Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
16,026,511
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250Logo-Hanh-Huong-AD-2019-tron-250

Phật giáo Nhật Bản có những tông phái nào?

Sunday, August 5, 201820:59(View: 976)
Phật giáo Nhật Bản có những tông phái nào?
Phật giáo Nhật Bản có những tông phái nào?
Hà Yên Sinh
Thích Trung Nghĩa dịch
Phật giáo Nhật Bản có những tông phái nào?
Phật giáo du nhập Nhật Bản vào thế kỷ thứ VI, sau đó trải qua thời kì Nara (710~785), thời kì Heian (794~1192) cho đến thời kì Kamakura (1192~1380), trước sau khoảng 700 năm, rồi phát sinh rất nhiều tông phái.
Thời kì Nara có 6 tông phái: Tam luận, Pháp tướng, Hoa Nghiêm, Luật tông, Thành thật, Câu-xá, gọi là “Nam đô lục tông” (南都六宗), Đại tạng kinh chữ Hán cũng truyền nhập thời kì này. Thời kì đầu Heian có 2 tông: Hoa nghiêm, Chân ngôn, gọi là “Heian nhị tông” (平安二宗). 8 tông phái này chủ yếu là tín ngưỡng của thượng tầng quý tộc trong xã hội lúc đó.

Đến thời kì Kamakura thì Thiền tông, Tịnh độ tông, Nhật Liên tông nối tiếp phát triển, Phật giáo bắt đầu lưu hànhnhân gian. Sau khi Phật giáo du nhập, đã kết hợp với văn hóa truyền thống Nhật Bản, rồi hoạch đắc phát triển mới, hình thành một số tông phái dân tộc hóa. Trên lịch sử, Phật giáo phát sinh ảnh hưởng to lớn đối với văn hóa Nhật Bản, mãi đến ngày nay, Phật giáo trên xã hội Nhật Bản vẫn có sức mạnh khá lớn. Để hiểu rõ Phật giáo Nhật Bản, nay giới thiệu ngắn gọn các tông phái chính Phật giáo Nhật Bản sau đây.

Tông phái thời kì Nara và Heian

Tam luận tông:do Tuệ Quán sáng lập. Tuệ Quánđệ tử của ngài Cát Tạng ở chùa Gia Tường. Sư đến Nhật Bản năm 625 sau Tây lịch, ở chùa Nguyên Hưng thời kì Asuka và giảng truyền Tam luận, bắt đầu kiến lập Tam luận tông, trở thành vị khai tổ đầu tiên về tông phái Phật giáo Nhật Bản. Sư có nhiều đệ tử rất có tiếng như Phước Lượng, Trí Tạng, Đạo Từ, họ từng đến triều nhà Đường để học tập Tam luận, thông thường hợp ba người này lại gọi là ‘Tam truyền’ (三传) của Tam luận tông. Tam luận tông nhấn mạnh nghiên cứu lý luận, xem nhẹ thực tiễn tôn giáo, nên lưu truyềnNhật Bản không lâu sau thì lần lượt bị tàn lụi. 

Pháp tướng tông:Pháp Tướng tôngNhật Bản có Tứ truyền. Thứ nhất là Đạo Thiệu. Sa môn Đạo Thiệu ở chùa Nguyên Hưng thời Nara, năm 653 sư đi theo sứ giả đến triều nhà Đường, làm học trò học tập với ngài Huyền Trang. Sư ở đất Hán 7 năm, sau đó về nước ở chùa Nguyên Hưng, hoằng tuyên rạng rỡ học thuyết Pháp tướng. Truyền thứ hai là Trí Thông, Trí Đạt. Hai người này cùng dong thuyền đi đường biển đến đất Hán vào năm 658, bái kiến ngài Huyền Trang, tôn ngài Khuy Cơ làm để học giáo nghĩa Pháp tướng, học xong về nước, sau truyền sở học.

Truyền thứ ba là các vị: Trí Phụng, Trí Loan, Trí Hùng. Họ phụng chỉ đến triều Đường, học giáo nghĩa Duy thức với ngài Trí Chu, sau về nước hoằng rộng Duy thức. Truyền thứ tư là Huyền Phưởng, sư là đệ tử được Trí Phụng truyền lại, năm 717 sư vâng lệnh dong thuyền đến đất Hán, học tập giáo nghĩa Pháp tướng với ngài Trí Chu, ở đất Hán 18 năm, được hoàng đế Mông Huyền tông sắc ban ca-sa, đến năm 734 thì mang tạng kinh có được về nước, ở chùa Hưng Phước, hoằng rộng sở học. Xưa nay người ta gọi chung hai vị đầu là “Nam tự truyền” (南寺传) hoặc “Nguyên hưng tự truyền” (元兴寺传), gọi chung hai vị sau là “Bắc tự truyền” (北寺传) hoặc “Hưng phước tự truyền” (兴福寺传). 

