Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sitemap Hoavouu.com
Bài Mới Nhất trang Văn Học
Điền Email để nhận bài mới
View Counts
20,308,883

Giàu CóHạnh Phúc

Wednesday, June 29, 201616:46(View: 5354)
Giàu Có Và Hạnh Phúc

GIÀU CÓHẠNH PHÚC

Liên Trí

GIẦU CÓ VÀ HẠNH PHÚC

 

Thông thường, rất nhiều người trong chúng ta nghĩ rằng một người giàu có thường là người hạnh phúc, hay ít ra, họ dễ có cuộc sống hạnh phúc hơn người khác. Vì tin như thế, trong cuộc sống, chúng ta lao vào làm giàu và làm giàu không mệt mỏi để thực hiện khát vọng hạnh phúc của mình. Thế nhưng, kết quả nghiên cứu trong nhiều năm qua cho thấy rằng, sự thật không hẳn như vậy.

Trong một nghiên cứu ở Mỹ, Easterbrook (2003) cho thấy rằng mặc dù với thu nhập cao hơn, các dịch vụ y tế tiện nghi hơn và giáo dục ngày càng tốt hơn so với những năm trước, người ta vẫn cảm thấy rằng họ kém hạnh phúc hơn trước. Như vậy, sự giàu có về của cải vật chấtyếu tố cần thiết để duy trì cuộc sống cho tất cả con người chúng ta, nhưng nó không đủ để đảm bảo một cuộc sống hạnh phúc.

Người kỳ công nghiên cứu trong nhiều thập niên về lĩnh vực này là Easterlin. Trong một thời gian dài (từ năm 1974 đến năm 2003), Easterlin đã thực hiện 30 nghiên cứu thống kê ở 19 nước và đi đến kết luận rằng, khi những nhu cầu căn bản như ăn, mặc, ở và y tế được đáp ứng, sự giàu có không liên quan đến mức độ hạnh phúc trong cuộc sống. Kết quả các nghiên cứu này tưởng chừng khó tin đối với nhiều người trong chúng ta khi kết luận rằng sự giàu có không đảm bảo cho chủ nhân nó một đời sống hạnh phúc.

Tại sao giàu có chưa chắc đem lại hạnh phúc?

Một số nghiên cứu khác cũng đưa ra kết quả tương tựcố gắng tìm nguyên nhân để lý giải tại sao người lắm tiền nhiều của lại không có hạnh phúc. Theo nghiên cứu của Argyle (1999), những người giàu thường có ham muốn giàu có hơn và chính lòng ham muốn ấy làm cho họ ít được hạnh phúc trọn vẹnbền vững.

Duesenberry (1949) làm một cuộc khảo sát, lấy ý kiến trong công chúng ở Mỹ vào thập niên 40 của thế kỷ XX, kết luận rằng những người có thu nhập cao có động cơ phải có thu nhập cao hơn nữa mới có thể làm cho những người thân trong gia đình hạnh phúc. Đồng thời, họ cũng có tâm lý bất an thường trực trong tâm, khi đồng hóa chính bản thân mình với của cải vật chất và bao phủ mình với những thứ hào nhoáng bên ngoài để tạo hình ảnh giàu có trong mắt người khác. 

Veblen (1967) thực hiện một nghiên cứukết luận rằng, người giàu có coi việc tiêu xài là một tiêu chí để xác định vị trí xã hội của mình. Vì sĩ diện, sự cạnh tranh trong mua sắm và chi xài của những người có thu nhập cao cũng tạo nên tâm lý không bình an cho những người dư ăn dư để này. Mấy thập niên sau, trong một thống kê của mình, Schor (1998) cho thấy rằng, hơn nửa dân số Mỹ, nơi số lượng người giàu có nhiều nhất thế giới, nói rằng họ không thể nào thỏa mãn được mọi thứ họ cần và họ cảm thấy không có hạnh phúc trọn vẹncảm giác ‘chưa đủ’ này.

