồi, nhập định Hỏa Quang phóng ra nhiều loại ánh sáng màu xanh vàng đỏ trắng hồng, dưới thân phóng lửa trên thân phun nước, trên thân phóng lửa dưới thân phun lửa, hiện thần biến như vậy ở khắp các phương Đông, Nam, Tây, Bắc. Sau khi hiện thần biến, Thế Tôn thu nhiếp trở lại ngồi nơi tòa sư tử như cũ, bảo vua:

 

- Thần thông này chư Phật và chúng Thanh văn đều có. Đại vương, ai thỉnh Như Lai hiện vô thượng đại thần thông trước các ngoại đạo và chúng nhân thiên?

 

Vua lại rời chỗ ngồi, làm lễ như trước và thưa:

 

- Con xin thỉnh Thế Tôn vì các đại chúng hiện vô thượng đại thần thông để chiến thắng ngoại đạo ... như trước.

 

Biết Phật im lặng nhận lời, vua trở lại chỗ ngồi.

 

Thế Tôn lấy tay thí vô úy có tấm lưới căng chữ vạn kiết tường hình bánh xe rất đẹp, tướng hảo trang nghiêm này do vô lượng phước sinh ra, đặt trên mặt đất, khởi tâm thế tục với ý nghĩ làm sao các rồng mang hoa sen đẹp lớn như bánh xe đủ ngàn cánh, vật báu làm đài, kim cương làm nhụy đến đây.

 

Thường pháp của chư Phật là khi dùng tâm thế tục, cho đến côn trùng cũng biết ý Phật. Nếu khi Phật dùng tâm xuất thế thì Thanh-văn, Duyên-giác cũng không thể biết, huống chi cầm thú và các loài rồng làm sao biết được ý nghĩ của Ngài.

 

Biết được ý của Phật, Long vương suy nghĩ: "Vì sao Thế Tôn đặt tay xuống đất?".

 

Biết Phật Đại sư muốn hiện thần biến cần loại hoa-sen này, Long vương liền mang hoa sen lớn như bánh xe đủ ngàn cánh, đài bằng vật báu, nhụy bằng kim cương, vọt lên khỏi mặt đất. Thấy vậy, Thế Tôn liền an tọa trên hoa sen này. Ngay hai bên và sau lưng đều có vô lượng hoa sen đẹp báu giống như hoa kia vọt lên. Trên mỗi hoa đều có vị hóa Phật an tọa. Bên phải và sau lưng các đức hóa Phật ngồi trên hoa sen ấy, đều có hoa sen vọt lên và vị hóa Phật an tọa ở trên, trùng trùng lớp lớp hoa sen nối nhau đến tận cõi trời Sắc Cứu Cánh. Các vị Phật ấy, thân xuất Hỏa-quang, hoặc tuôn mưa, hoặc phóng ánh sáng, hoặc thọ ký, hoặc vấn đáp, hoặc đi đứng nằm ngồi hiện bốn uy nghi. Do thần lực của Phật nên đến như trẻ con cũng thấy được hình ảnh Như Lai.

 

Khi Thế Tôn đã hiện thần thông, vua Thắng Quang cùng nội cung, vương tử, đại thần cùng vô số vô lượng trăm ngàn người trong thành phố xóm làng và khách ở xa cũng đều vân tập đến chiêm ngưỡng thần thông mắt chăm chú nhìn mãi. Trên không trung cũng có vô lượng trăm ngàn đại chúng thiên tử lặng yên không cử động, cùng nhau quan sát thần thông, cung kính cúng dường, lòng không nhàm chán, khắp nơi đều có tiếng trống nhạc vang rền, tiếng thổi ốc kéo dài, ca múa nhiều cách, cho đến cầm thú cũng đều vui mừng phát ra âm thanh, ngựa hí, voi rống, lạc đà gầm, bò kêu, khổng-tước, oanh-ương đều hót vang tiếng hay. Trời người đại chúng thấy thần biến của Phật đều thán phục.

 

Khi ấy, chư Thiên trên hư không tấu nhạc trời, tung hoa sen trời đủ màu xanh, vàng, đỏ, trắng, rãi khắp nơi bột hương thơm chiên đàn trầm thủy cõi trời, thả xuống thiên y đẹp và vải lụa thượng hạngnhân gian.

 

Khi hiện đại thần thông như vậy xong, vì muốn điều phục giáo hóa hữu tình nên Như Lai nói kệ:

 

    Ngươi nên cầu xuất ly,

    Cần tu theo lời Phật,

    Chiến thắng quân sinh tử,

    Như voi phá nhà cỏ,

    Ngay trong pháp luật này,

    Thường sống không phóng dật,

    Làm khô biển phiền não,

    Xóa hết biên giới khổ.

 

Ngoài ra, các vị hóa Phật đồng thanh nói kệ:

 

    Khi mặt trời chưa mọc,

    Ánh đuốc sáng lập lòe,

    Nhật Luân lên hư không,

    Làm mất ánh sáng đuốc,

    Ánh sáng Phật chưa chiếu,

    Lời ngoại đạo còn lạ,

    Phật Quang chiếu khắp nơi,

    Chiến thắng thầy trò họ.

 

Khi ấy, Thế Tôn bảo các Bí-sô:

 

- Các ông hãy ghi nhớ thần biến này, đại thần thông đang sắp chấm dứt.

 

Phật nói xong, thần biến không còn nữa.

 

Vua Thắng-quang bảo Lục-sư:

 

- Đại sư Thế Tôn đã hiện thần biến, các vị hãy hiện thần thông đi.

 

Ngoại đạo Bộ Kích Noa im lặng không đáp được, lấy cùi chỏ thúc vào Mạt Yết Lị Cù Xá Lê Tử. Như vậy, lần lượt thúc nhau, hết cả sáu người không ai dám ứng đối. Vua nhắc họ hiện thần thông đến ba lần nhưng Lục sư chỉ thúc nhau, im lặng rụt cổ cúi đầu như nhập vào thiền định không đáp gì cả.

 

Chúa đại dược xoa Kim Cương Thủ suy nghĩ: "Sáu vật ngu si này gây phiền phức cho Thế Tôn đã lâu, nên làm cho họ sửa lỗi trước, không còn gây ra nữa, đều phải bỏ đi".

 

Sau khi suy nghĩ, Dược-xoa liền phóng ra mưa to gió lớn thổi sập ngã một số nhà hiện thần thông. Ngoại đạo tà đồ đều ly tán, hoặc kinh sợ chạy vào hang núi, rừng cây, bụi rậm ẩn núp, hoặc chạy vào miếu thờ trời, ôm bụng buồn rầu. Chỉ riêng căn nhà hiện thần thông mà Phật đang trú thì không sao cả.

 

Thấy sự việc này, Thế Tôn nói kệ:

 

    Mọi người vì lo sợ,

    Thường quy y các núi,

    Vườn cây, gốc đại thọ,

    Đền miếu, rừng hoang vu.

    Quy y này không thắng,

    Quy y này không tôn,

    Không nhờ quy y này,

    Mà giải thoát các khổ.

    Ai quy y Phật Đà,

    Chánh-pháp và Tăng già,

    Thường dùng tuệ quán sát,

    Ngay trong Bốn Thánh-đế,

    Biết khổ, biết khổ tập,

    Biết thoát hẳn các khổ,

    Biết Thánh đạo tám ngành,

    Đến Niết-bàn an ổn.

    Quy y này tối thắng,

    Quy y này tối tôn,

    Nhờ quy y nơi này,

    Chắc chắn thoát các khổ.

 

Bấy giờ, quán sát căn cơ khác nhau, tùy-miên bất đồng của mọi người, Thế Tôn thuyết pháp cho họ. Được nghe pháp rồi, vô lượng trăm ngàn đại chúng được kiến giải thù thắng, hoặc chứng Sơ quả, Nhị quả, Tam quả, A-la-hán quả, hoặc có người phát tâm Thanh-văn Bồ-đề, hoặc có người phát tâm Độc-giác Bồ-đề, hoặc có người phát tâm Vô-thượng bồ-đề. Những chúng sinh trong đại chúng đều chí tâm quy hướng Tam-bảo. Sau khi thuyết pháp làm cho họ được thấy pháp lợi ích hoan hỷ,Thế Tôn rời khỏi tòa ra đi.

 

Bấy giờ, đang ngồi chung với Bộ Kích Noa ..., những học trò của hỏi:

 

- Thế nào là thật?

 

Sinh tâm dối trá bịa đặt khéo léo, cả Lục sư cùng nhau nói rằng thế gian là thường tồn, đấy là sự thật.

 

Lại có người nói rằng vô thường là thật.

Lại có người nói vừa thường vừa vô thường.

Lại có người nói chẳng phải thường, chẳng phải vô thườngsự thật.

Lại có người nói hữu biên hay vô biên.

Lại có người nói vừa hữu biên vừa vô biên.

Lại có người nói chẳng phải hữu biên chẳng phải vô biên.

Lại có người nói mạng trong thân.

Lại có người nói mạng ngoài thân.

Lại có người nói sau khi chết có ngã.

Lại có người nói sau khi chết không có ngã.

Lại có người nói sau khi chết vừa có ngã vừa không có ngã.

Lại có người nói chẳng phải có ngã chẳng phải không có ngã. Chỉ đây là sự thật, ngoài ra đều hư vọng.

