Logo HHAD 2018 250
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
View Counts
14,838,637
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Sự Vắng Mặt Của Thực Tại Cứng Nhắc

20 Tháng Bảy 201617:38(Xem: 2349)
Sự Vắng Mặt Của Thực Tại Cứng Nhắc
SỰ VẮNG MẶT CỦA THỰC TẠI CỨNG NHẮC
 
Đức Đạt Lai Lạt Ma
Tuệ Uyển

Sự Vắng Mặt Của Thực Tại Cứng Nhắc


Năm người lính biệt kích hình thành một cái bia che chắn chung quanh Đức Đạt Lai Lạt Ma khi ngài cất bước lên con đường dốc đến đỉnh Linh Thứu, một trong những địa điểm hành hương quan trọng của những người Phật tử. Những người lính này là thành viên của một đơn vị ưu tú trong quân đội Ấn Độ, ăn mặc toàn đen: sơ mi cô tông tay dài, khăn quấn đầu tua buông xuống, và quần bó sát chân. Mỗi người có một khăn choàng thứ hai quấn ngang mặt chỉ thấy đôi mắt. Tất cả mang súng tự động. Hai trong số ấy, đặc biệt được huấn luyện bắn tỉa, có một súng trường đeo lủng lẳng trên vai. Ngay cả không có vũ khí, những người đàn ông vai rộng thật ấn tượng khi nhìn; mỗi người cao hơn sáu bộ và rõ ràng vô cùng thích hợp.

 

Thêm những binh sĩ nữa, mặc đồ kaki và mũ bê rê xanh, đi theo sau. Tôi chưa bao giờ thấy Đức Đạt Lai Lạt Ma được bảo vệ vô cùng cẩn thận như vậy ở Ấn Độ. Đây quả là một sự kiện hiếm hoi khi lãnh tụ Tây Tạng hành hương ở một vùng  hẻo lánh như vậy ở Bihar, một tiểu bang nghèo nhất và bất ổn của đất nước; nhà chức trách không có lựa chọn nào khác đối với cơ hội này.

 

Đức Đạt Lai Lạt Ma leo lên một cách chậm chạp nhưng vững vàng, dựa cẩn thận vào cây gậy đi bộ được làm từ một cành cây gầy còm. Thỉnh thoảng ngài nói chuyện với những người hộ tống Ấn Độ, nhưng phần nhiều ngài im lặng. Được một phần tư đường, ngài cởi tấm y đỏ bên ngoài và đưa cho Buchung, thị giả của  ngài xếp lại cẩn thận và để vào ba lô. Đến một chỗ, Đức Đạt Lai Lạt Ma bước ra khỏi đường và nhìn vào một động thiền nhỏ đục vào bên trong đồi. Một đệ tử của Đức Phật đã hành thiền trong ấy hai nghìn năm trăm năm trước. (Trên đường lên đỉnh Linh Thứu có hai động nhỏ tương truyền là của ngài Xá Lợi PhấtA Nan).

 

Đỉnh núi Linh Thứu là một khoảnh nhỏ bằng phẳng vây quanh bởi những tảng đá trồi lên ba phía. Phía thứ tư, là sườn dốc lưỡi đao cheo leo thấp dần xuống một thung lũng. Một hàng rào gạch, xây ngang đến thắt lưng chiếm lĩnh vùng bằng phẳng. Nhiều ngọn nến cúng dường đã được đặt trên mặt những bức tường thấp.

 

Sau khi lễ phủ phục, Đức Đạt Lai Lạt Ma bước đến cạnh sườn núi và nhìn xuống thung lũng Rajgir, cách Đạo Tràng Giác Ngộ ba giờ lái xe. Một con đường bụi đỏ chia đôi vùng đất nông trại xanh tươi, đưa thẳng đến những ngọn núi cao bao quanh thung lũng. Khung cảnh tuyệt đẹp. Nhưng Đức Đạt Lai Lạt Ma không nán lại nơi ấy. Tâm tư ngài đang cầu nguyện - kinh tuệ giác giải thích về khái niệm tánh không - tâm kinh bát nhã - mà ngài đã đến để trì tụng. Chính tại nơi này, hai nghìn năm trăm năm trước, Đức Phật đã giảng giải giáo lý tánh không, một ý tưởng trọng tâm của tri thức Phật Giáo.