Những công trình nghiên cứu được trưng dẫn ở trên cho chúng ta một kết luận thuyết phục rằng, sự giàu có không đủ để đảm bảo một cuộc sống bình anhạnh phúc. Với mớ của cải vật chất dù rất nhiều trong tay, người giàu vẫn không hạnh phúc. Trong khi người nghèo thiếu hạnh phúc vì các nhu cầu căn bản để duy trì sự sống chưa được thỏa mãn, người giàu, những tưởng họ hạnh phúclắm tiền của, thì lại khổ vì lòng mong cầu không biết đủ. 

Chính lòng ham muốn làm cho con người khổ. Đây là ‘căn bệnh’ khó chữa và nếu để tâm lý này phát triển tự nhiên, nó sẽ không có giới hạn mà ta quen gọi là “lòng tham vô đáy”. Người bị tâm tham thúc bách không thể nào nếm được hương vị hạnh phúc thật sự dù sống trên cả núi vàng. Ham muốn của con ngườimuôn thuở và không bao giờ được thỏa mãnchính tâm lý ‘không thỏa mãn’ làm con người cứ mãi khổ đau và bất an. Chỉ khi nào ý thức được hạnh phúc tỷ lệ nghịch với lòng ham muốn, con người mới biết cách tạo dựng hạnh phúc cho mình.

Khéo thọ dụng để được hạnh phúc

Những kết quả nghiên cứu này hoàn toàn phù hợp với lời Đức Phật dạy cách đây hai mươi sáu thế kỷ, rằng “các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều, do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn” (Trung bộ kinh số 22: Kinh ví dụ con rắn). Đức Phật dùng nhiều ví dụ rất sinh động để diễn tả sự khổ đau do tâm tham dục gây nên: ham muốn được ví như khúc xương, như miếng thịt, như bó đuốc cỏ khô, như hố than hừng, như cơn mộng, như vật dụng cho mượn, như trái cây, như lò thịt, như gậy nhọn, như đầu rắn. Sẽ không có ấn tượng nhiều nếu chúng ta chỉ đọc qua mười hình ảnh này. Tuy nhiên, khi phân tích kỹ, chúng ta thật ấn tượng đến mức nó đủ mạnh để đánh động tâm lý của mỗi người, dần nhẹ bớt và bỏ đi tham dục nếu muốn có được hạnh phúc thật sự.

- Các đối tượng của ham muốn như khúc xương: Qua sớ giải kinh Trung bộ, chúng ta hiểu hơn về cách sử dụng hình ảnh minh họa của Đức Phật. Khi dùng hình ảnh khúc xương để ví cho ham muốn, Đức Phật muốn chúng ta cảm nhận sự vô dụng, vất vả và hoài công của một con chó đói lả và suy nhược ôm gặm một khúc xương đã lóc sạch thịt, chỉ còn xương trắng, dính tí máu và bay chút mùi thịt còn sót lại. Cứ thế, con chó gặm tới, gặm lui, lật qua, lật lại khúc xương đến mệt nhoài mà không no được tí nào. Dù vậy, con chó không thể quăng đi khúc xương. Nó có một sự hấp dẫn mà con chó không dễ dàng từ bỏ. Người nhiều ham muốn cũng vậy. Bản chất của ham muốn là khổ đau chứ không phải hạnh phúc, vậy mà con người không biết buông bỏ đúng pháp để có hạnh phúc.

- Các đối tượng của ham muốn như miếng thịt: miếng thịt là đối tượng để tranh giành và là nguồn gốc của hiểm nguy, đau khổ. Khi một con chim giành được miếng thịt liền muốn giữ lấy cho riêng mình mà bay bổng lên không trung, trong khi những con chim khác cũng đang cố tìm mồi. Vì vậy, chúng đuổi theo để tranh giành miếng thịt. Chúng đánh nhau, cấu xé lẫn nhau, để được miếng mồi, bất chấp nguy hiểm, thương vong, thậm chí đổi lấy tính mạng cốt chỉ để giữ được miếng mồi và đoạt được miếng mồi. Ở con người cũng vậy, mọi tranh giành quyền lợi cá nhân cho đến chiến tranh xảy ra đều bắt nguồn từ lòng tham. Mọi xung đột với nhau, chiến tranh và chết chóc không ngừng xảy ra trên cuộc đời này khi con người còn khát vọng chiếm hữu sai lầm và ngỡ rằng nếu thành tựu, họ sẽ có hạnh phúc. An lạc, hạnh phúc chỉ có mặt trên thế giới này khi và chỉ khi con người bỏ đi quan niệm sai lầm rằng hạnh phúc có thể tìm thấy từ sự chiếm hữusở hữu vật chất, cũng như con chim chỉ được yên thân khi nó vứt bỏ được miếng mồi kia, đó là thông điệp của Đức Phật trao gởi qua ẩn dụ này.