 

Tuy họ nói như vậy nhưng trong lòng rất xấu hổ, cúi đầu cam chịu, lửa buồn rầu đốt cháy trong tâm, muốn tìm nước uống nên đi đến ao. Trên đường, thấy họ, một hoàng-môn nói kệ:

 

    Ông đi một mình muốn đến đâu?

    Dáng như trâu thua bị gãy sừng,

    Không biết diệu pháp Phật Thích Ca.

    Thì như trâu hoang chạy vô định.

 

Nghe nói vậy, Bộ Kích Noa nói kệ đáp:

 

    Cái chết bên ta, đi về trước,

    Thân ta lê bước không còn sức,

    Luân hồi các hữu thọ khổ vui,

    Ta đang bỏ hết cầu nơi an.

    Mặt trời sáng chói nắng nóng bức,

    Thân tâm của ta đều mệt mỏi.

    Ngươi hãy thật lòng chỉ cho ta,

    Nơi nào có ao nước trong mát?

 

Nghe hỏi, Hoàng môn nói kệ đáp:

 

    Gần đây có ao nước trong mát,

    Nga vịt, hoa tươi mọc khắp nơi,

    Ông vì quá ác nên mù tối,

    Không thấy ao thơm nên hỏi ta.

 

Bộ Kích Noa nói kệ:

 

    Này kẻ phi nam phi nữ ơi,

    Sao không chỉ lối đến ao nước?

    Ta đang cần tìm ao nước mát,

    Mong cho thân tâm hết nóng bức.

 

Sau khi được Hoàng-môn chỉ đường, B? Kích Noa tìm đến ao nước, dùng vò đựng cát cột vào cổ trầm mình xuống nước mà qua đời.

 

Các đệ tử hỏi nhau rằng các vị có thấy Ô Ba Đà Da của tôi không. Họ đều nói không thấy. Họ lại hỏi nhau các vị có nghe Ôâ Ba Đà Da nói gì. Có người đáp rằng thấy nói thế gian đều thường, đây là sự thật, ngoài ra đều hư vọng ... .có người nói vô thường ... .nói vừa thường vừa vô thường ... nói chẳng phải thường chẳng phải vô thường ... có người đáp thấy nói hữu biên ... thấy nói vô biên ... thấy nói vừa hữu biên vừa vô biên ... thấy nói phi hữu biên phi vô biên ... nói đầy đủ như trước. Các đệ tử lại nói với nhau rằng quý vị nên biết những chủ thuyết này không giống nhau vậy chúng ta hãy tìm Thân-giáo-sư để hỏi sự thật.

 

Cùng nhau đi tìm, trên đường thấy đồng nữ đi lại, h? nói kệ hỏi:

 

    Hiền thủ, người có thấy,

    Đại sư Bộ Kích Noa,

    Thân không mặc y phục,

    Ăn bốc, đứng trên đất.

 

Nghe hỏi, đồng nữ nói kệ đáp:

 

    Họ là người địa ngục,

    Giang tay xin của người,

    Tay chân đều màu trắng,

    Thấy đang chìm trong nước.

 

Đệ tử nói kệ đáp:

 

    Ngươi đừng nói như vậy,

    Ấy là lời bất thiện,

    Dùng pháp làm y phục,

    Mâu Ny trú pháp này.

 

Đồng nữ nói kệ đáp:

 

    Trần truồng đi khắp nơi,

    Sao cho đó là trí,

    Khiến mọi người trông thấy,

    Chẳng có ý xấu hổ.

    Trơ mặt, bêu thân thể,

    Lại cho đó là pháp.

    Vua Tỳ Sa-môn thấy,

    Dùng đao chém không tha.

 

Nghe nói như vậy, các đệ tử im lặng bỏ đi, đến ao nước thấy thầy họ dùng bình cát cột cổ trầm mình chết. Trong đệ tử, những người ưa thích giới nói rằng đây là sự thật, ngoài ra đều hư vọng, nên cùng nhau dùng bình cát cột cổ trầm mình chết. Số người còn lại tứ tản khắp nơi, y chỉ ở vùng xa.

 

Khi Phật hiện đại thần thông như vậy, trời người đại chúng đều rất hoan hỷ.

 

CĂN BẢN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ

 

TỲ-NẠI-DA-TẠP-SỰ

 

Quyển thứ hai mươi sáu hết.

 

 

Quyển thứ hai mươi bảy

 

--- ooOoo ---

 

Tiếp theo tụng thứ tư trong biệt môn sáu: Thyết minh chuyện Đại Dược.

 

Bấy giờ, Thế Tôn dùng pháp vô thượng thần thông biến hóa lợi ích, chiến thắng làm cho các ngoại đạo thối lui đi trốn ở biên phương vì không còn gì để nói. Thấy sự việc như vậy, các Bí-sô đều có nghi ng?, thưa với Thế Tôn:

 

- Như Lai Đại sư dùng sức thần thông, đốt đuốc chánh pháp, phá cờ vọng kiến, chiến thắng bọn tà, thành tựu việc hiếm có. Lành thay! Bậc Đại thánh cao siêu đã thực hiện việc lợi ích lớn như vậy.

 

Thế Tôn bảo:

 

- Các ông nên biết! Hiện nay, Ta đã bỏ hẳn ba độc, đủ Nhất Thiết Trí, được đại uy lực, đến bờ giải thoát chứng quả Vô thượng, điều ngự hạng trượng phu làm Thầy của Trời người, làm cho những kẻ kia thối lui, chưa phải kỳ lạ. Vì sao? - Ta nhớ thời quá khứ khi chưa thoát ly dục nhiễm, sân hận, ngu si, sinh, lão, bệnh, tử, ưu bi, khổ não, còn đầy cả phiền trược, mà đã chiến thắng Lục-sư và quyến thuộc, làm cho họ không dám đối địch bỏ chạy đến biên phương cho đến tự trầm mình.

 

- Này các Bí-sô hãy lắng nghe. Thời quá khứ, nước Tỳ Đề Ê, vua hiệu Thiện Sinh dùng pháp trị nước ... nói đủ như các nơi khác. Phu nhân của vua rất xinh đẹp được vua rất sủng ái. Họ có một hoàng tử mà mọi người đều thích chiêm ngưỡng. Nhờ phước lực của hoàng tử, trong nước mưa gió thuận hòa, ngũ cốc phong phú, ăn uống dễ dàng. Sau hai mươi mốt ngày, triệu thân tộc đến làm lễ đặt tên, nhà vua suy nghĩ: "Con ta sinh ra, sự ăn uống dễ dàng vậy nên đặt tên nó là Túc ẩm thực (ăn uống đủ) và giao cho tám bà nhũ mẫu nuôi dưỡng đúng pháp.

 

Khi lớn khôn, hoàng tử thông thạo các kỹ thuật nghề nghiệp, dũng mãnh, trung hậu không ai hơn được.

 

Ỷ vào tài nghệ của con mình, đại phu nhân rất kiêu mạn, thường không tuân theo lệnh vua. Vì thế, vua có dáng buồn bã. Các đại thần thấy vua không vui, tâu:

 

- Hình như đại vương có tâm sự ưu tư?

 

Sau khi nghe vua nói rõ việc này, đại thần tâu vua:

 

- Nếu vậy, sao không cưới thêm người nhu hòa hiền đức làm cho đại phu nhân dần dần cũng hòa thuận theo.

 

Vua nói:

 

- Cưới ở đâu?

 

Đáp:

 

- Nên cưới vương nữ ở nước láng giềng.

 

Vua nói:

 

- Họ vốn có hiềm khích, làm sao cưới được?

 

Đáp:

 

- B?ng phương pháp khéo léo gây thân cận với họ. Đại vương hãy an tâm để thần đi quan sát.

 

Sau khi đến gặp quốc vương nước lân cận, đại thần xin cầu hôn. Nghe tâu, vua bảo đại thần:

 

- Muốn tính việc hôn nhân, trước phải cam kết không trái lời. Nếu con ta sinh trai phải lập làm tự quân (sẽ thừa kế ngôi vua), ta sẽ gả cho.

 

Đáp:

 

- Xin phục tùng lệnh vua.

 

Vua bảo:

 

- Khanh hãy về nước, báo cho vua biết, nếu đồng ý cam kết sẽ trở lại đây.

 

Đáp:

 

- Tính việc lập thái tử cho đất nước đều do đại thần, đã nói thành thật, nào dám hai lời.

 

Sau khi nghe đại thần báo tin, nhà vua tổ chức lễ cưới, tâm tình rất tương đắc với vương nữ.

 

Vua nói:

 

- Nàng rất hòa nhã nhu thuận vậy muốn cầu điều gì?

 

Vương nữ chắp tay thưa:

 

- Được đại vương ban ân, thiếp xin cho điều ước nguyện nếu sinh con trai thì được lập làm tự quân.

 

Nghe xin như vậy, vua sinh ưu buồn không đáp ngay vì nghĩ rằng nếu ta chấp nhận lời xin này thì vương tử dũng mãnh trung lương tài giỏi, tướng mạo tuấn tú không ai sánh được, sao lại bị phế bỏ để lập người khác; thật khó xử không biết theo ai.

 

Xem thần sắc, biết vua có điều ưu tư, đại thần tâu vua:

 

- Vì sao ngài có dáng buồn rầu?

 

Nghe vua kể lại sự việc, đại thần tâu:

 

- Việc này chẳng đáng lo. Trước đây khi cầu hôn, thần đã cam kết, nay nên tùy theo ý muốn của bà ấy chớ làm buồn lòng. Chẳng biết phu nhân có phải là thạch nữ hay không, giả như có sinh cũng chưa xác định trai hay gái, vua nên thuận theo.