 

Trong những cuộc gặp gở trước với tôi, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã giải thích rộng rãi những khái niệm quan hệ với nhau của sự lệ thuộc hổ tương và tánh không - chúng là hai mặt của đồng xu, hai cách khác biệt nhau để thấu hiểu cùng một ý tưởng. Đây là những gì ngài đã nói với tôi: sự tồn tại của bất cứ thứ gì - cà phê, chiếc ca, cảm giác ghen tỵ - hoàn toàn tùy thuộc vào một mạng lưới phức tạp của những mối quan hệ. Do bởi điều này, nếu ta nghĩ về nó đúng mức, thì sẽ không có một cách hợp lý nào cho những thứ này tồn tại một cách độc lập. Do thế, trong thuật ngữ của Đức Đạt Lai Lạt Ma, chúng được nói là trống rỗng một đời sống của chính chúng. Chúng không có sự tồn tại cố hữu, vô tự tánh. Nói cách khác, chúng là không. Ngài cũng nói với tôi rằng hiểu rõ giá trị những khái niệm này một cách trọn vẹn, để siêu việt sự thấu hiểu trí năng đơn thuần, là một sự thực tập tâm linh nghiêm mật liên hệ một thời gian dài của thiền tập là không thể thiếu được.

 

Trong một cuộc phỏng vấn khác, tôi muốn biết Đức Đạt Lai Lạt Ma đã đối diện với khái niệm tánh không lần đầu tiên như thế nào và tiếp theo đấy nó đã chiếm lĩnh tầm quan trọng then chốt trong đời của ngài như thế nào.

 

"Tánh không không phải là một vấn đề dễ dàng để hiểu," Đức Đạt Lai Lạt Ma nói với tôi. "Nhưng một khi tôi đã phát triển một sự thấu hiểu nào đó, một tuệ giác trực tiếp  nào đó, sau đó tôi nhận ra rằng nó có thể ứng dụng được vào hầu hết mọi kinh nghiệm, mọi hoàn cảnh."

 

Ngài hướng sang Lhakdor và nói Tạng ngữ. "Đã đạt được tri thức sâu hơn cùng với tuổi tác, ảnh hưởng của tánh không với đời sống của ngài trở thành sâu sắc hơn," Lhakdor thông dịch.

 

"Tôi nghĩ khoảng hai mươi tuổi, thì tôi đã phát triển một sự thích thú chân thành với tánh không," Đức Đạt Lai Lạt Ma tiếp tục, lúc lắc tới lui nhẹ nhàng trên chiếc ghế của ngài. "Tôi nhớ  một sự kiện. Năm 1954, tôi dự Quốc Hội Nhân Dân ở Bắc Kinh. Có vài ngày rỗi rảnh, vì thế tôi đã yêu cầu học về tánh không với vị giáo thọ kỳ cựu của tôi là Ling Rinpoche. Đó là một dấu hiệu sự thích thú của tôi."

 

Đức Đạt Lai Lạt Ma bổng im lặng, nhịp điệu lúc lắc dừng lại. Ngài ngồi thẳng và nhìn chằm chằm vào khoảng không. Sau một lúc, ngài cào cào trên má ngài và bắt đầu  nói Tạng ngữ lại với Lhakdor, xoa bóp nhẹ nhàng bàn tay phải ngài, trong một chuyển động tròn, chung quanh ngực ngài. Lhakdor chồm tới trước, đôi mắt ông nhìn thẳng vào vị lãnh tụ Tây Tạng khi ông thông dịch. "Vào cuối những năm hai mươi tuổi của Đức Thánh Thiện, năm 1963, một ngày nọ khi ngài đang đọc một kinh luận Phật Giáo, tới một điểm khi ngài ngang qua một dòng nói: 'Tôi' chỉ đơn thuần được mệnh danh cho tự ngã của những uẩn vật chất (những tập hợp tinh thầnvật chất). Ngay khi đọc điều đó, ngài có một cảm giác đặc biệt, một kinh nghiệm lạ kỳ." Giọng của Lhakdor thì thầm khàn khàn, tôi phải cố gắng để nghe những lời ấy.

 

"Kinh nghiệm lạ kỳ ấy tồn tại bao lâu?" tôi  hỏi.

 

"Cảm giác ấy tồn tại, tôi nghĩ, vài tuần, có lẻ," Đức Đạt Lai Lạt Ma trả lời. Ngài nói thêm với Lhakdor. Những nếp nhăn trên chân mày ngài sáng lên; ngài nhìn chằm chằm vào sàn nhà trước mặt ngài và làm điệu bộ như quét thảm. Có một cái nhìn lạ thường trên khuôn mặt ngài.