- Các đối tượng của ham muốn như bó đuốc cỏ khô: cỏ khô là vật liệu rất dễ gây cháy, bắt lửa mạnh. Một người cầm bó đuốc cỏ đang cháy rực mà đi ngược gió thì rất là nguy hiểm, lửa sẽ tạt vào phía mình và người ấy đã bị cháy tay, cháy mặt và các bộ phận khác, bỏng nặng và có thể dẫn đến tử vong. Người không có trí tuệ, tham đắm dục lạc cũng như vậy, tự rước họa vào mình, đến khi nhận ra vấn đề thì đã quá trễ.

- Các đối tượng của ham muốn như hố than hừng: Ẩn dụ này được giải thích tỉ mỉ ở kinh số 75: kinh Magandiyacủa Trung bộ kinh, rằng có một người bị bệnh cùi thân thể lở lói, các loài trùng đục khoét các vết thương. Để dịu đi cơn ngứa, người này hơ đốt thân mình trên hố than hừng cháy, nhờ đó cảm thấy dễ chịu, thỏa thích, đã ngứa. Tuy nhiênnguyên nhân ấy mà các vết thương càng đau nhức, càng lở lói và không thể nào lành được, bệnh tình người ấy sẽ trở nên trầm trọng suýt chết và cũng có thể dẫn đến cái chết. Sự thỏa thích dễ chịu nhờ hố than hừng như vậy đã đồng nghĩa với sự hiểm nguy. Người lòng nhiều ham muốn thì “càng thâu càng đắm, càng làm càng say” (Ni trưởng Huỳnh Liên- Thân) mà không hề ý thức được đó là nguồn gốc của khổ đau.

- Các đối tượng ham muốn như giấc mộng: những gì ta thấy trong mơ thường đẹp đẽ, lung linh, khi thức giấc thì thực tế không còn gì. Ham muốn vật chất chẳng khác nào chơi trò cút bắt và cái ta được là cái bóng của hạnh phúc cứ vờn trước mặt, còn mình thì mệt nhoài và cái kết là đắng cay đau khổ.

- Các đối tượng ham muốn như vật mượn xài: vật đi mượn để dùng xài rồi phải trả, khi trả xong, không còn gì là của mình. Nếu ai lầm chấp vật mượn là của mình, sẽ hụt hẫng, khổ đau. Nếu chấp vật chất thế gian là của mình, một khi vô thường biến hoại diễn ra, ta chịu nhiều đau khổ, căng thẳng, bất ansầu muộn.

- Các đối tượng ham muốn như trái cây: trái cây thu hút nhiều người đến, thế là họ thi nhau hái bằng mọi cách, rồi họ mang theo cả rựa, búa chặt luôn cả cây để hái được nhiều trái, rồi nhánh cây, gốc cây bật đè bị thương, gãy tay gãy chân, có khi đến chết. Sự ham muốn trái cây không hề đem lại cho người ham muốn chút an ổn nào cả. Người đam mê dục lạc cũng tự chuốc lấy nguy hiểm, bất anđau khổ.

- Các đối tượng ham muốn như lò thịt: nơi lò thịt, bao con vật bị kết liễu cuộc đời mà trước đó chúng không hề được báo trước. Những con vật sắp vào lò vẫn vui với những hạt lúa, hạt bắp, hay bữa ăn rau cám mà không biết khi nào mạng sống mình bị đoạt mất. Con người trong cuộc đời này cũng thế, đam mê dục lạc đến mức không hề hay biết vô thường không hẹn trước. Khi đối mặt với cái chết thì mọi thứ quá muộn màng, chút niềm vui tạm bợ mong manh do dục lạc đem lại không đủ giúp chúng ta vượt qua khổ đau của một kiếp người.