 

Vua bảo phu nhân:

 

- Ta chìu theo ý nàng.

 

Sau đó không bao lâu, phu nhân sinh một trai tuấn tú dị thường. Sau 21 ngày, khi làm lễ đặt tên, thân tộc bàn bạc nên đặt đứa bé này tên gì. Vua nói:

 

- Đứa bé này chưa sinh đã cầu vương vị, nên đặt tên là Cầu Vương.

 

Đứa bé được giao cho tám bà nhũ mẫu phục vụ. Khi đã lớn khôn nhưng vua vẫn chưa tính chuyện lập tự quân. Nghi ngờ nhà vua bội tín, Phụ vương phu nhân sai sứ đến nhắc: trước đây có cam kết con ta sinh trai được lập làm tự quân, nay đã đúng lúc xin giữ lời hứa. Nếu không giữ lời, ta sẽ thống lĩnh bốn loại binh đến hỏi tội.

 

Nghe nói, kinh sợ không biết tính kế gì, vua rất ưu sầu. Thấy vậy, đại thần hỏi:

 

- Vì sao đại vương có sắc buồn?

 

Sau khi nghe vua nói, đại thần tâu:

 

- Đại vương, không còn kế nào khác, nên lập Cầu Vương làm thái tử, trừ khử vương tử Túc Thực.

 

Vua nói:

 

- Không nên nói việc phi pháp như vậy. Ta đã từng nghe con giết cha chứ chưa nghe cha giết con. Ta không thể làm việc bất nhân này.

 

Thần nói:

 

- Nếu không giết thì gây tàn hại.

 

Vua nói:

 

- Tàn hại khác gì giết chết!

 

Đáp:

 

- Nếu không như vậy thì đuổi đi xa.

 

Vua nói:

 

- Người lành vô tội, việc gì bị đuổi đi?

 

Đáp:

 

- Muốn tìm lỗi họ nào có khó gì, nhưng đại vương tạm lập vương tử làm tự quân, thái tử Túc Thực tự biết xử trí.

 

Bấy giờ, nhà vua chọn ngày tốt, lập Cầu Vvương làm thái tử. Biết ra, Túc Thực suy nghĩ: "Phụ vương đã bỏ ta, ở đây chắc bị giết". Đến gặp mẹ, Túc Thực trình bày ý này:

 

- Con muốn đến nước Bán Giá La để bảo tồn tính mệnh.

 

Nghe như vậy, như tên bắn vào tim, mẹ nhào đến ôm cổ con kinh hòang khóc lóc, nói kệ bảo con:

 

    Con thường nằm ngồi trên nệm cao,

    Thân mặc y phục đẹp thêu hoa,

    Làm sao cô độc qua nước khác,

    Nằm đất, áo xấu sống sao nổi.

    Ngủ thức, con luôn luôn an ổn,

    Cung mát, điện đẹp du ngoạn khắp,

    Làm sao chịu nóng lạnh đói khát!

    Phong sương tân khổ nơi hoang vắng.

    Cỡi voi đi ngựa ở vương cung,

    Cao lương mỹ vị ăn tùy thích,

    Y phục thượng hạng ngăn nóng lạnh,

    Vì sao vứt bỏ, đến rừng hoang,

    Trống nhạc đàn ca luôn hòa tấu,

    Làm cho người nghe sướng tinh thần,

    Mọi người kính ngưỡng theo hầu hạ,

    Lòng con buồn rầu muốn đi đâu?

 

Vương tử đáp:

 

    Ai hưởng an lạc mãi?

    Ai chịu gian khổ mãi?

    Ách nạn ai cũng có,

    Thua thế phải tùy thuộc,

    Hết khổ sẽ được vui,

    Như sao trời xoay chuyển,

    Hội họp sinh ưu khổ,

    Thế pháp là như vậy.

 

Sau khi dùng lời lẽ đau khổ như thế thưa với mẹ, vương tử từ biệt mẹ đi đến nước Bán Giá La. Sắp đến nước ấy, bị đói khát, vương tử nghỉ dưới gốc cây ven đường, nhìn bốn phương không biết tính sao nên nằm ngủ quên.

 

Nhân đi qua đó, đại thần nước Bán Gia La thấy hình dáng vương tử uy nghi khác thường nên đứng lại hồi lâu, gọi dậy hỏi:

 

- Người là ai, con nhà ai?

 

Đáp:

 

- Tôi là Túc Ẩm Thực con vua nước Ty Đề Ê.

 

Hỏi:

 

- Vì sao đến đây?

 

Sau khi nghe vương tử trình bày lại sự việc, cận thần biết rõ nên đưa đến gặp vua, tâu:

 

- Đại vương, đây là vương tử của Thiện Sinh tên là Túc Ẩm Thực. Do cha lập nhỏ bỏ lớn nên vương tử chạy đến đây.

 

Được nhà vua hỏi, vương tử kể lại sự việc. Nghe xong, nhà vua vui buồn lẫn lộn, hoan hỷ an ủi, ban đất đai và gả con cho.

 

Không bao lâu họ sinh một trai, dung mạo khả ái, ai cũng khen ngợi. Trong ngày sinh cả vương quốc ăn uống rất dễ dàng. Họ mời thân thuộc đến đặt tên. Đây là dòng dõi của vương tử Túc Thực, vừa sinh ra, ăn uống nhiều vậy nên đặt tên đứa bé là Đa Túc Thực. Em bé được vua giao cho tám bà nhũ mẫu nuôi dưỡng, lớn lên tài nghệ song toàn.

 

Chẳng may, vương tử Túc Thực qua đời. Người vợ thương nhớ đau buồn vô cùng. Thấy vậy, vua suy nghĩ: bản tính phụ nữ luôn nghĩ đến chồng. Ta hãy cải giá vương nữ cho đại thần và cho cháu đi theo.

 

Sau khi đến nhà kia, vương nữ thỏa mãn vừa ý nên không buồn nữa.

 

Gần nhà đại thần, có con gà ngủ trên cây. Thấy vậy, tướng sư nói:

 

- Người nào ăn thịt gà này sẽ được làm vua.

 

Nghe nói, không hỏi rõ với tướng sư, đại thần giết gà ấy, bảo vợ:

 

- Nàng hãy làm thức ăn, đợi ta ở triều về.

 

Khi phu nhân nấu chín gà, Đa Túc Thực từ trường về, không thâùy mẹ, đang đói bụng thấy nồi đang sôi, với ý nghĩ mẹ ta chưa về, hãy xem trong nồi có gì ăn không, thấy đầu gà liền bẻ ra ăn tạm. Khi về đến, mẹ hỏi:

 

- Con ăn chưa?

 

Nghe con nói vừa ăn đầu gà, mẹ cho ăn no rồi bảo đến trường.

 

Về đến nhà, đại thần bảo dọn ăn. Sau khi phu nhân dọn lên, thấy gà không có đầu, đại thần hỏi tại sao.

 

Phu nhân đáp:

 

- Con đã ăn rồi.

 

Ăn hết thịt được làm vua hay ăn một phần ít cũng được. Với suy nghĩ như thế, đại thần sinh ra nghi ngờ, đi ra đường hỏi tướng sư: trước đây, ngài dự đoán ai ăn thịt gà ấy sẽ được làm vua là ăn hêùt hay ăn một ít cũng được?

 

Đáp:

 

- Không cần hết, ăn đầu thì được. Nếu có người đã ăn đầu gà, giết người ấy lấy đầu ăn cũng được làm vua.

 

Nghe xong, đại thần suy nghĩ: nên giết đứa bé này lấy đầu ăn nhưng mẹ nó không biết thì thật khó làm.Vậy trước phải hỏi ý mẹ nó như thế nào?

 

Sau đó, nhân nói chuyện, đại thần hỏi đùa phu nhân:

 

- Giữa chồng và con, nàng muốn ai làm vua?

 

Nghe nói, người vợ sinh nghi ngờ nên suy nghĩ: "Nếu ta nói muốn con làm vua thì người này sẽ bỏ ta, vậy phải nói thuận theo hắn". Nghĩ vậy, vợ nói:

 

- Chỉ muốn chồng làm vua.

 

Người vợ thông minh tài trí nên dự đoán:

 

- Đại thần này vì cái đầu gà nên muốn giết con ta, trong lúc này ta phải đề phòng, nên tính kế trước chớ để người thân bị nguy hiểm.

 

Tại chỗ vắng, bà ta bảo con:

 

- Con ăn đầu gà nên cha muốn giết, hãy bỏ nước này đi đến nước Ty Đề Ê. Đó là nơi quê hương tổ tông của con, thân nhân quyến thuộc đều còn ở đó. Nếu con đến nơi, tất hưởng thọ an lạc.

 

Nghe dạy, con cố gắng tuân lời, từ giả mẹ đi Ty Đề Ê, khi sắp đến nơi, đói quá nằm ngủ dưới gốc cây.

 

Bấy giờ, bị bệnh nặng, vua Cầu Sinh qua đời. Theo luật pháp trong nước quy định từ xưa, nếu chưa lập vua mới thì xe tang vua cũ không được đi. Vua không có con, không biết lập ai, các quan cùng nhau bàn bạc: "Ai có thể làm vua, chúng ta sẽ tôn lên".