 

"Trong thời gian ấy," Lhakdor thông dịch, "bất cứ khi nào ngài thấy con người, sự vật … thảm, thí dụ, ngài thấy chúng như thảm và con người, nhưng cùng lúc, ngài chú ý rằng tất cả không có bản chất. Ngài có cảm nhận rõ ràng rằng không có cái 'tôi'. Không phải trong bản chất rằng cái 'tôi' không tồn tại, nhưng một cảm giác nào đó về không có cái 'tôi' như chúng ta  hiểu nó."

 

"Sự vắng mặt của thực tại cứng nhắc," Đức Đạt Lai Lạt Ma nói một cách nhấn mạnh. Ngài đưa cả hai tay lên ngực và nắm chúng lại thành những nắm đấm chặc chẽ.

 

"Ngài có bất cứ viễn tượng nào không?" tôi hỏi ướm thử, không chắc là trí tuệ có trong câu hỏi này không. Tôi vừa nhận ra rằng cuộc đối thoại đã chuyển theo một chiều hướng không ngờ tới. Đức Đạt Lai Lạt Ma đang nói cho tôi nghe điều gì đó rất cá nhân, điều gì có lẻ chỉ có một số người đếm trên đầu ngón tay nghe mà thôi.

 

"Không," ngài trả lời.

 

"Nhưng có kinh nghiệm này của cái không 'tôi'," tôi nói.

 

"Vâng."

 

Đức Đạt Lai Lạt Ma lại một lần nữa nói trực tiếp với Lhakdor. "Thể chất mà nói, có điều gì đó như ánh sáng lóe lên qua trái tim ngài," Lhakdor thông dịch. "Ngài kinh nghiệm điều gì đó như một cú sốc điện."

 

Tôi có cảm giác không thoải mái như tôi đang nghe trộm. Những thực chứng tâm linh là các kinh nghiệm mật thiết, cá nhân đối với một Phật tử, và đây là lần đầu tiên tôi mới nghe một hành giả nghiêm khắc nói về chúng. Nhưng tôi cần xác chứng những gì tôi mới vừa nghe. "Một cú sốc điện đi qua thân thể ngài?" tôi hỏi Đức Đạt Lai Lạt Ma.

 

"Vâng," ngài trả lời. Ngài đang nhìn tôi một cách gần gũi, đôi bàn tay ngài bây giờ để trên đùi.

 

Tôi nghe một tiếng lách cách, một tiếng động dường như đến từ một nơi xa. Rồi thì tôi nhận ra rằng băng thu thanh của tôi đã ngừng, hết băng. Tôi giữ đôi mắt tôi không thay đổi với Đức Đạt Lai Lạt Ma, tôi không tin tưởng khả năng tôi để gắn vào một băng mới từ trong túi của tôi. Tôi sẽ có một băng copy cuộc phỏng vấn từ Lhakdor.

 

"Trong vài tuần lễ ấy, ngài thấy các đối tượng như khôngbản chất, không có thực thể?" tôi hỏi. Đức Đạt Lai Lạt Ma ngồi rất ngay ngắn trên ghế, gương mặt ngài điềm tĩnh. Trong tôi ngài rất giống một Đức Phật vào lúc ấy. Tôi không thể không cảm thấy kinh ngạc bởi sự hiện diện của  ngài.

 

"Vâng. Nếu tôi  có nghĩ về vô ngã, không cái 'tôi'," ngài giải thích, "thế thì trong giây phút ấy, giống như hình ảnh. Tôi nghĩ đơn giản là xem TV hay một bộ phim. Một cách đặc biệt như là xem một bộ phim. Một cách để xem phim: cảm giác điều gì đó thật sự đang diễn ra trong đấy. Nhưng cùng lúc, trong khi mắt ông nhìn đấy, nhưng tâm tư ông biết đây chỉ đơn thuầnhình ảnh - hành động, không thật. Cho nên việc thấy cùng hình ảnh: một, không thấu hiểu đây là hành động; một cái khác: thấy nhưng vẫn cảm thấy đây là hành động."

 

Đức Đạt Lai Lạt Ma nói với tôi rằng cách thấy của ngài đã thay đổi sau kinh nghiệm lạ lùng của năm 1963. Ngài đã thấy rằng mọi vật bây giờ xuất hiệnhai mặt. Một là cụ thể cứng nhắc, thật sự, có thể chạm đến được, loại sự vật chúng ta chạm trán hàng ngày - tủ lạnh, sân hận, hàng xóm. Thứ hai là bản chất không thật tiềm ẩn của mọi vật - mọi vật giống như một cuộc trưng bày hình ảnh - bản chất của chúng không có gì nhưng lập lòe những ảo ảnh hào nhoáng trên một màn ảnh rộng. Sự tồn tại của chúng, được đặc trưng bởi sự thay đổi liên tụcnhất thời, lệ thuộc trên một mạng lưới của những mối quan hệ. Mọi vật - tủ lạnh, sân hận, hàng xóm - có thể được quán sát trong hai nhận thức này.