Hoa Nghiêm tông: do Đạo Duệ thời Đường truyền nhập Nhật Bản. Đạo Duệ là tăng lữ ở chùa Đại Phước Tiên trong thành Lạc Dương. Sư nhận lời yêu cầu của tăng sĩ Vinh Duệ và Phổ Chiếu mà đến Nhật Bản. Năm 736, sư đem chương sớ Hoa Nghiêm qua Nhật Bản, hoằng dương Hoa Nghiêm.

Lúc đó cao tăng Triều TiênThẩm Tường cũng đến Nhật Bản, ở chùa Đại An, tinh thông giáo nghĩa Hoa Nghiêm tông, năm 740 lần đầu tiên Thẩm Tường giảng Hoa Nghiêm kinh trong đạo tràng chùa Kim Chung, là sơ tổ Hoa Nghiêm tông Nhật Bản, Hoa Nghiêm tông từ đó bắt đầu phát triển. Đến thời kì Kamakura, tuy nhiên có trở ngại, việc hoằng truyền của cao tăng gặp khó khăn, nên họ chỉ dừng lại ở trên nghiên cứu giáo nghĩa, mà chưa phổ cập dân gian, nên giáo nghĩa dần mờ nhạt. Chùa Tōdai-ji ở Nara là biểu trưng cho tông này.      

Luật tông:do Giám Chân thời Đường sáng lập. Sa-môn Nhật Bản là Vinh Duệ và Phổ Chiếu đến Đất hán vào năm 733 để cầu học giới luật, lúc đó nghe Giám Chân ở chùa Đại Minh trong Dương châu là bậc danh đức luật học đương thời, rồi dần dà lòng thành mời sư đến Nhật Bản hoằng hóa. Ban đầu sư đến Nhật Bản, tức là vào năm 743, sư cùng với đệ tử đem phẩm vật kinh sách lên thuyền đi về phía Đông, sáu lần vượt biển, gặp gian khổ chín chết một sống vẫn không rút lui, chịu mọi gian nan, cuối cùng đến Nhật Bản vào năm 753, được tăng tục triều đình Nhật Bản hân hoan đón rước.

Năm sau sư đến kinh sư. Thiên hoàng hạ chiếu an trí ở chùa Tōdai-ji, hưng kiến giới đàn. Thiên hoàng, hoàng hậu và hoàng thái tử cùng hơn 400 người đăng đàn thọ giới bồ-tát, những tăng sĩ Nhật Bản như Linh Dụ, Hiền Giới, Chí Trung đều bỏ giới củ mà thọ giới mới, đó là giới đàn truyền giới đầu tiên ở Nhật Bản. Năm 757, để có phương tiện luật học, sư xây chùa Chiêu Đề ở Nara, rồi kiến lập giới đàn. Sư là vị sơ tổ sáng lập Luật tông Nhật Bản. Sau đó, theo biến thiên năm tháng mà tông phong chìm lắng, thời gian lâu vẫn không mở giới đàn.    

Thực ra, ngoài Tứ tông ra, còn có Thành thật tôngCâu-xá tông. Thành thật tông do tăng sĩ người Triều TiênTuệ Quán thời Tùy sau khi đem Thành thật luận truyền nhập Nhật Bản, giảng tập ở Nhật Bảnlần lượt hình thành tông phái. Câu-xá tông do tăng Nhật BảnĐạo Chiêu, Trí Thông, Trí Đạt đến triều Đường rồi đem Câu-xá luận truyền vào Nhật Bản, sau đó giảng thuật rạng rỡ mà hình thành tông phái. Nhưng mà, nguồn gốc hai tông này chỉ là dựa trên Tam luận tôngPháp tướng tông mà thôi, chưa có hoằng truyền độc lập, cũng chưa được đặc biệt xem trọng.     