 

Các quan thấy một trượng phu kỳ vĩ dị thường hiếm có trong đời dưới bóng cây. Mặt trời tuy chếch qua nhưng bóng cây không nghiêng, mọi người trông thấy đều thán phục: Người đàn ông này tướng mạo xinh đẹp, không ai hơn được, bóng cây cố che lại, chắc chắn là bậc phi phàm, hãy gọi thức dậy. Bị đánh thức, vị này hỏi:

 

- Vì sao gọi tôi dậy?

 

Đáp:

 

- Ngài xứng đáng làm vua nên gọi dậy.

 

Nói:

 

- Phép tắc gọi vua dậy nào phải như vậy!

 

Mọi người hỏi:

 

- Phép ấy như thế nào?

 

Đáp:

 

- Trước hết tấu âm nhạc từ từ làm cho thức giấc.

 

Nghe nói, quần thần suy nghĩ: "Đây không phải con nhà nghèo, chắc chắn xuất thân từ nhà cao sang".

 

Họ cùng nhau hỏi:

 

- Ngài ở đâu là con nhà ai?

 

Tuy tuổi vừa 20 nhưng vương tử đã tráng kiện như sư tử vương, giọng nói trong vút, tự thuật về tổ tông cho mọi người biết:

 

- Tiên vương của tôi là Thiện Sinh, con ngài hiệu Túc Ẩm Thực, tôi là con của người. Sáu vị đại thần nghe nói đều vui mừng nói rằng chúng ta lại được vua cũ. Họ tổ chức nghi lễ, âm nhạc đầy đủ, người xe đông đảo đưa vương tử vào thành làm lễ quán đảnh lên ngôi trị vì trăm họ, trước đây tên Đa Túc Thực nay đổi là Toại Ẩn; do tông tộc được hưng thịnh trở lại nên lấy hiệu là Trùng Hưng.

 

Còn nhỏ tuổi nên vua bị quần thần xem thường ít khi thi hành mệnh lệnh. Vào ngày rảnh rỗi, nhà vua ra khỏi thành du ngoạn, thăm hỏi dân chúng trong các làng xóm, những phòng ấp này thuộc quyền của ai. Họ đáp đều là sở hữu của đại thần ...

 

Vua suy nghĩ: "Thành phố xóm lành đều thuộc đại thần. Tuy là vua, ta chỉ có cung điện và ăn uống, không có tài sản nào của quốc gia cả. Nếu họ làm trái hiến pháp thì làm sao đây?".

 

Biết ý nghĩ của vua, một thiên thần trên không trung nói:

 

- Vua không nên buồn, trong nước này có một thành phố tên là Mãn Tài. Trong thành có một người tên Viên Mãn, sẽ sinh con trai tên Đại Dược. Sau khi Đại Dược được dùng sẽ lo liệu cho vua, lâm sự xử đoán ai cũng tuân phục, vua rất khoái lạc thảnh thơi an tâm.

 

Khi ấy, vua sai sứ đến thành Mãn Tài, tìm hiểuViên Mãn hay không. Nếu có người ấy thì xem vợ ông ta có thai hay không.

 

Vâng lệnh, sứ giả đến thành kia tìm hiểu, gặp được chồng và biết vợ có thai nên về tâu lại:

 

- Việc này có thật, vợ ông ta đang có thai.

 

Nghe xong, vua bảo sứ giả Triệu Mãn Tài đến, khéo dùng lời phủ dụ, ban cho thành này và bảo:

 

- Vợ khanh có thai hãy nuôi dưỡng bảo hộ kỹ chớ để bị tổn thương.

 

Đủ ngày tháng, bà ấy sinh một bé trai hình dáng xinh đẹp không ai sánh được. Sau 21 ngày muốn đặt tên, thân tộc họp lại bàn nhau, không biết nên đặt tên cháu là gì?

 

Người mẹ nói:

 

- Tôi vốn bị bệnh sởi, hỏi khắp các thầy thuốc, tuy cho uống đủ các loại dược liệu nhưng không thuyên giảm, khi mang thai đứa con này, bệnh ấy không còn, vậy nên đặt tên nó là Đạ Dại Dược.

 

Người mẹ nói kệ:

 

    Chữa trị các bệnh hoạn,

    Đại Dược là hơn hết,

    Đây là thuốc hay nhất,

    Nên đặt tên Đại Dược.

 

Một hôm, người cha cõng Đại Dược đến ao để tắm, trên đường thấy xương cá cho là bảo châu nên lấy chân đá lật lên. Đại Dược nói kệ:

 

    Thấy xương cá dưới đất,

    Tưởng bảo châu, đá lên,

    Việc mình không chịu làm,

    Ráng tìm báu người rơi.

    Xương cá của người vứt,

    Đó chẳng phải bảo châu,

    Nào phải Tỳ Sa-môn,

    Mà vứt ngọc ngoài đường.

 

Đến ao, để Đại Dược trên bờ, người cha cởi y phục đi xuống nước, thấy cò trắng đậu trên lá sen, nghĩ rằng hãy bắt chim này. Thấy ông ta tiến sắp tới nơi, chim bay lên cao. Đại Dược nói kệ:

 

    Chim đậu trên lá sen,

    Thấy cha liền bay cao,

    Không nên đến gần trước,

    Để bắt sinh mạng họ.

 

Hôm khác, cõng Đại Dược đến sông Căng Già để tắm. Đến nơi, để con trên bờ, cởi y phục đi xuống nước, thấy bát lớn bằng đồng từ phía Đông trôi xuống, có chim Bạch Nga đậu ở trên, cha quái lạ không biết vật gì, nhìn lên hỏi con. Đại Dược đáp:

 

    Căng Già chảy về đông,

    Bát đồng trôi theo giòng,

    Bạch Nga đậu ở trên,

    Vật lạ gì mà trông!

 

Hôm khác, cha đi tắm mang Đại Dược theo để trên bờ như trước. Có bình rửa lớn và cỏ trôi nổi theo giòng nước, chim đậu ở trên, Đại Dược nói kệ với cha như trước.

 

Khi Đại Dược vừa tuổi thiếu niên cùng các mục đồng du ngoạn một nơi. Chúng bàn nhau: "Bọn ta không có chúa, nên tôn Đại Dược làm vua".

 

Sau khi được tôn lên, Đại Dược chọn những đồng tử khác làm phụ tá. Từ đó về sau, bè đảng ngày càng đông.

 

Bà-la-môn nọ cưới được vợ trẻ. Trên đường đi đến làng xóm khác, ông ta đi đến một rừng thưa để đại tiện. Một người to lớn đến hỏi người vợ:

 

- Người ấy là cha hay ông của cô?

 

Đáp:

 

- Không phải cha hay ông mà là chồng tôi.

 

Người to lớn nói:

 

- Cô không biết xấu hổ với bạn bè, trên đời này rất nhiều đàn ông tuấn tú, không thấy hay sao mà lại theo lão Bà-la-môn già ấy? Cô em xinh đẹp như hoa lại làm cho uổng phí đi, hãy bỏ lão ấy để làm vợ anh. Nếu lão già ấy đến tranh giành, giữa mọi người, cô hãy gọi anh là chồng.

 

Nghe theo lời, cô vợ liền đi theo người to lớn.

 

Sau khi đến ao rửa xong, tìm vợ không thấy, Bà-la-môn lên chổ cao nhìn kiếm khắp nơi, thấy họ dắt nhau đi nên vội chạy theo, đến nơi nắm lấy một tay vợ kéo lại. Người to lớn kia cũng lôi một tay.

 

Bà-la-môn nói:

 

- Ngươi trộm vợ của ta.

 

Kẻ kia nói:

 

- Ta xin thề đây là vợ ta, hoàn toàn không phải vợ ông.

 

Hai bên lôi kéo cãi lẫy nhau. Người kia trẻ khỏe nên kéo cô gái về phía mình. Tự biết sức yếu, mong có người giúp đỡ, đến nơi đồng trống Bà-la-môn kêu to:

 

- Giặc cướp vợ tôi.

 

Đang chơi ở trong rừng trống, nghe tiếng kêu mất vợ của người kia, các đồng tử thưa với Đại Dược:

 

- Ngài đã xưng vương, có tiếng kêu mất vợ là việc trái đạo lý, sao lại không cứu họ?

 

Nghe xong, Đại Dược bảo các đồng tử giữ ba người lại hỏi vừa rồi tranh nhau chuyện gì.

 

Bà-la-môn đáp:

 

- Tôi già cả không có sức bị giặc cướp vợ.

 

Giặc nói:

 

- Người này nói dối, thật sự là vợ tôi.

 

Đại Dược hỏi cô gái:

 

- Ai là chồng chị?

 

Cô ta chỉ tên giặc, bảo là chồng mình. Thấy ông Bà-la-môn đấm ngực đau buồn cào cấu dưới đất, Đ?i-dược muốn kiểm tra sự hư thật, hỏi thiếu niên:

 

- Người dẫn vợ từ đâu đến đây?

 

Đáp:

 

- Từ nhà vợ đến đây.

 

Hỏi:

 

- Ăn uống gì?

 

Đáp:

 

- Ăn canh thịt, cơm và rượu.

 

- Nếu vậy cho ta xem thức ăn để rõ hư thật.

 

Đại Dược nói xong lấy tay chọc vào miệng người kia chỉ có nước miếng trào ra chứ không có vật gì cả.

 

Hỏi Bà-la-môn:

 

- Ông từ đâu đến đây?

 

Đáp:

 

- Từ nhà vợ đến đây.

 

Hỏi:

 

- Đã ăn gì?