 

Ảnh hưởng của sự kiện năm 1963 vẫn còn với ngài, Đức Đạt Lai Lạt Ma nói với tôi. Khi tiếp tục với sự thực tập của ngài và hành thiền trên căn bản hàng ngày, tuệ giác của ngài xảy ra thường xuyên hơn. Bất cứ  khi nào tư tưởng về ''tự ngã'' hay cái ''tôi'' nổi dậy trong tâm, thì có lẻ nó được đồng hành với một cảm giác về tánh không, của "không tôi".

 

"Trước đây," Đức Đạt Lai Lạt Ma nói, "ngoại trừ tôi nghĩ một cách nghiêm khắcliên tục tối thiểu vài phút, bằng không thì khó để có một loại cảm giác như thế. Bây giờ, ngay khi tôi nghĩ về tánh không, hình ảnh trở nên khác biệt một cách rõ ràng."

 

"Có phải đây là một sự thực chứng mạnh mẽ hơn về tánh không?" tôi hỏi.

 

"Vâng," Đức Đạt Lai Lạt Ma nói. Rồi thì ngài nhanh chóng trở lại: "Tánh không … tôi không biết." Tôi có cảm giác rằng ngài muốn thật cẩn thận về điều này.

 

"Có quan trọng gì trong việc thấy điều không thể nắm được trong mọi vật? Điều này sẽ làm gì với đời sống của ngài?" tôi hỏi.

 

Đức Đạt Lai Lạt Ma nói với Lhakdor.

 

"Thông thường, chúng taxu hướng thấy mọi vật trong một cách cụ thể cứng nhắc rõ ràng," Lhakdor thông dịch. "Do thế, có một xu hướng chấp trước vào mọi vật, trở thành dính mắc với mọi vật. Chúng ta bám víu vào ý tưởng của một tự ngã riêng biệt và mọi vật riêng biệt. Chúng ta phấn đấu cho những kinh nghiệm mới, những thành tựu mới. Tuy thế, ngay khi chúng ta sở hữu chúng, tình trạng kích thích biến mất, và chúng ta tìm kiếm cho một điều mới gì đó. Vòng lẩn quẩn bất tận này của tham muốn đem đến khổ đau.

 

"Trong trường hợp của Đức Thánh Thiện thái độ chấp trước không sinh khởi. Đây là bởi vì 'tự ngã', mong ước, tham muốn, hay những đồng hồ Rolex được nhận thức một cách rốt ráo bởi ngài như vô thường, thay đổi, khó nắm bắt. Trống không. Giống như ảo ảnh, chúng không hoàn toàn thật. Không có cách nào để ông thật sự bám lấy chúng. Do vậy, không có điểm nào để thèm thuồng chúng. Nếu chúng ta có được sự thông hiểu về tánh không, thì tham dục, nguồn gốc của khổ đau, bị giảm thiểu."

 

Đức Đạt Lai Lạt Ma quay sang nói Tạng ngữ một lần nữa. Điều gì đó thọc lét trong xương tủy tiếu lâm của ngài. Ngài bắt đầu chuyển sang một đợt hứng thú cười toàn thân, lúc lắc đầu ngài từ phía này sang phía nọ. Gương mặt ngài nhăn nhúm với niềm vui đến nổi không thấy được đôi mắt ngài.

 

"Đức Thánh Thiện nói rằng ngài đang khoe khoang. Và ngài nói điều này được gọi là một kẻ ngu ngơ cố gắng để lừa phỉnh người khác. Lhakdor nói với một nụ cười mĩm phình ra toàn gương mặt.

 

Nhìn lướt tập giấy mà tôi ghi vội xuống, cuộc phỏng vấn đã bước sang một chiều hướng mà tôi không ngờ. Một tư tưởng nẩy lên trong tâm tôi, và tôi hỏi Đức Đạt Lai Lạt Ma: "Ngài có bao giờ nói với bất cứ người nào về sự thành tựu tâm linh của ngài không?''

 

"Vào những năm đầu của thập niên bảy mươi," ngài trả lời, "tôi đã nói với Ling Rinpoche, gần như là một báo cáo, về sự thấu hiểu của tôi về tánh không, rồi thì ngài .. " Đức Đạt Lai Lạt Ma chuyển sang nói Tạng ngữ với Lhakdor.