Thiên Thai tông: Tối Trừng (còn gọi là đại sư truyền giáo, 767~822) là vị sáng lập Thiên Thai tôngNhật Bản. Năm 840, sư dong thuyền đến đất Hán, rồi học tập giáo nghĩa Thiên Thai với Đạo Thúy và Hạnh Mãn, được Đạo Thúy truyền bồ-tát giới, rồi đến học thiền pháp với Pháp Dung trên núi Ngưu Đầu. Năm sau lại đến học tập Mật giáo với a-xà-lê Thuận Hiểu ở chùa Linh Nham, rồi thọ quán đỉnh Mật giáo. Đầu năm Thiên Hựu thời Đường, pháp môn mà sư đã học, nghiêng về bốn tông: Thiên thai tông, Chân ngôn tông, Thiền tông, Giới luật tông, nên gọi là “Tứ tông tương thừa”.

Sư về nước năm 805, ở núi Hiei, khai sáng Thiên Thai tông Nhật Bản, viết cuốn Đường quyết tập (唐诀集), Thủ hộ quốc giới chương (守护国界章), cuộc đời viết hơn 280 bản văn, sau khi viên tịch được vua phong thụy là “Truyền Giáo đại sư”. Trong số đệ tử của sư, có Viên NhânViên Trân cũng nối tiếp đến triều Đường cầu pháp, sau khi về nước, đã hoằng truyền rạng rỡ giáo nghĩa Thiên ThaiChân Ngôn tông, thúc đẩy Thiên Thai tông phát triển mau chóng ở Nhật Bản, đến nay vẫn thịnh không suy.     

Chân Ngôn tông: do không Hải sáng lập. Năm 804, Không Hải (774~835) đi cùng Tối Trừng theo sứ thần đến triều Đường, đến ở chùa Thanh Long trong thành Trường An, lạy a-xà-lê Huệ Quả làm thầy, được nhận hai bộ “Đại mạn-đà-la bí Mật pháp”, và được vị a-xà-lê truyền quán đỉnh, đồng thời còn ưa học ‘Tất đàm’ với tam tạng Bát-nhã. Năm Chí Đức thời Đường, sư mang về nước hơn 100 điển tịch nội điểnngoại điển, hoằng truyền rạng rỡ Mật giáo, được triều đình tôn sùng.

Sư khai sáng Chân Ngôn tông, mở mang đạo tràng căn bản trên núi Koya, viên tịch năm 835, vua sắc thụy hiệu “Hoằng Pháp đại sư”. Sư viết Bí mật mạn-đà-la giáo phú pháp truyện (秘密曼茶罗教付法传), Biện hiển mật nhị giáo luận (辨显密二教论), cuộc đời sư viết hơn 150 bản. Sư có các đệ tử như Thưởng Hiểu, Viên Hạnh cũng nối gót đến đất Hán cầu pháp, sau khi về nước, hoằng truyền sở học, nên mang tác dụng rộng lớn trong việc phát triển Chân ngôn tông Nhật Bản

Như trên đã trình bày, thời kì Nara và Heian là sơ truyền và giai đoạn hấp thu của Phật giáo Nhật Bản, trước sau thành lập các tông phái lớn đều trực tiếp hoặc gián tiếp do từ Trung Quốc truyền nhập, còn về giáo nghĩa thì kế thừa từ Phật giáo Trung Quốc mà không có đột phá mới. Tồn tạilưu truyền của các tông phái này, một mạch được xem là tư tưởng văn hóa mang tính chỉ đạo một dạng chính trị, tiếp nhận từ việc bảo vệ đất nước và quý tộc, rõ ràng có đủ tính quý tộc, nhưng không có nền tảng dân chúng. 

Tông phái mới được hưng khởi thời kì Kamakura: Thời kìKamakura, Phật giáo bắt đầu kết hợp với tín ngưỡng dân gian Nhật Bản, rồi gặt hái được phát triển mới, tiếp tục hưng khởi Tịnh độ tông, Chân tông, Nhật Liên tôngThiền tông mang đầy đủ đặc thù dân tộc Nhật Bảntiếp tục hưng khởi. Những tông phái này, đều hướng đến việc truyền giáo cho dân chúng làm trọng điểm, trên giáo nghĩa thì xây dựng một hệ thống lý luận ách yếu gọn rõ để dân chúng dễ tiếp thu, chú trọng tư tưởng tín ngưỡng, từ đó phát triển nhanh chóng, nên gọi là “Kamakura tân Phật giáo” (鎌仓新佛教) hoặc “Nhật Bản Phật giáo (日本佛教).