- Các đối tượng ham muốn như gậy nhọn: cây gậy nhọn có nhiều tác dụng trong cuộc sống, thế nhưng nếu không cẩn thận, sơ sẩy một tí thì chính chiếc gậy đó trở lại gây họa cho mình, ví như sử dụng xà beng, càng bén càng dễ đào đất nhưng gây thương tích càng nguy hiểm nếu bất cẩn. Khi thọ dụng các món vật chất, cần thận trọng nếu không muốn chuốc lấy khổ đau lâu dài vì chúng nguy hiểm như gậy nhọn.

- Các đối tượng ham muốn như đầu rắn: ví dụ này được giải thích rất kỹ trong chính bài kinh này. Một người nông dân tìm bắt con rắn nước, do không bắt ở đầu mà bắt ở đuôi hay ở thân giữa nên bị con rắn nước cắn lại người đó đến nỗi bị thương, và có thể nguy hiểm đến tính mạng. Chính vì bắt rắn không đúng phương pháp mà dẫn đến điều đáng tiếc trên. Dụ này dùng để chỉ cho việc thọ dụng dục lạc cần phải có một lập trường, một phong thái, một phương pháp đúng đắn mới không bị dục lạc nắm lấy vị trí làm chủ quay lại hại mình.

Những ví dụ điển hình trên đây cho ta ý niệm rằng, chúng ta vẫn có thể sử dụng những món vật chất thế gian khi có nhu cầu, nhưng cần phải chánh niệm đừng để tâm tham dục trỗi dậy, điều động và chi phối, mà chỉ xem đó chỉ là phương tiện để nuôi thân, để bảo dưỡng tâm và có đủ điều kiện để tiến bộ trên con đường trau giồi tâm linh. Sau mỗi ví dụ, Đức Phật đều nhấn mạnh rằng “do vậy, các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hiểm còn nhiều hơn” để mỗi hành giả khắc ghi điều này trong cuộc sống khi thọ dụng các phương tiện đáp ứng nhu cầu của con người mà vẫn thong dong tự tại. Hạnh phúc không phải do từ bên ngoài đi vào mà được chiết xuất từ bên trong mỗi con người vậy.

Hạnh phúc đích thực đến từ nội tâm

Trong cuộc sống, cái mà con người thực sự cần là hạnh phúc, chứ không phải tài sản. Hạnh phúc là một cảm nhận hoàn toàn chủ quan, được thể hiện qua sự hài lòng, thanh thản, bình yên, chứ không cần quá nhiều tiền bạc vật chất bên ngoài. Để có hạnh phúc, chúng ta cần một đời sống tâm linh phong phú để biết điều phục tâm, tiết chế trong các ham muốn phàm tình, để khi thọ dụng vật chất, không để tâm dính mắc. Đức Phật dạy, không thể tìm thấy hạnh phúc từ lợi dưỡng thế gianhạnh phúc ở ngay trong tâm mỗi con người:

Khó nắm giữ, khinh động,
Theo các dục quay cuồng.
Lành thay, điều phục tâm,
Tâm điều, an lạc đến.
(Pháp cú câu 35)

Ai sớm nhận ra điều này thì ngay lúc ấy, họ nắm giữ chìa khóa để mở cánh cửa hạnh phúc đời mình.

Trên quan điểm này, người dân xứ Bhutan, một đất nước chịu ảnh hưởng sâu sắc truyền thống Phật giáo, thay vì coi GNP (tổng thu nhập quốc gia) là tiêu chí, đã đánh giá sự phát triển của đất nước này bằng một tiêu chí khác là GNH (tổng hạnh phúc quốc gia). Người Bhutan quan niệm rằng một đất nước phát triển là một nước mà người dân có được hạnh phúc. Ý niệm này đã có mặt trên đất nước Bhutan nhỏ bé từ nhiều thế kỷ trước, nhưng phát triển ý tưởng này thành khái niệm ‘tổng hạnh phúc quốc gia’ là sáng kiến của vua Jigme Singye Wangchuck vào năm 1972. 