 

"Ling Rinpoche bình luận rằng không bao lâu Đức Thánh Thiện sẽ trở thành một hành giả du già không gian," Lhakdor thông dịch. "Hành giả du già không gian là một hành giả thực chứng không gian tánh không, người thành tựu sự Giác Ngộ trọng yếu."

 

"Ngài đã thâm nhập vào thể trạng ấy rồi chứ?" tôi hỏi một cách thận trọng.

 

"Tôi không biết," Đức Đạt Lai Lạt Ma nói. Tôi chú ý rằng ngài dường như đang vặn nhẹ những ngón tay cái của ngài, nhưng sau một giây tôi nhận ra rằng bàn tay ngài, để thoải mái trên đùi ngài, đang nhẹ nhàng lần chuỗi hạt tưởng tượng. Ngài lại nói với Lhakdor.

 

"Trong mọi thời ngài tu tập tiến triển," Lhakdor thông dịch. "Đức Thánh Thiện hoàn toàn xác thực một điều . Nếu Ling Rinpoche còn tại thế, và Đức Thánh Thiện thưa với ngài về sự thành tựu tâm linh, Ling Rinpoche chắc chắn sẽ vui lòng."

 

"Có một lý do tại sao Đức Thánh Thiện giải thích tất cả những điều này cho ông," Lhakdor nói, một cách tự nhiên. "Thông thường hoàn toàn không thích đáng để nói về những thứ  này."

 

"Đúng đấy, đúng đấy. Do thế, bất cứ khi nào tôi giải thích điều gì đó về những kinh nghiệm của tôi về từ bi và sự thông hiểu của tôi về tánh không, tôi luôn luôn làm rõ ràng …" Đức Đạt Lai Lạt Ma nói. Ngài chuyển sang Tạng ngữ và nói trực tiếp với Lhakdor.

 

"Đức Đạt Lai Lạt Ma đôi khi nói về những sự phát triển tâm linh của ngài để tạo cảm hứng cho người khác." Lhakdor thông dịch, "nhưng ngài luôn luôn kết luận bằng việc nói rằng: 'tôi không nói tôi là một vị Bồ tát; tôi không nói tôi thực chứng tánh không.' Đức Thánh Thiện cũng làm điều này: theo kinh nghiệm của riêng ngài, ngài nhận thấy rằng mỗi người luôn luôn có thể tu tập tiến bộ. Do vậy, ngài nói với thính chúng của ngài rằng: 'Trong trường hợp của riêng tôi cũng thế, mặc dù tôi không phải là một vị Bồ tát, chưa trau dồi Tâm Giác Ngộ - bodhicitta - lòng vị tha vô hạn - nhưng tôi giống như một người nào đó có thể thấy đỉnh của ngọn núi.' ''

 

Đức Đạt Lai Lạt Ma chen vào. "Chưa đến đỉnh, nhưng bây giờ tôi có cảm giác rằng - ô, tôi có thể đến đấy," ngài nói và véo vào mũi ngài.

 

"Ngài ngửi thấy nó," tôi gợi ý.

 

Bóng râm đã trải dài trên hành lang dễ thương bên ngoài. Đức Đạt Lai Lạt Ma nhìn vào đồng hồ ngài và nói với tôi, "Bây giờ, năm phút nữa." Tôi đã ở bên cạnh ngài gần hai giờ đồng hồ, nhưng tôi cảm thấy một sự hoảng hốt nhẹ nhàng len lõi trong tâm. Tôi vẫn còn một trang và chừng ấy câu hỏi. Khi tôi xem xét đến câu hỏi tiếp, Lhakdor quay sang và nói với tôi: "Luôn luôn có một hiểm họa trong việc nói đến những thứ như việc phát triển tâm linh."

 

"Hiểm họa?" Tôi lúng túng. Tôi cũng ngạc nhiên rằng Lhakdor đã tự nêu lên sự cảnh báo này, trong sự hiện diện của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Thường thường thói quen của ông là giữ im lặng ngoại trừ ông được kêu gọi để thông dịch

 

"Nếu ông nói ông đã thực chứng tánh không, trong khi thực tế ông chưa đạt đến thể trạng ấy," Lhakdor giải thích.

 

"Hiểm họa là điều này," Đức Đạt Lai Lạt Ma giải thích. "Mặc dù tôi không có ý định ấy, trên căn bản tường trình của tôi, nhưng người nào đó tin rằng tôi đã đạt đến thể trạng cao siêu nào đó. Nếu người ấy tin tưởngtín ngưỡng, có thể cũng không sao. Nhưng nếu người ấy tin tưởng do bởi sự tường trình của tôi, và rồi thì nếu tôi cảm thấy …" ngài dừng.