Tịnh Độ tông: Pháp Nhiên (pháp danh Nguyên Không) là người sáng lập Tịnh Độ tông Nhật Bản. Pháp Nhiên (1133~1212), năm 13 tuổi lên núi Hiei xuất gia, theo a-xà-lê Hoàng Viên để học tập, nghiên cứu về huyền chỉ nhị môn: giáo, quán. Sau đó đến học hỏi các danh tăng, nghiêng về nghiên cứu Phật giáo, người thời đó gọi Pháp Nhiên là: “Tọa chủ Pháp Nhiên trí tuệ đệ nhất” (智慧第一法然座主). Từ lúc sư đọc đến đoạn “Nhất tâm chuyên niệm danh hiệu Di-đà” trong cuốn Quán kinh tán thiện nghĩa (观经散善义) của ngài Thiện ĐạoTrung Quốc, mà có nhiều sở ngộ.

Năm 1175, sư khai sáng Tịnh Độ tông Nhật Bản “Nhất hướng chuyên tu tông”. Sư chưa từng đến Trung Quốc, nhưng lập tông khai giáo của sư được kế thừa tư tưởng Tịnh độ của ngài Thiện Đạo thời Đường Trung Quốc. Thông qua phán giáo của hệ thống, có thể thấy được ngoài các tông phái ra, còn sáng lập các hệ phái độc lập. Sau đại sư Không Hải sáng lập Chân Ngôn tông, có thể nói sư là người số một.

Sư viết cuốn Tuyển trạch bổn nguyện niệm Phật tập (选择本愿念佛集), luận thuật tôn chỉ của việc sáng lập Tịnh Độ tông, và công khai tuyên ngôn “Ta dựa vào bậc thầy Thiện Đạo, mà khai sáng Tịnh độ tông”. Sư chỉ định Vô Lượng Thọ kinh, Quán Vô Lượng Thọ kinh, A-di-đà kinhVãng sanh tịnh độ luận của ngài Thiên Thân là “Tịnh độ tam kinh nhất luận” để thành lập giáo nghĩa tịnh độ, chủ trương “xưng danh niệm Phật” liền  có thể vãng sanh Tây phương. Tịnh Độ tông sau đó phân ra hai phái lớn là: Trấn Tây phái, Tây Sơn phái. Sư có rất nhiều đệ tử, trong đó Thân Loanđệ tử rất nổi tiếng.     

Tịnh độ Chân tông:gọi tắt là Chân tông, do đệ tử của Pháp NhiênThân Loan sáng lập. Thân Loan (1173~1262) người Kyōto, xuất thân quý tộc, mẹ mất sớm từ nhỏ, sau  đến xuất gia với tăng chánh Viên Từ ở Thanh Liên viện, rồi có là pháp danh Phạm Yến, ở núi Hiei 10 năm, còn đến Nara để nghiên cứu tham học với luận sư các tông như Tam luận, Pháp tướng. Sau đó nghe Pháp Nhiên tuyên dương pháp môn dễ thực hành niệm Phật, sư lập tức đến thảo am Cát Thủy lạy xin Pháp Nhiên truyền dạy, và đổi tên là Xước Không. Lúc 31 tuổi, sư kết hôn với con gái quý của Kujō Kanezane, trở thành tăng sĩ có vợ đầu tiên ở Nhật Bản, cũng là bắt đầu cho quan hệ phát sinh giữa Chân tôngquý tộc.

Sau đó do từ việc phát sinh hai tăng sĩ: Trụ Liên, An Lạc phạm giới xuất giadâm dục với cung nữ, dẫn đến sư và họ bị đuổi khỏi, bị lưu đày đến Echigo (nay là Niigata), rồi sư tự xưng là “Ngu Thốc Thân Loan” (愚秃亲鸾). 5 năm sau thì gặp lúc Pháp Nhiên viên tịch, sư chuyển tới Tōhoku Nhật Bản để truyền giáo, rồi lấy họ là Ngu Thốc, chính thức đổi tên là Thân Loan. Sư viết bộ Giáo hạnh tín chứng văn loại (教行信证文类) gồm 6 quyển, là giáo điển căn bản để lập giáo khai tông. Sư nhấn mạnh ‘người ác’ cũng có thể vãng sanh Tây phương, dẫn đến dân chúng ưa chuộng. Chân tông về sau phát sinh rất nhiều hệ phái, chùa Hongan-ji và Otani phái rất có ảnh hưởng.  

Nhật Liên tông:còn gọi là Pháp Hoa tông, do Nhật Liên sáng lập. Nhật Liên xuất gia năm 16 tuổi, đạo hiệu là Thánh Phòng Liên Trưởng. Nhật Liên trước sau tới học tập ở các nơi như Kamakura, Kyōto, Nara, Cao Dã. Năm 1253, sư ở chùa Thanh Trừng sáng lập Nhật Liên tông. Chủ trương lấy Pháp Hoa kinh làm kinh điển dựa vào chính yếu, tuyên dương công đức theo Pháp Hoa kinh, chỉ có tuyên thuyết đề mục Pháp Hoa kinh và xướng niệm “Nam mô Diệu Pháp Liên Hoa kinh”, mới có thể cứu vớt chúng sanh, nên lần lượt ảnh hưởng nhiều trong xã hội dân chúng.