Khái niệm ‘hạnh phúc’ này được thẩm định trên các yếu tố khách quan và chủ quan, căn cứ trên bốn lãnh vực gồm (i) sự phát triển kinh tế xã hội, (ii) kế thừa và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc, (iii) tôn trọng tất cả các sinh vật, bảo vệ và sống thân thiện với môi trường, và (iv) tổ chức quản lý xã hội để đảm bảo sức khỏe và tuổi thọ cá nhân. Chỉ khi nào có sự phát triển cân đối hài hòa bốn yếu tố này trong cuộc sống, con người mới có được hạnh phúc thật sự và bền vững. Như vậy, sự phát triển kinh tế xã hội, với người dân Bhutan, chỉ là một trong bốn tiêu chí của một cuộc sống hạnh phúc. Giàu có, với họ, vẫn chưa đảm bảo cuộc sống hạnh phúc cho từng cá nhân cũng như cho quốc gia.

Thấm nhuần triết lý Phật giáo trong nếp nghĩ và cách sống của mình, người Bhutan đã có ý thức rất rõ việc bảo vệ và phát triển đất nước nhỏ bé xinh đẹp của họ theo một tiêu chí toàn diện, đa phương bao gồm nhiều phương diện trong cuộc sống chứ không chỉ phát triển kinh tế. Do đó, mặc dù người dân Bhutan còn nghèo về vật chất, họ hài lòng với một cuộc sống mà quan niệm hạnh phúc không chỉ đo lường bằng kinh tế. Mặc dù khổ đau luôn tồn tại ở nhiều hình thức và mức độ khác nhau như là một phần của cuộc sống, người dân Bhutan tìm hạnh phúc trong cuộc sống hài hòa giữa nội tâmngoại cảnh, giữa kinh tế, xã hộivăn hóa tâm linh

phạm vi cá nhân, mỗi người đều có thể kiến tạo cho mình một cuộc sống hạnh phúc trên cơ sở bốn tiêu chí nêu trên của người Bhutan. Từ kết quả nghiên cứuthực tế ở đất nước Bhutan, chúng ta có thể nói rằng, khi tâm con người hướng ngoại với tham vọng chinh phục, hạnh phúc xa vời tầm tay dù giàu có

Ngược lại, khi biết hướng vào nội tâm, lấy đời sống tâm linh làm nền tảng để điều chỉnh những ham muốn của mình, biết hài lòng với những gì họ đang có và nối nhịp cầu hài hòa giữa con người và môi trường thiên nhiên cũng như môi trường văn hóa xã hội, họ có thể tạo dựng cuộc sống hạnh phúc lâu dài. Giáo lý Phật giáo về nhân quả, duyên sinhvô thường đã giúp chúng ta hiểu rằng, để có được hạnh phúc thật sự, con người cần phải quay về với bản tâm của mình để có sự bình an nội tại và đặt mình trong mối tương duyên với tất cả các sự vật hiện tượng bên ngoài.

Kiến tạo hạnh phúc đích thực

Khái niệm hạnh phúc của người Bhutan giúp chúng ta suy nghĩ lại rằng, khi người ta đồng hóa hạnh phúc với của cải vật chấtcố công đi tìm thứ hạnh phúc ấy thì oái oăm thay, càng tìm kiếm, hạnh phúc càng xa vời. Nhiều người giàu có, nếu chịu khó suy nghĩ, trong những thăng trầm của cuộc đời, sẽ thấm thía nỗi đau nhân thế và cảm nhận sâu sắc những bất hạnh của người giàu. Có khi tự nghiệm bản thân cùng những mối quan hệ xã hội xung quanh, người trong cuộc cũng có thể nhận ra sự khổ đau và bất hạnh lồ lộ ngay khi vầng hào quang của tiền bạc danh vọng vẫn còn đang tỏa sáng.