 

Lhakdor hoàn tất tư tưởng của Đức Đạt Lai Lạt Ma. "Nếu Đức Thánh Thiện cảm thấy, 'Okay thôi, tốt thôi rằng ngài đã có một ý định [muốn cho người khác hiểu] như vậy,' thế thì như vậy là một  hiểm họa."

 

"Cho nên bây giờ thì có một động cơ vị kỷ." Đức Đạt Lai Lạt Ma thêm vào.

 

Như tôi ở vào những lúc khác, tôi bị ấn tượng bởi vấn đề Đức Đạt Lai Lạt Ma thẩm tra động cơ của ngài trong mỗi hành động một cách không nao núng. Đó là một phản xạ có điều kiện, nó xảy ra trong mỗi lần ngài mở miệng hay thực hiện một quyết định nào.

 

"Dối trá, dĩ nhiên, cho dù cư sĩ hay tu sĩ, mọi người, lừa lọc là một tội lỗi, tiêu cực," Đức Đạt Lai Lạt Ma tiếp tục, với cường độ cao. "Nhưng tôi là một tu sĩ, cụ túc giới. Nếu tôi nói với mọi người rằng tôi có một kinh nghiệm thực chứng tâm linh sâu xa nào đó, và biết rằng tôi không có phẩm chất đó, sự dối trá đó là một sự dối trá  nghiêm trọng. Nó làm cho phải bị lột y - không còn là tu sĩ nữa."

 

"Nó không là một sự nói dối nho nhỏ nào đó; nó là một sự dối trá rất lớn, đặc biệt," Lhakdor thêm vào.

 

"Giống như tà hạnh bất chính, giết người, trộm cắp. Rồi thì thì sự dối trá này,"Đức Đạt Lai Lạt Ma nói.

 

"Bốn thứ quan trọng," tôi nói

 

"Sau đó không còn như một tu sĩ nữa. Do thế, nó nguy hiểm," Đức Đạt Lai Lạt Ma kết luận.

 

Cuộc đàm luận của chúng tôi kết thúc. Đức Đạt Lai Lạt Ma bước tới và ôm tôi. Sau khi ngài rời phòng, tôi bắt đầu thu thập mọi thứ mà tôi đã vung vãi khắp bàn cà phê - tập ghi chép, các xấp giấy của những loại câu hỏi, photocopy những chủ đề, băng thu thanh. Lhakdor tới lui chung quanh và giúp tôi nhét những thứ ấy vào ba lô của tôi. Chúng tôi không tán gẫu với nhau như thường lệ sau buổi phỏng vấn, tôi cảm thấy kiệt sức, và Lhakdor cũng thế. Khi chúng tôi bước ra khỏi phòng tiếp kiến, Lhakdor chạm nhẹ nhàng vào cùi chỏ tôi. Tôi quay lại nhìn ông. Gương mặt ông dường như ôn hòa, một cái xúc chạm dễ thương.

 

"Ông biết không, Victor," ông nói với tôi một cách lặng lẽ, "Tôi đã nghe Đức Thánh Thiện nói tóm tắt về những đề tài  này trước đây rồi. Nhưng tôi chưa bao giờ nghe ngài chi tiết như thế, sâu xa như thế. Những tu sĩlạt ma trong các tu viện không thể tin vào tai họ nếu họ nghe buổi phỏng vấn đó." Đôi mắt ông nhìn sâu vào mắt tôi. "Họ sẽ được hứng thú vô cùng, xúc động vô cùng, họ sẽ phát điên mất."

 