Sư viết cuốn Lập chánh an quốc luận (立正安国论), ra sức bài bác công kích các tông phái như: Tịnh độ, Thiền, Chân Ngôn. Sư nhiều lần dâng sớ lên triều đình Mạc phủ Tokugawa, thỉnh cầu ngăn cấm, sau đó bị phải Mạc phủ Tokugawa phán xét sư mang “Tội cuồng ngôn mê hoặc người”, nên sư nhiều lần bị lưu đày. Từ thế kỷ XIX về sau, trong Nhật Liên tông phát sinh ra nhiều tông phái mới hưng thịnh, như sáng lập Hội Soka Gakka, hội Risshō Kōsei Kai, hội Linh Hữu, đều thuộc ba chi phái hệ Nhật Liên tông. Những hệ phái thịnh hành mới này, đến nay chiếm hữu thế lực khá mạnh trong xã hội Nhật Bản.    

Thiền tông:Thiền tông Nhật Bản chia ra: Lâm Tế tôngTào Động tông, hai chi phái lớn đại khái như hệ thống Thiền tông Trung Hoa. Lâm Tế tông do tăng sĩ Nhật Bản Vinh Tây truyền nhập, Tào Động tông do tăng sĩ Nhật Bản Đạo Nguyên truyền nhập. Vinh Tây (1141~1215) từ năm 1168 và năm 1186 đã hai lần đến triều Tống, rồi tham học với các Thiền sư ở trên các ngọn núi Thiên Thai, Lư Sơn, Dục Vương, Thiên Đồng, sau đó đến ở chùa Vạn Niên trên núi Thiên Thai, yết kiến Thiền sư Hư Am, được truyền tâm ấn Lâm Tế, còn trao giấy chứng nhận và y cụ làm ấn tín.

Sau sư về nước thì lập hai chùa, phát triển sáng soi thiền học, đồ chúng tập trung, chủ trương ‘khán thoại thiền’, viết cuốn Hưng Thiền hộ quốc luận (兴禅护国论), cuộc đời sư viết 9 quyển, 7 bộ, trở thành tông phái mới Lâm Tế tông Nhật Bản. Lâm Tế tông hiện nay còn chia ra 15 hệ phái, Diệu Tâm tự pháiKiến Trường tự phái là có ảnh hưởng rất lớn.

Đạo Nguyênđệ tử do Vinh Tây truyền lại, cũng đến triều Tống vào năm 1233, trải qua tham học các Thiền sư ở trên các núi Thiên Đồng, Thiên Thai, Kinh sơn, sau đó được Thiền sư Như Tịnh ở chùa Cảnh Đức trên núi Thiên Đồng chỉ điểm bèn hoát nhiên khai ngộ, được ấn chứng, thọ truyền bí ẩn và tấm ảnh y cụ, về nước năm 1227, lập chùa Vĩnh Bình trên núi Tản Tùng, hoằng rạng rỡ thiền học, nhấn mạnh tu ‘mặc chiếu thiền’, đề xướng không “Cứ việc ngồi thiền, tức tâm là Phật”, viết cuốn Chánh pháp nhãn tạng (正法眼藏), cuộc đời sư viết 118 quyển, 9 bộ sách, xiển dương tôn chỉ Tào Động, sáng lập Tào Động tông Nhật Bản.    

Thiền sư Ẩn Nguyên thời Minh qua Nhật Bản khai sáng Hoàng Bá tông, và cùng với Lâm Tế, Tào Động mà lập thế chân vạc thành ba, tông phong đại khái tương đồng với Lâm Tế, cũng có xướng tụng, pháp thức âm thanh lời kinh, cũng có thay đổi quy cách phong thái, lúc đó trong chùa khích lệ sôi nỗi phong trào học vấn, cơ cấu giáo dục học vấn và nghĩa học các tông phái cũng theo thời cuộc mà phát triển. Hoạt động giáo dục rầm rộ, nhân tài xuất hiện rất nhiều trong các tông phái. Phật giáo Nhật Bản lần lượt hình thành: quốc gia hóa, xã hội hóa, gia đình hóa, chia rõ tông pháihiện đại học thuật hóa, dẫn đến đặc chất Phật giáo liên quan mật thiết đến đất nước và dân chúng.   