Cuộc sống hiện tại đang thay đổi quá nhanh, xu hướng chuộng vật chất như là một trào lưu đang tạo ra những hiểm họa khôn lường mà toàn xã hội đã và đang lên tiếng báo động. Với con người, kinh tế và văn hóa đều cần thiết như hai cánh của một con chim. Chim muốn bay xa và an toàn thì cần cả hai cánh, người muốn hoàn thiệnhạnh phúc không chỉ phát triển kinh tế mà cần phát triển văn hóa, nhất là văn hóa tâm linh. Mỗi cá nhân đều chịu trách nhiệm như một kiến trúc sư của chính cuộc đời mình để trọn quyền quyết định hạnh phúc hay khổ đau cho bản thân

Người Bhutan đã biết sống theo triết lý đạo Phật để được hạnh phúc, dù họ chưa giàu có về kinh tế. Tại sao chúng ta lại không áp dụng tinh thần đạo Phật để cuộc sống thêm ý nghĩathanh thoát hơn? 

 Liên Trí

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

Argyle, M. (1999). Causes and correlates of happiness. In D. Kahneman, E. Diener & N. Schwarz (eds). Well-Being: The foundations of hedonic psychology. New York: Russell Sage.

Duesenberry, J. (1949). Income, Savings, and the Theory of Human Behavior. Cambridge, MA: Harvard University Press.

Easterbrook, G. (2003). The Progress paradox: How life gets better while people feel worse. New York: Random House.

Easterlin, R. A. (1974). Does economic growth improve the human lot? Some empirical evidence. In P. A. David & M. W. Reder, eds., Nations and households in economic growth. New York: Academic Press.

Easterlin, R. A. (2003). Explaining happiness. Proceedings of the National Academy of Sciences100 (19), 11176–83.

Schor, J. (1998). The Overspent american: why we want what we don’t need. New York: Basic Books.

Veblen, T. (1967). The Theory of the leisure class. New York: Viking Penguin.