Ẩn Tâm Lộ, Friday, December 11, 2015

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 35)
Kinh MN 1 (Mulapariyaya Sutta) là Kinh khởi đầu Trung Bộ, được Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch là Kinh Pháp Môn Căn Bản.
(Xem: 41)
Bàn tay ta vun đắp, thành bại thuộc vào duyên, Vinh nhục ai không gặp, Có chi phải ưu phiền.
(Xem: 42)
Đạo Phật chủ trương hòa bình, lấy từ bi hóa giải hận thù, lấy sự xả buông để khắc chế tham ái. Chiến tranh, xung đột, bạo động là biểu hiện rõ ràng của tham lam, sân hận và si mê.
(Xem: 65)
Đối với đạo Phật, ba ngôi Tam bảo rất quý báu, hiếm có khó gặp ở thế gian nên người con Phật (chư Tăng, Ni, Phật tử nói chung) phải kính lễ, tôn thờ.
(Xem: 89)
Chúng ta được dạy, nếu khéo lắng nghe, ta sẽ được trí tuệ. Nếu không biết lắng nghe, ta sẽ không được gì cả.
(Xem: 498)
Kính Mừng Thọ 70 tuổi HT Thích Như Điển tổng hợp những bài viết cho Hoà Thượng Phương Trượng
(Xem: 184)
Mắt ở đây phải hiểu là cách nhìn, cái mà mình cảm thấy, cái mà mình cho rằng, cái mà mình biết do nhìn thấy
(Xem: 98)
Hai từ " buông bỏ " thời buổi bây giờ là một thành ngữ nghe vô cùng sáo rỗng, đã được xử dụng nhiều nhất trong kỷ nguyên thời đại mới (new age).
(Xem: 267)
Nếu bạn say mê đọc kinh Phật, ưa thích những phân tích kỹ càng về giáo điển, muốn tìm hiểu các chuyện xảy ra thời Đức Phật đi giảng dạy nơi này và nơi kia, hiển nhiên đây là một tác giả bạn không thể bỏ qua
(Xem: 116)
Các nhà hiền triết Ấn Độ giáo và tu sĩ Phật giáo đã nhận diện tầm quan trọng và lợi ích sức khỏe khi một hành giả thực tập thiền đều đặn trong mỗi ngày.
(Xem: 201)
Theo tuệ giác của Thế Tôn, nếu các căn gặp cảnh trần vừa ý, thọ lạc rồi sinh tâm yêu thích, đắm nhiễm thì đó là cội nguồn của mọi khổ đau.
(Xem: 118)
Kiếp sống này biến mất rất nhanh chóng Giống như thứ gì đó được viết trên mặt nước với một que cây -ĐỨC PHẬT-
(Xem: 141)
Từ non cao, những đợt lá vàng cuốn theo gió, rơi theo dòng suối, trôi giạt xuống con sông nhỏ trong làng; rồi từng nhóm lá xuôi dòng, tấp vào bờ này hay bờ kia.
(Xem: 129)
Cuộc đời là một chuỗi những bài kiểm tra. Khó khăn chính là những bài kiểm tra. Chúng ta đang ở trong một trường đời.
(Xem: 150)
Trong công việc khó có thể tránh khỏi hoàn cảnh bất lợi, nhiều người sợ gặp phải hoàn cảnh khó khăn, cảm thấy nghịch cảnh là một cú sốc lớn.
(Xem: 126)
Đối với hàng Phật tử tại gia, năm giới là năm điều học căn bản để tạo dựng nên một nếp sống đạo đức, tốt đẹplành mạnh.
(Xem: 331)
Nguyên bản: Meditating while dying; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 215)
Từ non cao, những đợt lá vàng cuốn theo gió, rơi theo dòng suối, trôi giạt xuống con sông nhỏ trong làng; rồi từng nhóm lá xuôi dòng, tấp vào bờ này hay bờ kia.
(Xem: 164)
Duyên khởiđạo lý quan trọng trong toàn bộ giáo pháp của Thế Tôn.
(Xem: 205)
Trong khi thực hành thiền quán, hành giả thường hay vướng vào năm chướng ngại, mà thuật ngữ Phật học gọi là
(Xem: 98)
Nhóm Tỳ-kheo được vô lậu giải thoát sau khi nghe Tỳ-kheo do Bồ-tát Văn-thù-sư lợi biến hóa ra giảng giải cho về pháp giới thể tánh.
(Xem: 330)
Pháp Như Thật là pháp thực hành thuộc về Thiền Huệ, nhưng tại sao lại cần phải thực hành pháp Như Thật? Tại sao phải học Thiền Huệ?
(Xem: 152)
Mẹ Hiền, hai tiếng nầy nghe thân thương, êm ái, ngọt ngào biết bao. Nghe mãi không nhàm, nghe hoài không chán.
(Xem: 171)
Tôi hiểu ngay là cả nhà, mỗi người đều đang dán mắt và bấm bấm, quẹt quẹt vào mặt kính cái smartphone của mình.
(Xem: 201)
Trong quan hệ 12 nhân duyên, nhân vì xúc (căn tiếp xúc trần) nên sinh thọ (cảm giác vui, khổ và trung tính), nhân vì thọ nên sinh ái (yêu ghét)...