 

Đáp:

 

- Sữa chua và bánh thêm bột phục linh.

 

Nghe bảo hãy mửa ra, ông lão liền mửa ra đúng như lời nói.

 

Thấy vậy, Đại Dược biết tên trẻ là giặc cướp vợ ông già nên đánh hắn nhiều gậy, đào đất chôn đến tận cổ, lấy mật công viết trên trán: "Những kẻ cướp vợ hãy xem đây để liệu tội".

 

Như vậy, lần lượt có đến năm trăm tên trộm bò dê bị xử trị như vậy.

 

Bấy giờ, thành phố làng xóm trong nước đều bị sáu đại thần khống chế nên vua Trùng Hưng suy nghĩ: "Ta đang thế kém phải làm sao đây?".

 

Nhớ đến Đại Dược, muốn gặp nhau nên không bảo các quan, Vua tự dẫn quân đi đến thành Mãn Tài, để thăm cậu ta. Ngang qua nơi hiểm trở nghe có tiếng kêu lớn, nhìn khắp nơi không thấy có người, tả hữu của vua đi tìm chung quanh thấy năm trăm tên giặc bị chôn sống ló đầu lên, báo cho vua biết, đọc trên trán có chữ ghi là giặc.

 

Thấy vậy, vua hỏi:

 

- Ai gây khổ cho ngươi vậy?

 

Mọi người đáp:

 

- Đây là đồng tử Đại Dược làm theo đúng pháp, không phạt kẻ vô tội.

 

Vua khen tốt nhưng sinh tâm từ mẫn nên tha cho họ.

 

Nghe vua đem quân đến, Đ?i Dược cùng các đồng tử ai về chỗ nấy.

 

Trong thành Mãn Tài nghe vua sắp đến, dân chúng đều bày biện những vật tốt đẹp, mang bình vàng đựng nước và cờ lọng tràng phan ra khỏi thành nghênh đón. Sau khi ủy lạo, vua hỏi:

 

- Con của Viên Mãn tên là Đại Dược hãy mau đến đây.

 

Cha tâu vua:

 

- Đồng tử còn nhỏ chưa thể phụng mệnh.

 

Vua lại bảo:

 

- Cứ gọi đến đây.

 

Khi người cha dẫn lại, vua thấy đồng tử tướng mạo uy nghi tuấn tú lại có tài dũng lược nhưng vì còn nhỏ tuổi không thể giao phó công việc nên giao lại cho cha, kéo quân trở về thành.

 

Về đến thành, vua suy nghĩ: "Ta nên thí nghiệm tài trí mưu lược của đồng tử Đại Dược".

 

Vua sai sứ đến bảo Viên Mãn:

 

- Dùng cát vàng bện thành sợi dây dài một trăm khuỷu tay, mau đem lại đây.

 

Nghe sắc lệnh, Viên Mãn rất sợ hãi buồn bã vô cùng, mãi suy nghĩ lo lắng: "Từ xưa đến nay ta chưa từng nghe thấy sự việc lấy cát bện thành dây như vậy".

 

Thấy cha buồn lo, Đại Dược hỏi:

 

- Vì sao cha có sắc buồn?

 

Đáp:

 

- Vua bảo cha làm sợi dây bằng cát dài một trăm khuỷu tay, cha chưa từng nghe sự việc như thế này, chắc là dùng cách này gây tội cho ta.

 

Đại Dược hỏi:

 

- Sứ giả ở đâu cho con gặp để gửi lời về tâu với vua.

 

Khi cha bảo sứ giả đến, Đ?i Dược bảo sứ giả:

 

- Xin ngài giúp tôi tâu lên vua rằng tiểu thần quê mùa nên kiêùn văn thiển cận, lại không có mưu trí mong đoán được ý trời, không biết đại vương cần loại dây màu gì. Ngài ở đế đô nhiều người tài giỏi, xin ban cho một đoạn để làm mẫu. Chẳng phải đoạn ngắn trăm khuỷu mà đến ngàn tầm cũng làm xong.

 

Về triều, sứ giả tâu lại vua sự việc ấy. Vua hỏi:

 

- Đấy là lời nói của con hay cha?

 

Đáp:

 

- Là lời của Đại Dược.

 

Nghe xong, vua rất thán phục, nhớ lại lời nói của Thiên thần, nếu chính là sự thật, sẽ làm cho vua giành lại uy quyền bá vương trong nước.

 

Sau đó, vua lại sai sứ đến thành kia, bảo họ nấu cơm đem lại nhưng với điều kiện bằng gạo không được giả trong cối, không được một hạt bể, không được nấu trong nhà hay ngoài trời, khi nấu chẳng được bằng lửa hay khác lửa, khi đem cơm đến không đi trên đường hay chẳng phải đường, không đi bộ cũng không đi ngựa, không được thấy mặt trời cũng không chỗ bóng tối; người mang cơm chẳng phải nam hay nữ.

 

Mang lệnh vua, sứ giả đến thành Mãn Tài, sau khi thăm hỏi xong, đem lệnh vua ra báo cho Viên Mãn biết.

 

Nghe báo, ông ta rất kinh hoàng lo buồn. Thấy cha buồn, Đại Dược thưa:

 

- Vì sao cha có dáng buồn lo vậy?

 

Sau khi nghe cha nói, Đại Dược thưa:

 

- Việc này không đáng lo, con sẽ làm chu toàn.

 

Đại Dược đem lúa nếp ra, tập họp nhiều người dùng ngón tay bóc từng vỏ trấu nên gạo không bị nát. Khi đã có gạo, liền tìm chỗ nấu, bố trí nồi nấu ngay tại bên hiên ngoài cửa, ánh nắng gắt ở trên, dùng lửa đốt bên cạnh lấy nhiệt độ. Sau khi cơm chín, đến giờ mang cơm đi bảo sứ giả rằng đi một chân trên đường, một chân bên lề, đặt bồn cơm trên đầu che bằng dù lọng chẳng nắng chẳng tối, một chân mang giày, một chân đi trần, đây là chẳng phải đi chân không cũng chẳng phải đi xe, dùng người bị hoạn mang đi là phi nam phi nữ.

 

Mang cơm đến dâng lên, vua hỏi sứ giả, họ đáp lại đầy đủ, vua rất vui mừng hỏi:

 

- Ai bày ra vậy?

 

Đáp:

 

- Đại Dược.

 

Vua rất kinh ngạc bảo với sứ giả:

 

- Đại Dược có mưu lược sâu xa, có trí tuệ lớn, thông thạo các phương pháp, xem sách lược của cậu ta, thật có tài giúp đỡ vua.

 

Sau đó, vua lại sai sứ giả đến bảo với Viên Mõãn:

 

- Ta cần khu vườn đủ các rừng ao hoa trái xum xuê, hãy mau đem lại.

 

Sau khi sứ giả đến ra lệnh của vua, Viên Mãn lo buồn vì việc không làm được, khu vườn là vật vô tri không thể di chuyển, muốn đem đi làm sao được.

 

Đại Dược thấy cha buồn nên hỏi đáp như trước. Cha nói:

 

- Làm sao không buồn, vua đòi vườn ao, làm sao đem đi!

 

Đại Dược nói:

 

- Cha không cần lo, con sẽ làm hết cho vua vui mừng.

 

Cậu ta bảo sứ giả:

 

- Đã nhận lệnh vua nào dám không thi hành, nhưng ở xứ này vườn ao từ lâu đã quen thói hoang dã, hoàn toàn không biết nghi thức tới lui, nếu đến thành đô sợ có khinh suất. Cúi mong đại vương ban cho một vườn nhỏ tạm đến hướng dẫn để đi theo sau thì việc này mới thành.

 

Về triều, nghe sứ giả tâu lại đầy đủ, vua hỏi:

 

- Đấy là lời của ai?

 

Được sứ cho biết Đại Dược, vua rất kinh ngạc bội phục cho là kỳ lạ.

 

Sau đó, vua sai sứ đem đến giao năm trăm bò đực cho Viên Mãn nuôi để cung cấp sữa bơ cho vua, không được thiếu sót. Nghe sứ đến ra lệnh, ông ta rất lo buồn. Thấy cha như vậy, Đại Dược hỏi đáp như trước.

 

Cha đáp:

 

- Làm sao không buồn, vua đưa bò đực đến để lấy sữa bơ để cấp cho ngài, không đúng chỗ làm sao có được. Nếu không tuân lệnh vua tất bị tội nặng.

 

Đại Dược:

 

- Xin cha chớ lo, để con nghĩ kế làm cho vua đồng ý không thu sữa bơ.

 

Gọi hai cha con người kia đến, Đại Dược bày bảo:

 

- Người đến thành đô, theo dõi thời gian khi vua ra ngoài, đến nơi cách đó không xa lấy bát gỗ lớn độn vào bụng cha, che quần lên trên, lăn lộn dưới đất rên rỉ còn người lấy hương hoa cầu khẩn chư Thiên khắp mười phương xin hộ trì cho cha ngươi được sinh an ổn.

 

Sau khi nghe dạy, hai cha con cùng nhau đến đô thành, thấy vua sắp đi ra, liền đến nơi gần đó lần lượt làm theo lời dặn. Người con khóc lóc cầu khẩn chư Thiên:

 

- Xin các ngài từ bi làm cho cha của con được sinh an ổn.