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
(View: 37)
Đã có quá nhiều bài trên các trang mạng nói đến chính giáo và tà giáo. Đứng góc độ nào để phân biệt chính và tà?
(View: 82)
Theo Phật giáo, nghiệp là hành động có tác ý, chủ ý của thân (Kāya, 身), khẩu (Vacī, 口), ý (Mano, 意).
(View: 82)
“Lại nói: Ta vừa khởi một tâm thì nó đã thuộc về quá khứ. Tâm ta chưa khởi mới gọi là vị lai. Chẳng phải tâm vị lai tức là tâm quá khứ, tâm hiện tại lại ở tại chỗ nào.
(View: 102)
Phàm ở đời, những ai muốn xây dựng sự nghiệp lớn, đều phải có đức nhẫn nhục để vượt qua bao lần thất bại mới đạt được thành công.
(View: 123)
Giữa tâm điểm đại dịch COVID-19 diễn ra một cách phức tạp trong đời sống thực tiễn không chỉ ở nước ta mà khắp cả các nước trên hành tinh này,
(View: 135)
Muốn ít và biết đủ tiếng Hán gọi là “Thiểu dục-Tri túc”. Đây là hai khái niệm Phật học được đề cập nhiều trong Kinh tạng, Luật tạng cũng như trong Tạng vi diệu pháp.
(View: 158)
Một người khi sắp mạng chung, hành trang để đi đến đời sống khác chắc chắn không phải là tiền bạc, danh vọng mà đó chính là nghiệp thiện hay ác của chính mình.
(View: 182)
Dzongsar Khyentse Rinpoche lấy phim làm một ví dụ cho lời dạy của Đức Phật về luân hồi, niết bàn và bản thân đời sống.
(View: 182)
Đức Phật nói rằng không thể có một đời sống tâm linh chân chính nếu không có một trái tim rộng lượng.
(View: 195)
Giữa tâm điểm đại dịch COVID-19 diễn ra một cách phức tạp trong đời sống thực tiễn không chỉ ở nước ta mà khắp cả các nước trên hành tinh này,
(View: 215)
Thật là một thảm họa khi tôi dự khóa tu thiền lần đầu tiên. Lưng tôi yếu sau nhiều năm ngồi gù lưng trước máy tính và ...
(View: 188)
Muốn ít và biết đủ tiếng Hán gọi là “Thiểu dục-Tri túc”. Đây là hai khái niệm Phật học được đề cập nhiều trong Kinh tạng, Luật tạng cũng như trong Tạng vi diệu pháp.
(View: 205)
Theo Tứ phần luật thì nguyên nhân Phật chế định sự an cư là do nhóm sáu người gọi là lục quần Tỳ kheo thường du hành trong nhân gian,
(View: 269)
Người Á Châu không ai là không biết đến hoa Sen. Vì Á Châu chúng ta có khí hậu ấm áp, nhất là những xứ như Ấn Độ, Thái Lan, Miến Điện, Tích Lan, Lào, Cam Bốt, Việt Nam, Trung Quốc và ngay cả Đại Hàn hay Nhật Bản, hoa Sen vẫn thường nở khoe sắc thắm vào mùa Hè nắng ấm.
(View: 222)
Cơn mưa phùn đêm qua còn đọng nước trên đường. Gió thu đã về. Lá vàng theo gió lác đác vài chiếc cuốn vào tận thềm hiên.
(View: 249)
Ấn Độ có nhân vật huyền thoại là Duy-ma-cật; Trung Quốc có cư sĩ Bàng Uẩn; Việt Nam có Thượng Sỹ Tuệ Trung.
(View: 290)
Theo truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy y cứ theo lịch Ấn Độ cổ đại, bắt đầu Vũ Kỳ An Cư (Vassavāsa) từ ngày 16 tháng 6 (tháng Āsālha) và kết thúc vào ngày 16 tháng 9 (tháng Āssina).
(View: 595)
Mong rằng quý vị có thể tìm được những thông tin hữu ích để giúp mình có chọn lựa tốt trong việc ăn uống và cách sống để duy trì hoặc cải thiện sức khỏe của mình.
(View: 363)
Trước tiên muốn hiểu về vấn đề này, chúng ta phải biết rõ, tin sâu và chấp nhận thuyết “nhân quả, luân hồi” !
(View: 411)
Cơn dịch Coronavirus vẫn tiếp tục hoành hành khắp nơi, đã gần hai năm rồi nhưng chưa thấy có dấu hiệu nó suy yếu và chấm dứt, thậm chí ngược lại, nó còn sinh sản ra những chủng mới nguy hiểm hơn.
(View: 680)
Sách dày 572 trang kể cả phần tiếng Anh. Riêng phần tiếng Việt bắt đầu từ trang 1 đến trang 272 và phần tiếng Anh bắt đầu từ trang 277 đến cuối sách. Sách do Phật Việt Tùng Thư tại Hoa Kỳ xuất bản lần thứ nhất năm 2021
(View: 404)
Đọc tiểu sử của Hòa Thượng Tuệ Sỹ để chúng ta biết rằng Ngài là một bậc Vô Sư Trí, tự tu học, nhưng biết rất nhiều sinh ngữ như: Anh, Pháp, Đức và các cổ ngữ như: tiếng Phạn, Pali, Tây Tạng v.v…
(View: 300)
Giới luật Phật giáo không dành riêng cho đối tượng nào nhưng hàng xuất gia là đối tượng bắt buộc phải học giới luật Phật giáo.