Bản văn trích lục từ tạp chí “Pháp âm”    

***

Tiến sĩ triết học Hà Yên Sinh (1962~?), Giáo sư tôn giáo học Đại học Women's Kōriyama (Koriyama Women's University) Nhật Bản. Lĩnh vực nghiên cứu của ông là tỉ giảo tôn giáo học, đối thoại tôn giáo, nghiên cứu tôn giáo, sử tư tưởng Phật giáo, thiền học Đông Á; soạn viết nhiều tác phẩm bằng tiếng Nhật Bản và tiếng Hán. Giới nghiên cứu Phật giáoTrung QuốcÂu Mỹ đánh giá ông là “Một vị học giả Phật giáo nổi tiếng có đủ tiêu chuẩn quốc tế” (theo Học viện triết học đại học Vũ Hán)

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
(View: 132)
Ở cấp độ đầu tiên của tu tập, trong bản chất con người, việc dâm dục sẽ bắt nguồn cho việc luân hồi (saṃsāric),
(View: 301)
Ngài Huệ Khả xin Sơ Tổ Thiền Tông Bồ Đề Đạt Ma dạy pháp an tâm. Tích này có thể nhìn từ Kinh Tạng Pali ra sao?
(View: 185)
Phật Giáo - Một Bậc Đạo Sư, Nhiều Truyền Thống - Đức Đạt Lai Lạc Ma đời thứ 14, Ni sư Thubten Chodren
(View: 319)
Nhận thức luận trongTriết học cổ điển Ấn-độ và trongTriết học Phật giáo - Gs Nguyễn Vĩnh Thượng
(View: 763)
Kinh Phật dạy có nhiều cách giải nghiệp. Sau đây là trích dịch một số kinh liên hệ tới nghiệp và giải nghiệp.
(View: 178)
Hoàng đế A Dục chấp nhậnquốc giáo rồi đem vào Tích Lan và các nước lân cận, Phật giáo phát triển nhanh chóng ở Đông phươngcuối cùng trở thành tôn giáoảnh hưởng nhất trên thế giới.
(View: 625)
Sự kiện cho kinh này, nói ngắn gọn, theo luận thư, là vì: thành phố Vesali bị nạn dịch, gây chết chóc, đặc biệt với người nghèo. Vì xác chết nằm la liệt, các vong hung dữ bắt đầu quậy phá thành phố...
(View: 269)
Nhiều Phật tử tuy nói là tu theo Đại thừa nhưng thật ra rất ít người biết rõ tông chỉ của Đại thừa hoặc chỉ biết sơ sài, nên việc tu hành không đạt được kết quả.
(View: 388)
Trong các kinh điển có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng chữ Niết Bàn (Nirvana) không ngoài những nghĩa Viên tịch (hoàn toàn vắng lặng),
(View: 304)
Nói đến giáo dục chính là xu hướng vươn lên của con người trong lý tính duyên sinh, nhằm đạt thành chân - thiện - mỹ cho cuộc sống chung cùng
(View: 759)
Tinh túy của đạo Phật là: nếu có khả năng, ta nên giúp đỡ người khác; nếu không thể giúp họ, thì tối thiểu nên hạn chế việc gây hại cho họ.
(View: 1000)
àm thế nào để các lậu hoặc đoạn tận lập tức? Nghĩa là, không cần trải qua thời gian. Cũng không cần tu Tứ niệm xứ hay Tứ thiền bát định.
(View: 657)
Các pháp không tự sinh Cũng không do cái khác sinh. Không do sự kết hợp cũng chẳng nhân nào sinh. Tất cả đều vô sinh.
(View: 1018)
Tới cuối kinh này, Đức Phật dạy về pháp Niết Bàn tức khắc, ngay trong hiện tại, giải thoát ngay ở đây và bây giờ.
(View: 629)
Tôn giáo nào cũng có những nhà truyền giáo, phát nguyện rao giảng những điều mà họ tin là mang đến hạnh phúc cho nhân loại.
(View: 1096)
Ấn-độ là một bán đảo lớn ở phía Nam Châu Á. Phía Đông-Nam giáp với Ấn-độ dương (Indian Ocean), phía Tây-Nam giáp với biển Á-rập ( Arabian Sea).
(View: 802)
Nguyên bản: The Inner Structure, Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma, Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D., Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(View: 1166)
Thái tử Siddharta Gautama là người đầu tiên đã nghĩ rằng Ngài đã đạt được Giác ngộ. Ngài đã trở thành vị Phật lịch sử. Rồi Ngài đã đem những điều mình giác ngộgiáo hoá cho chúng sanh.