 

Nghe lời như vậy, vua sai sứ đến hỏi vì sao nói thế. Đến nơi, thấy một người lăn lộn dưới đất, bụng phình to, kêu la rên rỉ, người con đang dâng hương hoa cầu khẩn chư thiên, sứ giả hỏi:

 

- Ngươi làm gì vậy?

 

Đáp:

 

- Vì cha tôi sắp sinh, đau đớn kêu la, nên tôi cầu khẩn chư Thiên ủng hộ.

 

Nghe sứ về báo lại, vua gọi cha con lại hỏi làm việc gì. Người con đáp rằng:

 

- Cha tôi muốn sinh nhưng không được nên rên la.

 

Nghe nói, vua cười nói:

 

- Ta chưa từng nghe đàn ông sinh con.

 

Người con nói:

 

- Đúng như vua nói, ngài biết đàn ông không thể sinh sản vậy vì sao giao năm trăm bò đực cho Viên Mãn để cung cấp sữa bơ? Có khi nào ngài nghe bò đực sinh con không; đã không sinh con, làm sao có sữa bơ?

 

Vua cười hỏi:

 

- Kế này của ai vậy?

 

Nghe sứ giả nói của Đại Dược, vua thán phục trí của cậu ta.

 

Sau đó, vua cùng đại thần bàn luận: "Đại Dược nhiều trí, ít người sánh bằng, nên dùng việc khác để thử xem tinh thần của cậu ấy bằng cách giao cho Viên-mãn một con la để nuôi giữ nhưng không được cột, không nhốt trong chuồng, không để đói cỏ mà thả tự do".

 

Đến thành kia, sứ giả giao La cho Viên Mãn, nói rõ lời của vua:

 

- Ông hãy nuôi dưỡng kỹ đừng cho chạy mất, nếu không y lệnh sẽ trị tội.

 

Nghe lệnh, Viên mãn đau đớn như tên bắn vào tim, suy nghĩ: việc khó thế này, trời không làm được huống chi con người.

 

Thấy vậy, Đại Dược hỏi cha và đáp như trước: cha đừng lo, con sẽ làm hết.

 

Ban ngày, Đại Dược thả chăn La trong ruộng, ban đêm lùa vào nhà. Nơi trống trải xa rộng không có cột dây, việc này thật khó làm. Đại Dược sai hai mươi người trông coi đến giữa đêm. Mỗi nhóm năm ngươì phối hợp nhau giữ dưới chân, một người cỡi lên, cùng nhau nắm giữ luân phiên trở lại. Sau khi theo lệnh vua âm thầm theo dõi xem chăn giữ như thế nào, sứ giả tâu lại sự việc. Vua nói:

 

- Nếu như vậy, con La không có đường chạy thoát, làm sao bắt tội?

 

Đại thần nói:

 

- Nên ra lệnh người biết cỡi, vào đêm khuya khi ngủ, lén cỡi la đi không cho ai biết.

 

Bị họ làm theo lời dặn, vào sáng mai, những người canh giữ báo cho Viên Mãn biết con La đã mất. Nghe như vậy, vì sợ mất mạng nên ông ta bị sợ hãi thiêu đốt trong lòng. Biết như vậy, sau khi suy nghĩ: như để chậm rãi mới tính kế được, gặp việc quá gấp trong lòng cũng bị trở ngại, Đại Dược thưa cha:

 

- Có một kế này nhưng làm hơi khó, nếu cha chịu đựng được sự mắc cở thì hy vọng thoát tội.

 

Cha nói:

 

- Chỉ mong thoát chết, chứ không từ chối việc gì cả.

 

Đại Dược liền cạo tóc cha thành bảy đường rồi lấy màu sắc xanh vàng đỏ trắng bôi trên thân, cỡi trên một con lừa đi đến đô thành, rao to rằng Đại Dược đang cùng cha đi đến, cạo tóc trang sức hình dáng thật là kỳ dị.

 

Nghe rao như vậy, vua và đại thần cùng nhau bàn luận:

 

- Đại Dược từ xa đến thật tốt, nhưng làm nhục cha mình thì vi phạm hiến pháp.

 

Vua cùng mọi người kéo nhau ra ngoài thành đón Đại Dược để xem hành động hư thật. Đến nơi, họ thấy đúng là sự thật.

 

Bấy giờ, đại thần tâu vua:

 

- Vì sao trước đây đại vương tuyên bố rằng Đại Dược thông minh mưu trí hơn người nhưng xem hành động này thật đê tiện làm sao!

 

Vua hỏi Đại Dược:

 

- Vì sao ngươi làm cho cha bị hủy nhục đến thế?

 

Đáp:

 

- Đại vương, thần cho là vinh chứ không biết đó là nhục. Thần có nhiều trí tuệ tài giỏi, nên lấy việc này dâng cho cha.

 

Vua hỏi:

 

- Trí của ngươi và cha, ai hơn thua?

 

Đáp:

 

- Thần hơn.

 

Vua nói:

 

- Ta chưa từng nghe con hơn cha. Con do cha sinh ra, nuôi dưỡng lao nhọc, do đó nên nói cha hơn con.

 

Đại Dược tâu:

 

- Xin vua xét kỹ cha với con, ai hiền hơn?

 

Vua và đại thần đều nói:

 

- Cha hiền hơn.

 

Đại Dược ra trước quỳ lạy tâu:

 

- Trước đây, ngài sai chăn con La nay đã chạy mất. Con lừa này là cha con La, theo lý thì nó hơn con La. Xin vua nhận lấy đừng trách phạt nữa.

 

Nghe nói như vậy, vua và đại thần thán phục mưu kế hiếm có trên đời. Rất vui mừng, nhà vua tổ chức lễ lớn phong làm đại thần. Tất cả việc nước đều giao cho quyết đoán, tiếng tăm ngày càng vang dậy, xét rõ nhiều việc, xa gần tin tưởng, ai cũng ca ngợi.

 

Có Bà-la-môn nọ sớm thông luận thư, vì lấy vợ nên chi dụng quá nhiều tài sản. Ngay sau đó, người này suy nghĩ: "Ta vì cưới vợ tốn kém quá nhiều làm cho tài sản trong nhà không còn gì, đang bị nghèo túng, làm sao sinh sống".

 

Ông ta đi đến nơi khác làm nghề huyễn thuật kiếm được năm trăm tiền vàng nên mang về nhà. Đến gần làng, ông ta suy nghĩ: vợ ta trẻ tuổi xinh đẹp, xa nhau đã lâu, trong nhà không có đàn ông, sẽ mặc tình hành động, chẳng biết tâm của nó có đáng tin hay không. Số tiền vàng này, ta không nên mang về.

 

Vào lúc hoàng hôn, ông ta đi vào rừng vắng, đào lỗ chôn số tiền này dưới gốc cây Đa Căn rồi trở về nhà cũ.

 

Trước đây, người vợ đã tư thông với người ngoài tên Thiện Thính (nghe rõ) nên đêm ấy dọn thức ăn ngon để sau khi dùng xong ở lại với nhau.

 

Đến nhà, Bà-la-môn gõ cửa kêu. Người vợ hỏi ra:

 

- Ai đó?

 

Đáp:

 

- Tôi là ...

 

Nghe báo tên, vợ vội dấu Thiện Thính dưới gầm giường rồi ra mở cửa, giả bộ vui mừng đưa chồng vào phòng, dọn thức ăn còn lại làm cho no nê.

 

Sau khi ăn, chồng suy nghĩ: "Hay là con này tư thông cùng người ngoài, vì sao ban đêm lại có thức ăn ngon thế này".

 

Vốn trực tính, người chồng hỏi:

 

- Hiền thủ! Hôm nay không phải ngày tốt cũng không phải lễ hội, vì sao có món ăn ngon như vậy?

 

Vợ đáp:

 

- Hôm trước, nằm mộng thấy thiên thần bảo chàng sắp về, biết vậy nên thiếp làm món ăn ngon chờ đợi.

 

Chồng nói:

 

- Ta thật có phúc, vừa sắp vềø nhà, đã được thiên thần báo cho biết.

 

Sau khi ăn uống, lúc nằm trên giường thăm hỏi nhau, vợ nói:

 

- Chàng bỏ em đi đã nhiều năm tháng vậy có tìm kiếm được tiền bạc gì không?

 

Đáp:

 

- Cũng được chút ít.

 

Vợ liền (dùng ám ngữ nói cho dưới giường nghe rằng Thiện Thính của em hãy biết số lượng ấy) hỏi:

 

- Đem về được bao nhiêu?

 

Đáp:

 

- Được năm trăm tiền vàng.

 

Hỏi:

 

- Để nơi nào mà không báo cho em biết?

 

Đáp:

 

- Hãy yên tâm, sáng mai sẽ đem về.

 

Vợ nói:

 

- Thiếp cùng chàng là một, tại sao phải dấu không cho biết.

 

Tính như ruột ngựa, chồng liền đáp:

 

- Để ngoài thành.

 

Vợ dùng ám ngữ nói:

 

- Thiện Thính của em hãy biết chỗ để hỏi.

 

- Để nơi nào?

 

Đáp:

 

- Dưới gốc cây Đa Căn trong rừng ... .

 

Vợ nói:

 

- Thánh tử đi đường khổ nhọc, hãy an nghỉ đi.

 

Biết chồng đã ngủ say, người vợ nói:

 

- Này Thiện Thính! Nghe thế nào hãy mau làm như vậy.

 

Chui ra khỏi giường, đi đến dưới gốc cây Đa-căn, Thiện Thính lấy tiền mang vềø nhà mình.