(View: 343)
Trong suốt những năm tháng hoằng pháp độ sanh Đức Phật luôn chú trọng đến mục đích chính là giải thoát con người ra khỏi ...
(View: 343)
Với tâm kiêu ngạo, tự cao tự đại mà nói nhiều lại càng nguy hiểm hơn. Điều mà vị Tỳ-kheo vô sự cần thể hiện là bớt nói lại và nghe nhiều lên.
(View: 329)
Đức Phật dạy “Nhất thiết duy tâm tạo” hay “Tâm dẫn đầu các pháp”, tâm ý quyết định kết quả của hành vi con người.
(View: 308)
“Thiền sư Thường Chiếu (?-1203), thế hệ Thứ Mười Hai, thiền phái Vô Ngôn Thông.
(View: 672)
Vì muốn tạo sự thanh thản cho chư Tôn Đức Tăng Ni và quý Phật Tử Học Viên trong thời điểm căng thẳng của Covid-19, cho nên Giáo Hội quyết định chọn 3 ngày cuối của 2 tuần lễ và 3 ngày cuối tuần lễ thứ nhất là ngày 9, 10, 11/07/2021...
(View: 412)
Bắt phong trần phải phong trần. Cho thanh cao mới được phần thanh cao.
(View: 318)
“Phật tánh là Như Lai tạng” (phẩm Như Lai tánh). Tạng có nghĩa là bao trùm chứa giữ tất cả chúng sanh và muôn sự muôn vật, tất cả hiện hữu thanh tịnhbất tịnh.
(View: 445)
Đừng vấn vương quá khứvọng tưởng tương lai Quá khứ đã qua rồi Ngày mai còn chưa tới
(View: 368)
Chữ nghiệp trong nhà Phật nói, ý nghĩa của nó rất sâu rộng. Ở đây, chúng tôi chỉ xin giải đáp một cách đại khái sơ lược thôi.
(View: 332)
Phật giáo trên con đường truyền bá và hội nhập luôn gắn liền với hai yếu tố căn bản: khế lý và khế cơ.
(View: 408)
Câu chuyện nhỏ, do cơ duyên, xảy ra đã lâu, dường như lâu tới hơn hai thế kỷ! Lâu vậy, mà như không lâu, câu chuyện, ngỡ bình thường mà...
(View: 413)
Kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa, đã được chính Đức Thế Tôn tuyên dương là Bổn Kinh Thượng Thừa, bao gồm những bí yếu cực kỳ nhiệm mầu
(View: 790)
Kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa, đã được chính Đức Thế Tôn tuyên dương là Bổn Kinh Thượng Thừa, bao gồm
(View: 494)
Vận mạng của một thực thể đi qua trong nhận thức được giới hạn ở hai đầu sinh và diệt, đoạn và thường của không gianthời gian
(View: 445)
Trong bài phát biểu của Ngài trước đám đông đến từ Tây Tạng vào ngày 27 tháng 3 năm 2006 vào cuối buổi thuyết giảng
(View: 480)
Theo Phật giáo, nghiệp là hành động có tác ý, chủ ý của thân (Kāya, 身), khẩu (Vacī, 口), ý (Mano, 意).
(View: 531)
Bạch Đức Thế Tôn, sau khi một chúng sanh qua đời họ sẽ tái sanh về đâu?
(View: 482)
Từ xưa đến nay người ta vẫn thường nhắc đến chữ Tâm trong đời sống, coi đó như một phẩm chất đạo đức, một yếu tố ...
(View: 442)
Mỗi năm, khi mùa mưa đến, chư Tăng Ni thường thu xếp mọi duyên để tập trung về một trụ xứ nhằm thực hiện phận sự an cư.
(View: 503)
Một thời Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo rằng:
(View: 601)
Từ xưa đến nay, nhiều người cho rằng, Đạo Phật chuyên nói về những điều cao siêu huyền bí, rất khó để một con người bình thường thực hành theo.
(View: 482)
Phật giáo Nam tông Theravāda tuy không chú trọng về lễ nghi, cúng bái hoặc sám tụng nhưng trong các nghi lễ Phật giáo thì...
(View: 598)
Xung quanh các hiện tượng mê tín dị đoan “có tổ chức” diễn ra gần đây, đã có nhiều ý kiến trái chiều về “con đường tu tập”
(View: 551)
Lắng nghe và thấu hiểu là hai chất liệu vô cùng cần thiết để hiến dâng cho đời, có khả năng xóa đi những nỗi khổ niềm đau
(View: 595)
Chủ đề bài này là nói về tỉnh thức với tâm không biết. Như thế, nghĩa là những gì rất mực mênh mông, vì cái biết luôn luôn là có hạn.
(View: 536)
Một khi Đức Đạt Lai Lạt Ma rời Tây Tạng, ngài sẽ phải đối diện với nhiệm vụ khó khăn về việc nói với thế giới những gì đã xảy ra...
(View: 599)
Có hôm nghe một trí thức Việt Nam cho rằng, Phật giáo xem cuộc đời sanh đó, tử đó, thật chẳng có ý nghĩa gì. Mọi sự mọi vật trên thế gian trong cái nhìn của đạo Phật, đều là huyển, ảo.
Quảng Cáo Bảo Trợ