(View: 918)
Căn Bản Hành Thiền - Bình Anson biên dịch 2018
(View: 768)
Luận Duy thức tam thập tụng này được viết với mục đích khiến cho những ai có sự mê lầm ở trong nhân vô ngãpháp vô ngã mà phát sinh ...
(View: 669)
Ba địa mỗi địa mười, Năm phiền não, năm kiến, Năm xúc, năm căn, pháp, Sáu: sáu thân tương ưng.
(View: 567)
Bất cứ sắc gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại;thuộc nội phần hay ngoại phần, thô hay tế, hạ liệt hay thắng diệu, xa hay gần, mà dồn chung lại, tổng hợp thành một khối. Gọi chung là sắc uẩn.
(View: 568)
Kính lễ Nhất thiết trí, Vầng Phật nhật vô cấu, Lời sáng phá tâm ám Nơi nhân thiên, ác thú.
(View: 674)
Trong cách nghĩ truyền thống, Tứ Thánh đế (Cattāri Ariyasaccāni) được xem là bài pháp đầu tiên khi Đức Phật chuyển pháp luân độ năm anh em Kiều-trần-như.
(View: 756)
Suốt kinh Pháp hội Pháp giới Thể tánh Vô phân biệt, Bồ tát Văn-thù-sư-lợi là người thuyết pháp chính, Đức Phật chỉ ấn khả và thọ ký...
(View: 581)
An cư” là từ không còn xa lạ đối với tín đồ Phật giáo; tuy nó không có nghĩa “an cư lạc nghiệp” của đạo Nho, nhưng khía cạnh nào đó, “lạc nghiệp” mang nghĩa...
(View: 710)
Trung luận, còn gọi là Trung quán luận, bốn quyển, Bồ-tát Long Thọ trước tác kệ tụng, ngài Thanh Mục làm Thích luận, được dịch ra chữ Hán ...
(View: 829)
Khi khảo sát về PHÁT BỒ-ĐỀ TÂM, chúng tôi tự nghĩ, chúng ta cần phải biết Bồ-Đề là gì? Bồ-Đề Tâm là thế nào?
(View: 950)
Trước tiên là về duyên khởi của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Theo truyền thuyết, Kinh này được Phật giảng vào lúc cuối đời, được kết tập trong khoảng năm 200.
(View: 700)
Phật và chúng sinh thật ra vẫn đồng một thể tánh chơn tâm, nhưng chư Phật đã hoàn toàn giác ngộ được thể tánh ấy.
(View: 1535)
Khi khảo sát về PHÁT BỒ-ĐỀ TÂM, chúng tôi tự nghĩ, chúng ta cần phải biết Bồ-Đề là gì? Bồ-Đề Tâm là thế nào? Phát Bồ-Đề Tâm phải học theo những Kinh, Luận nào?
(View: 842)
Cúng dườngnuôi dưỡng khiến Tam Bảo hằng còn ở đời. Tất cả những sự bảo bọc giúp đỡ gìn giữ để Tam Bảo thường còn đều gọi là cúng dường.
(View: 928)
Bốn cấp độ thiền định hay tứ thiền là bốn mức thiền khi hành giả thực hành thiền có thể đạt được.
(View: 1004)
Một bào thai sở dĩ có mặt trên cuộc đời này ngoài yếu tố chính là do cha mẹ sinh ra, còn là kết quả của một tiến trình không đơn giản.
(View: 764)
Đạo Phật là nguồn sống và lẽ sống của con người, là cương lĩnh cho nhân thế. Với sứ mạng thiêng liêng cao đẹp ấy, đạo Phật không xa lìa thực thể khổ đau của con người.
(View: 1054)
Mục đích của Đạo Phậtdiệt khổ và đem vui cho mọi loài, nhưng phải là người có trí mới biết được con đường đưa đến an lạchạnh phúc
(View: 839)
Người ta thường nói đạo Phật là đạo của từ bitrí tuệ. Đối với nhiều người Phật tử, từ bi là quan trọng hơn cả, và nếu khôngtừ bi thì không có đạo Phật.
(View: 886)
Các nhà khảo cổ đang nghiên cứu tại Nepal đã phát hiện bằng chứng về một kiến trúc tại nơi sinh ra Đức Phật có niên đại thế kỷ thứ 6 trước công nguyên.
(View: 1021)
Theo Đức Phật, tất cả những vật hiện hữu đều biến chuyển không ngừng. Sự biến chuyển này thì vô thuỷ vô chung. Nguồn gốc của vũ trụ không do một Đấng Sáng tạo (Creator God) tạo ra.
(View: 998)