(Xem: 193)
Nguyên bản: Gaining favorable condition for the time of death; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D.; Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 294)
Bùi Giáng là nhà thơ, là dịch giả, là nhà bình luận văn học. Ông sinh ngày 17 tháng 12/1926 tại huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam; từ trần ngày 7 tháng 10/1998 (thọ 71 tuổi) tại Sài Gòn
(Xem: 199)
Để đạt đến pháp giới vốn là pháp giới thể tánh, vốn là pháp giới bạch tịnh này, kinh điển thường dạy VănTư-Tu.
(Xem: 284)
Sau khi kết thúc đời sống hiện tại, chúng ta sẽ theo nghiệp mà thọ sinh vào cảnh giới tương ứng.
(Xem: 207)
Muốn thấy Phật thì Tâm phải như gương sáng. Thấy hết, biết hết mà không bao giờ khởi niệm.
(Xem: 178)
Công việc được hoàn tất tốt đẹp qua sự hưởng ứng và trợ giúp của quý Phật tử tại địa phương và các anh chị em huynh trưởng và đoàn sinh Gia Đình Phật Tử tại Đức Quốc.
(Xem: 313)
Nhiều Kinh điển Đại thừa (Mahayana Sutras)/Kinh điển Phật giáo Phát triển đã giảng 3 phương pháp thiền quán để đạt đến giải thoát, đó là ba cánh cửa của giải thoát.
(Xem: 204)
Xuất gia là tu hạnh giải thoát. Tự mình tu để được giải thoát,đồng thời hướng dẫn chỉ dạy cho người khác tu cùng giải thoát nữa.
(Xem: 378)
Một trong những biệt tài thuyết pháp của Thế Tôn là dùng hình ảnh để ví dụ minh họa chothính chúng dễ hiểu, dễ cảm nhận vấn đề Ngài muốn nói.
(Xem: 309)
Những ngày cuối hạ oi bức, không làn gió thoảng. Cây cối trơ ra như những tượng đá trong vườn thần chết. Mọi thứ như dừng đứng để chờ đợi một phép lạ.
(Xem: 210)
Bà mẹ già ngồi ở băng ghế sau chiếc xe hơi bỏ mui màu đỏ sậm đang rẽ quặt xuống xa lộ. Bà ghì chặt lấy cái giỏ đồ ...
(Xem: 289)
Đạo đức là nền tảng luân lý mà bất kỳ thời đại nào cũng cần phải xây dựng, cũng cố và phát triển.Con người nếu khôngđạo đức thì không dùng được.
(Xem: 284)
Hôm nay nhân đọc bản dịch từ Phạn văn ra Việt ngữ nầy của Giáo Sư Lê Tự Hỷ, chúng tôi vô cùng hoan hỷ vì rằng đây là những tài liệu rất bổ ích cần phải tham khảo
(Xem: 180)
Những ngày cuối hạ oi bức, không làn gió thoảng. Cây cối trơ ra như những tượng đá trong vườn thần chết.
(Xem: 331)
Những người chưa vào đạo Phật, hoặc chưa hiểu đạo Phật, thường nghĩ rất sai lầm, tưởng rằng đạo Phật là một đạo chán đời, bi quan...
(Xem: 285)
Bạn có thể cho con cái bạn sống trong một căn nhà to lớn, ăn uống đầy đủ ngon lành, lại học chơi cả đàn dương cầm...
(Xem: 467)
Học Phật là một công cuộc bền bỉ và trường kỳ, mà đơn vị để đo đạc ấy phải tính bằng “hằng-hà-sa kiếp sống” cũng như...
(Xem: 305)
Mọi sinh vật có thật đâu Thảy đều “vô ngã”, “ta” nào là “ta” Trí người nếu hiểu rõ ra Thoát ly phiền não cho xa tức thời, Theo đường thanh tịnh tuyệt vời.
(Xem: 307)
Bà Thanh Đề là mẹ của ngài Mục Kiền Liên (cũng gọi là Mục Liên), Bà tính tình tham lam,độc ác, không tin Tam Bảo, tạo ra nhiều tội lỗi...
(Xem: 550)
Tu thiền (Bhavanã Jhãna) Phật giáo là tiến trình tu tập, hành trì miên mật một pháp môn nào đó để kinh nghiệm trực tiếp trên ...
(Xem: 257)
Trong nhiều bài kinh từ Hán tạng cho đến Pali tạng, Đức Phật tán thán hạnh hiếu dưỡng cha mẹcông ơn ...
(Xem: 273)
Bút Phật không thủ chấp Mà vẫn ngát tâm hương Trong muôn ngàn ý tưởng Toả sáng lẽ Chơn Thường .
(Xem: 287)
Viên thành đạo nghiệp Tây Âu quốc. Giác ngộ chúng sanh đạo lý truyền.
(Xem: 253)
Nhiều người biết thầy Minh Đạo là một nhà thư pháp có nét chữ phóng khoáng với những phong cách đặc thù không lẫn với ai được.
Quảng Cáo Bảo Trợ