 

Sáng hôm sau, Bà-la-môn đi đến nơi dấu tiền, chỉ thấy hố không chẳng còn gì cả nên bứt tóc đấm ngực khóc lớn đi về nhà. Thân thuộc và người quen cùng nhau đến hỏi:

 

- Vì sao buồn khổ vậy?

 

Đáp:

 

- Tôi tìm kiếm rất lâu, khổ cực vô cùng mới được năm trăm tiền vàng, vào sau hoàng hôn hôm qua, lúc không còn ai đi lại, chôn nó dưới gốc cây ấy rồi trở về nhà ngủ. Nay đến đó lấy, nó đã bị giặc trộm mất.

 

Mọi người nói:

 

- Uẩn khúc này, người khác khó biết được, bạn nên hỏi Đại Dược. Ông ta có trí tuệ siêu tuyệt hơn người. Nếu nhờ cậy, bạn sẽ có tiền lại. Ngoài ra, tôi không còn biết cách nào nữa.

 

Vừa đi vừa khóc lóc, đến nhà Đại Dược, sau khi chào hỏi, Bà-la-môn đem sự việc trên thưa với vị này.

 

Vị này hỏi:

 

- Việc vừa rồi, ngài có nói với ai không?

 

Bà-la-môn để lại đầy đủ sự việc.

 

Sau khi nghĩ rằng chắc vợ ông ta tư thông với người ngoài, gây ra việc trái đạo lý này.

 

Đại Dược an ủi:

 

- Hãy tạm nhẫn nại, đừng lo buồn nữa, tôi sẽ tìm lại vật đã mất cho ông.

 

Đại Dược lại hỏi:

 

- Nhà ông có chó không?

 

Đáp:

 

- Có.

 

Ông hãy về nhà báo với vợ:

 

- Trước đây, trước tượng Đại Tự Tại Thiên, anh có nguyện rằng nếu được bình an trở về quê hương sẽ thỉnh tám vị Bà-la-môn để cúng dường. Em thỉnh bốn vị, phần còn lại để cho anh.

 

Sau khi nói với vợ như vậy, ông ta trở lại nói đầy đủ cho Đại Dược biết.

 

Đại Dược nói:

 

- Khi tám người ấy đến, đem một người ở nhà tôi đến đứng ở trước cửa. Lúc họ đi vào, bảo người này xem kỹ.

 

Đại Dược lại bảo người nầy:

 

- Ngươi hãy xem kỹ tám người Bà-la-môn ấy, người nào bị chó sủa, người nào chó không sủa vẫy đuôi chạy đến. Thấy hiện tượng ấy, ngươi nên ghi nhớ kỹ. Hãy bảo người vợ tự tay dâng thức ăn, ngươi xem kỹ đến chỗ người nào cô ta liếc ngó nói cười.

 

Nghe dạy như vậy, sứ giả đến nhà ấy, đứng ngay cửa. Tám người được thỉnh lần lượt vào nhà, đều bị chó sủa ngoại trừ khi thấy Thiện Thính nó liền ngưng sủa chạy đến đón trước, lên tiếng vẫy đuôi vui mừng. Bấy giờ, sứ giả ghi nhớ Thiện Thính. Trong lúc ăn, người vợ dọn thức ăn, đến chỗ Thiện Thính liếc mắt mỉm cười khác với những người kia.

 

Trở về, sứ giả kể lại đầy đủ cho Đại Dược. Nghe xong, búng tay nói:

 

- Lạ thật, vậy chính hắn trộm vật ấy rồi.

 

Đại Dược liền bảo sứ giả gọi Thiện Thính đến trách rằng:

 

- Lẽ nào Bà-la-môn có pháp trộm vật của người lấy làm của mình, người hãy trả lại vật ấy cho họ.

 

Đáp:

 

- Xin thề nặng là không lấy vật của người khác.

 

Bấy giờ, Đại Dược bảo sứ giả:

 

- Đây là kẻ ác, hãy nhốt vào ngục, tùy theo phép nước, trị cho thật đau khổ.

 

Nghe nói bị khổ hình nên rất sợ hãi, Thiện Thính thưa:

 

- Xin Đại thần cứu cho, tôi sẽ trả lại vật ấy.

 

Người này lấy số tiền vàng còn nguyên chưa mở ra, giao cho Đại Dược.

 

Sau khi được nhận lại số tiền vàng, Bà-la-môn vui mừng suy nghĩ: "Ta đã già cả, được lại tiền đã mất đều nhờ vào sức của Đại Dược vậy nên báo đáp ân nặng ấy".

 

Sau khi suy nghĩ, ông ta đem một nữa số tiền dâng cho Đại Dược. Nhận xong, Đại Dược phân phối hết, tuyên bố rằng ta cốt giúp người, nào phải cầu lợi riêng cho mình.

 

Bấy giờ, tiếng tốt của Đại Dược lan rộng, vua cùng quần thần nhân dân ... nghe biết như vậy đều nói:

 

- Chúng ta có phước nên được người tài giỏi này bảo hộ nên không bị xâm phạm oan uổng.

 

Có một người đi đến nước khác trở về chỗ ở cũ, nghỉ ngơi bên bờ hồ ngoài thành, lấy lương khô trong túi da ra để ăn, vội đi tiểu quên cột miệng túi lại. Có con rắn độc bò vào trong túi. Khi trở lại, người ấy không xem kỹ, cột túi lại mang về.

 

Tại ngoài cửa thành, gặp ông ta, tướng sư bảo rằng:

 

- Này anh kia, ta xem sắc diện anh sắp chết rồi.

 

Tuy nghe như vậy nhưng người kia vẫn không để ý. Đi một đoạn ngắn, vì hối hận không hỏi ra lẽ, anh ta suy nghĩ: ta nên đến hỏi Đại Dược trước, sau đó về nhà. Ông ấy nhiều trí tuệ sẽ giải quyết cho ta.

 

Anh ta mang cả túi lương khô đếùn nhà Đại Dược và trình bày sự việc.

 

Sau khi suy nghĩ ... hay là trong túi có rắn độc nên tướng sư nói như vậy, ngay giữa mọi người, Đại Dược bảo bỏ túi xuống đất, dùng gậy khều miệng túi ra. Từ trong túi, bò ra một rắn độc lớn phồng mang phun độc uốn thân phóng đi. Thấy vậy, mọi người đều thán phục cho là kỳ lạ.

 

CĂN BẢN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ

 

TỲ-NẠI-DA TẠP-SỰ

 

Quyển thứ hai mươi bảy hết.

 