Đức Phật đản sanh vào năm 624 trước Công nguyên. Theo lý giải của Phật Giáo Nam Tông thì Đức Phật sanh ngày Rằm tháng Tư Âm lịch.
(View: 1203)
Nếu bạn say mê đọc kinh Phật, ưa thích những phân tích kỹ càng về giáo điển, muốn tìm hiểu các chuyện xảy ra thời Đức Phật đi giảng dạy nơi này và nơi kia, hiển nhiên đây là một tác giả bạn không thể bỏ qua
(View: 897)
Tánh Không là một trong những khái niệm quan trọng và khó thấu triệt nhất trong giáo lý Phật giáo Đại thừa.
(View: 1160)
Nguyên bản: Meditating while dying; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(View: 1061)
Ba Mươi Hai Cách ứng hiện của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát. Bởi vì Quan Thế Âm Bồ Tát đồng một Sức Từ với đức Phật Như Lai cho nên ngài ứng hiện ra 32 thân, vào các quốc độđộ thoát chúng sanh
(View: 864)
Thể tánh của tâm là pháp giới thể tánh, bởi vì nếu không như vậy thì tâm không bao giờ có thể hiểu biết, chứng ngộ pháp giới thể tánh.
(View: 783)
Trong kinh tạng Nikāya, khái niệm con đường độc nhất (ekāyana magga) là một khái niệm thu hút nhiều sự quan tâm của học giới từ phương Tây cho đến phương Đông
(View: 773)
Thuật ngữ pháp (dharma, có căn động tự là dhṛ có nghĩa là “duy trì, nắm giữ”; Pāli: dhamma; Tây Tạng: chos) mang nhiều ý nghĩa và ...
(View: 739)
Trì danh là pháp tu Tịnh Độ phổ thông nhứt hiện nay. Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm, có Mười cách trì danh khác nhau
(View: 854)
Phật dạy tất cả pháp hữu vi đều là vô thường sanh diệt không bền vững, như vậy thìthế gian cái gì có tạo tác có biến đổi đều là vô bền chắc.
(View: 854)
Nguyên bản: Removing obstacles to a favorable death; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(View: 953)
Mối liên hệ giữa hình thức sớm nhất của Phật giáo và những truyền thống khác mà chúng đã phát triển về sau là một vấn đề luôn tái diễn trong lịch sử tư tưởngPhật giáo.
(View: 1037)
Nghiệp và Luân hồi là hai ý niệm đã có trong Ấn độ giáo, được giảng giải trong các Kinh Veda và Upanishad vào khoảng 1500 năm trước CN.
(View: 9940)
Nếu tính từ thời điểm vua Lương Vũ Đế tổ chức trai hội Vu lan ở chùa Đồng Thái vào năm Đại Đồng thứ tư (538), thì lễ hội Vu lan của Phật giáo Bắc truyền đã có lịch sử hình thành gần 1.500 năm.
(View: 1422)
Mục tiêu cao cả của đạo Phật là dạy con người tu tập để thoát khổ, giác ngộgiải thoát.
(View: 874)
Tổ Quy Sơn dặn: “Nói ra lời nào phải liên hệ với kinh điển. Đàm luận gì, phải xét lại lời người xưa”.
(View: 800)
Nhiều học giả phân vân là làm thế nào và tại sao những nhà Đại chúng bộ (Mahāsāṅghika) đã hình thành nên khái niệm về một Đức Phật siêu việt...
(View: 948)
Hoa Sen Diệu Phápgiáo pháp được thuyết giảng trong Kinh Pháp Hoa. Quang Trạch giải thích Diệu Pháp là nhân của đạo Nhất Thừa, là quả của đạo Nhất Thừa.
(View: 817)
Con người sống qui tụ lại thành một xã hội, và phát triển tập thể này rộng lớn dần dần thành một quốc gia.
(View: 2014)
Trước khi xác định Phật Giáo như là một hệ thống tư tưởng triết học (Buddhism as a philosophy) hay như là một tôn giáo (Buddhism as a religion), chúng ta sẽ tìm hiểu triết học là gì ? và Phật giáo là gì ?
(View: 937)
Lục độ Ba-la-mật-đa/ Sáu phương pháp tu Ba-la-mật-đa (Six Paramitas) là 6 pháp tu để giải trừ các khổ ách của Đại thừa Phật giáo.
Quảng Cáo Bảo Trợ