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 1313)
Đức Phật A Di Đà tự thân có ánh sáng vô lượng, chiếu khắp cả mười phương mà không có vật gì có thể ngăn che. Vì vậy nên Phật A Di Đà có nghĩa là Vô Lượng Quang Phật.
(Xem: 1359)
Nguyên tác Hán văn: Tì-kheo Linh Diệu, tông Thiên Thai soạn - Dịch sang tiếng Việt: Thích Thọ Phước
(Xem: 1517)
Ngài Buddhaghosa sanh ra và lớn lên nước Magadha, thuộc Trung Ấn Độ, vào thế kỷ thứ V trong ngôi làng Ghosa, gần địa danh nơi đức Phật thành đạo Bodhigaya
(Xem: 1444)
Nghiên Cứu Về Kinh A Hàm (Ãgama, Sanscrist)
(Xem: 2106)
Ai nói như sau, này các Tỷ-kheo: "Người này làm nghiệp như thế nào, như thế nào, người ấy cảm thọ như vậy, như vậy".
(Xem: 1833)
Đây là những điều tôi nghe hồi Bụt còn ở tại tu viện Cấp Cô Độc trong vườn cây Kỳ Đà ở thành Vương Xá.
(Xem: 1809)
Vào thời Đức Thích-ca-mâu-ni, không có hệ thống chữ viết được phổ biếnẤn Độ. Do đó, những thuyết giảng của Ngài được ghi nhớ và ...
(Xem: 2110)
"Lại nữa, lúc bấy giờ Mahāmati thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, ngài đã từng dạy rằng: từ lúc Như Lai chứng nghiệm giác ngộ cho đến...
(Xem: 2553)
Kinh Địa Tạng là một trong các kinh Đại thừa được phổ biến rộng rãi trong quần chúng Việt Nam từ hơn nửa thế kỷ nay song song với các kinh Kim Cương, Di Đà, Phổ Môn...
(Xem: 3120)
Nguyên tác: Tôn giả Thế Thân (Acarya Vasubandhu) - Hán dịch: Tam Tạng Pháp sư Huyền Tráng; Việt dịch: Tỳ khưu Tâm Hạnh
(Xem: 1986)
No. 1613 - Nguyên tác: Tôn giả An Huệ; Dịch Hán: Tam Tạng Pháp sư Địa-bà-ha-la; Dịch Việt: Tâm Hạnh
(Xem: 2838)
Duy thức nhị thập luận, do bồ tát Thế Thân soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường... được thu vào Đại chính tạng, tập 31, No.1590.
(Xem: 2678)
Bồ-tát Trần Na tạo luận. Tam tạng Pháp sư Huyền Trang phụng chiếu dịch. Việt dịch: Quảng Minh
(Xem: 4569)
Nghe như vầy, một thời Đức Phật ở nước Xá Vệ ở vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc cùng chúng đại Tỳ Kheo năm trăm vị. Bấy giờ các thầy Tỳ Kheo...
(Xem: 2895)
No. 699; Hán dịch: Đời Đại Đường, Trung Thiên Trúc, Tam tạng Pháp sư Địa bà ha la, Đường dịch là Nhật Chiếu
(Xem: 3201)
Đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni, bắt đầu chuyển pháp-luân, độ cho năm vị Tỳ-Khưu là Tôn-giả Kiều-Trần-Như v.v... Sau cùng, Ngài thuyết pháp độ cho ông Tu-bạt-đà-la.
(Xem: 2358)
Kinh Phạm Võng nằm trong Đại Chánh Tạng, tập 24, ký hiệu 1484, gọi đủ là Phạm võng kinh Lô xá na Phật thuyết bồ tát tâm địa giới phẩm đệ thập
(Xem: 2979)
Phật thuyết-giảng Kinh Phạm-Võng để dạy về giới-luật, và các pháp cao-siêu vượt thoát được sáu mươi hai kiến-chấp vốn là các tà-kiến đã...
(Xem: 2569)
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana, vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc). Ở đây,,,
(Xem: 3127)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Kinh Tập, Kinh số 0434; Dịch Phạn - Hán: Tam Tạng Cát-ca-dạ, Dịch Hán - Việt và chú: Tỳ-kheo Thích Hạnh Tuệ; Hiệu đính: HT Thích Như Điển
(Xem: 2362)
Đời Đường, Thận Thủy Sa Môn Huyền Giác Soạn; Thánh Tri dịch nghĩa Việt và viết bài học giải...
(Xem: 2725)
Phật giáo được khai sáng ở Ấn-độ vào năm 589 trước kỉ nguyên tây lịch (năm đức Thích Ca Mâu Ni thành đạo), và đã tồn tại liên tục, phát triển không ngừng trên ...
(Xem: 3063)
Trong truyền thống Phật giáo Bắc truyền, Dược Sư là một bản kinh thường được trì tụng nhằm mục đích giải trừ tật bệnh, cầu nguyện bình an...
(Xem: 3101)
Thích-ca là phiên âm của tiếng Phạn. Phiên âm Hán Việt là Năng Nhân. Tức là họ của đấng hóa Phật ở cõi Ta-bà...
(Xem: 3989)
Kinh chuyển Pháp luân là bài thuyết Pháp đầu tiên của Đức Phật Thích-ca sau khi Ngài đã đắc đạo.
(Xem: 3524)
Ba Ngàn Oai Nghi Của Vị Đại Tỳ Kheo - Được xếp vào tập T24 - Kinh số 1470 - Tổng cộng kinh này có 2 quyển
(Xem: 3509)
Những gì xảy ra trong thế giới này đều bị qui luật Nhân quả chi phối. Mọi thứ xuất hiện ở đời đều có nhân duyên. Hạnh phúcthế gian hay Niết bàn của người tu đạo không ra ngoài qui luật ấy.
(Xem: 4028)
Satipatthana Sutta là một bản kinh quan trọng làm nền tảng cho một phép thiền định chủ yếu trong Phật giáo là Vipassana...
(Xem: 3401)
Kinh Tứ Thập Nhị Chương là một bài Kinh được truyền bá khá rộng rải ở các Tồng Lâm Tự Viện của Trung QuốcViệt Nam từ xưa đến nay.
(Xem: 3025)
Bản dịch này được trích ra từ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh Vol. 48, No. 2010. Bởi vì lời dạy của Tổ Tăng Xán quá sâu sắc, súc tích, và bao hàm trong 584 chữ Hán,
(Xem: 3903)
Dịch từ Phạn sang Tạng: Kluḥi dbaṅ-po, Lhaḥi zla-ba; Dịch Tạng sang Việt: Phước Nguyên
(Xem: 4605)
Trí Phật là trí Kim – cang, Thân Phật là thân Kim – Sắc, cõi Phật là cõi Hoàng – kim, lời Phật tất nhiên là lời vàng.
(Xem: 3549)
Bấy giờ Hòa Thượng Vakkali nhìn thấy Đức Phật đang đi đến từ xa, và ông đã cố gắng ngồi dậy.
(Xem: 5941)
Xin dâng hết lên Tam Bảo chứng minh và xin Quý Ngài cũng như Quý Vị tùy nghi xử dụng in ấn tiếp tục hay trì tụng cũng như cho dịch ra những ngôn ngữ khác...
(Xem: 5881)
Niệm Phật Tâm Muội do HT Hư Vân soạn, Sa môn Hiển Chơn dịch; Tọa Thiền Dụng Tâm Ký do Viên Minh Quốc Sư soạn, HT Thích Thanh Từ dịch
(Xem: 4020)
Khi Bồ-tát Quán Tự Tại hành sâu Bát-nhã Ba-la-mật-đa, ngài soi thấy năm uẩn đều KHÔNG, liền qua hết thảy khổ ách.
(Xem: 19948)
Viết ra các bài Phật học thường thức này, chúng tôi không có tham vọng giới thiệu toàn bộ Phật pháp và chỉ cốt giúp cho các bạn sơ cơ hiểu được một cách đúng đắn, đạo lý năm thừa trong Phật giáo mà thôi.
(Xem: 3439)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, Kinh văn số 1675. Tác giả: Long Thọ Bồ Tát; Sa Môn Sắc Tử dịch Phạn sang Hán; HT Thích Như Điển dịch Việt
(Xem: 6823)
Thuở đó đức Phật đang ngự tại rừng Ta-la-song-thọ, ở ngoại ô thành Câu-thi-na, thuộc lãnh thổ trị vì của bộ tộc Lực-sĩ.
(Xem: 4320)
Đức Thế Tôn từ nơi cung trời Đâu-suất sinh xuống thành Ca-duy, chán đời sống dục lạc ở vương cung, thành tựu đạo chơn thường dưới cội cây...
(Xem: 4176)
Kinh Rong Chơi Trời Phương Ngoại là một phẩm của Kinh Pháp Cú Hán tạng có tên là Nê Hoàn Phẩm. Nê HoànNiết bàn (Nirvana, Nibbâna).
(Xem: 3740)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, quyển thứ 32, luận tập bộ toàn, kinh văn số 1637. HT Thích Như Điển dịch
(Xem: 4058)
Đây là kinh Pháp Quán Phạm Chí. Khung cảnh dựng lên cho kinh cũng giống như khung cảnh của kinh thứ mười một...
(Xem: 5507)
Đại Chánh Tân Tu đại tạng kinh, quyển thứ 32, kinh văn số 1680, luận tập bộ toàn. HT Thích Như Điển dịch Việt
(Xem: 4268)
Một thời, đức Bhagavat trú tại Vārāṇasi, nơi xứ Ṛṣipatana, trong rừng Mṛgadāva. Bấy giờ, đức Thế Tôn nói:
(Xem: 3925)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh quyển 32, luận tập bộ toàn, kinh văn 1671; HT Thích Như Điển dịch sang tiếng Việt.
(Xem: 3994)
Kinh Bát Đại Nhân Giác này của Đại Sư An Thế Cao từ nước An Tức sang Trung Quốc vào thời Hậu Hán (năm 132-167 sau công nguyên) soạn dịch.
(Xem: 4091)
Năm nay (2016) trong chương trình của tôi, không dự định đi sang Úc, nhưng ngày 23 tháng 6 năm 2016 vừa qua...
(Xem: 4822)
Tôi được nghe như vầy: một thuở nọ, Đức Thế Tôn đang ngụ tại vườn Nai, ở Isipatana gần Bénarès. Lúc bấy giờ...
(Xem: 3610)
Nay ở nơi chư Phật Chắp tay kính đảnh lễ Con sẽ như giáo nói Tư lương Bồ-đề Phật.
(Xem: 4904)
Lúc bấy giờ, ngài Vô-Tận-Ý Bồ-Tát (1) liền từ chỗ ngồi đứng dậy trịch áo bày vai hữu (2), chấp tay hướng Phật mà bạch rằng:
(Xem: 4871)
Bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (Taisho Shinshu Daijokyo) xuất xứ từ thời Vua Taisho (Đại Chánh) ở Nhật Bản từ đầu thế kỷ thứ 20.
(Xem: 6509)
Có lẽ Lăng Già là một trong những bộ kinh phân tích cái Tâm một cách chi li, khúc chiết nhất trong kinh điển Phật giáo.
(Xem: 4711)
Tôi nghe như vầy. Có một lúc, Đức Phật đã sống ở gần Xá Vệ (Savatthi) trong Khu Rừng Kỳ Đà (Jeta Wood) ở tu viện Cấp Cô Độc
(Xem: 5550)
Đại Chánh Tân Tu Đại tạng Kinh, quyển thứ 32 thuộc Luận Tập Bộ Toàn. Kinh văn số 1641. HT Thích Như Điển dịch
(Xem: 4420)
Thưa Tôn giả Gotama, những ngày về trước, những ngày về trước nữa, rất nhiều Sa-môn, Bà-la-môn là du sĩ ngoại đạo ngồi...
(Xem: 4780)
Lời dạy của Đức Phật được kiết tập thành kinh điển và bảo lưu trong nhiều truyền thốngbộ phái Phật giáo.
(Xem: 16768)
Toàn bộ Đại Tạng Kinh tiếng Việt trên 203 tập đã dịch và in xong...
(Xem: 5361)
Như vầy tôi nghe: Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, ngôi vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ...
(Xem: 5610)
Nếu thấy thân người nữ Cùng với vẻ diễm kiều Người ngu không biết rõ Vọng sinh ý dâm nhiễm.
Quảng Cáo Bảo Trợ