Logo HHAD 2018 250
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
14,849,403
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Tìm Hiểu Ý Nghĩa Kinh "nhất Dạ Hiền Giả"

25 Tháng Chín 201805:51(Xem: 468)
Tìm Hiểu Ý Nghĩa Kinh "nhất Dạ Hiền Giả"

TÌM HIỂU Ý NGHĨA
KINH "NHẤT DẠ HIỀN GIẢ"
(BHADDEKARATTA  SUTTA)
"One fortunate attachment /  Một dính mắc may mắn"

 Thích Nữ Hằng Như

         Tìm Hiểu Ý Nghĩa Kinh nhất Dạ Hiền Giả



Trung Bộ Kinh
 Nikaya (Majjhima Nikaya) có bốn bài kinh: 1) Nhất Dạ Hiền Giả (Bhaddekaratta Sutta), 2) Ananda và kinh Nhất Dạ Hiền (Anandabhaddekaratta Sutta); 3) Đại-Ca Chiên-Diên và kinh Nhất Dạ Hiền (Mahakaccanabhaddekaratta Sutta); 4) Lomasakangiya và kinh Nhất Dạ Hiền  (Lomasakangiyabhaddekaratta Sutta). Cả bốn bài kinh này đều xoáy trọng tâm vào một bài kệ do Đức Phật tổng thuyết và biệt thuyết nhằm khuyến tấn các đệ tử của Ngài hãy nỗ lực tu tập để phát huy tuệ quán nhận ra "cái đang là" của các pháp hiện tạivà an trú trong bây giờ và ở đây.

          Hôm nay chúng ta cùng nhau tìm hiểu ý nghĩa bài KinhNhất Dạ Hiền Giả mà xưa kia Đức Phật đã thuyết giảng cho các vị Tỳ Kheo, tại thành Savatthi (Xá Vệ), Jetavana (Kỳ-Đà Lâm), nơitịnh xá ông Anathapindika (Cấp-Cô-Độc).

          Bài kinh tiếng Pàli, có tựa đề là "Bhaddekaratta Sutta" đã được cố Đại Lão Hoà ThượngThích Minh Châu dịch là "Kinh Nhất Dạ Hiền Giả". Bài kinh đó như sau:

Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng
Quá khứ đã đoạn tận
Tương lai lại chưa đến
Chỉ có pháp hiện tại
Tuệ quán chính ở đây.
Không động không rung chuyển
Biết vậy nên tu tập,
Hôm nay nhiệt tâm làm,
Ai biết chết ngày mai?
Không ai điều đình được,
Với đại quân thần chết,
Trú như vậy nhiệt tâm,
Đêm ngày không mệt mỏi,
Xứng gọi Nhứt dạ Hiền,
Bậc an tịnhtrầm lặng.

 

NỘI DUNG BÀI KINH "NHẤT DẠ HIỀN GIẢ"

          Đại ý bài kinh này Đức Phật dạy chúng đệ tử không nên truy tìm quá khứ, không nên ước vọng tương lai vì quá khứ đã đoạn tận. Còn tương lai thì chưa tới. Đối với pháp hiện tại hãy quán sát bằng trí tuệ (Vipassati) để tâm được bình yên không bị dao động rung chuyển khi gặp những chuyện bất như ý. Phải tu tập tuệ quán ngay hôm nay vì không ai biết được Vô thường tức sự chết đến lúc nào, mà cũng không ai có thể điều đình van xin khất hẹn với cái chết. Vị nào tu tập luôn an trú trong tuệ quán, tức an trú trong Tánh giác ngày đêm không mệt mỏi, thì vị ấy xứng đáng được gọi là bậc Thánh an tịnh trầm lặng.

Ý NGHĨA CHI TIẾT BÀI KINH "BHADDEKARATTA"

          Bhaddekaratta là tập hợp của 3 từ: Bhadda, Eka và Ratta. Bhadda nghĩa là "may mắn". Eka nghĩa là "một", còn Ratta nghĩa là "dính mắc". Sutta nghĩa là "Kinh". Kinh là lời Phật dạy.

          Khi ghép từ "Bhadda" với từ "Eka", vì hai nguyên âm sát nhau nên bỏ bớt nguyên âm "a" viết là "Bhaddekaratta". Các học giả Tây Phương dịch tựa bài kinh này là: "One fortunate attachment".Dịch qua tiếng Việt là: "Một Dính Mắc May Mắn".

          - Trong bản kinh tiếng Việt, Hoà Thượng Thích Minh Châu dịch từ tiếng Pàli "Bhaddekaratta"qua tiếng Việt là: "Nhất Dạ Hiền Giả". Hiền giả là một bậc hiền triết, một bậc thánh hiền. Ở đâychúng ta tạm hiểu là một vị Thánh tăng tu tập an trú trong Tánh Giác được Đức Thế Tôn tán thán là bậc an tịnh trầm lặng. Còn nhất dạ là một đêm.

          Nhưng thực ra ý nghĩa của bài kinh không có gì là một đêm hết!

          Hoà Thượng Thích Thông Triệt thì cho rằng nội dung bài kinh này Đức Thế Tôn dạy phương pháp "tu tập an trú trong Tánh Giác" và cho đây là "một dính mắc may mắn".

          Chúng ta thử tìm hiểu xem tại sao "dính mắc mà may mắn", trong khi từ trước đến giờ Đức Phật khuyên bảo chúng đệ tử tu tập không được bám víu hay dính mắc với mọi thứ trên thế giannày. Chẳng hạn như sáu căn tiếp xúc sáu trần không được dính mắc với sáu trần, thì tâm mới đượcan ổn bình yên.

          Chúng ta lần lượt tìm hiểu nghĩa bình thường và nghĩa rộng của bài kinh, mà Đức Thế Tônmuốn nhắn nhủ chúng ta: "Quá khứ không truy tìm. Tương lai không ước vọng".   

          - Quá khứ: Là những chuyện đã xảy ra, đã qua rồi.

          - Tương lai: Là những chuyện chưa xảy ra.

          - Truy tìm: Là truy xét tìm tòi, lục lọi, bươi móc...  tìm lại những gì đã mất.   - Ước vọng:Nghĩa là mong ướcvọng tưởng những gì mình chưa có.

          Trong đoạn kinh này Đức Phật dặn dò chúng đệ tử "không nên truy tìm lại quá khứ, cũng không nên ước vọng tới tương lai". Theo như Ngài dạy thì:

          - "Truy tìm về quá khứ" có nghĩa là mình cố ý quay về tìm tòi những kỷ niệm hân hoan vui thích và muốn sống lại toàn bộ những hân hoan vui thích trong quá khứ, thì đó là mình truy tìm quá khứ.

          - "Không truy tìm quá khứ" có nghĩa là khi mình nhớ tới sự kiện xảy ra trong quá khứ, tâm mình vẫn bình thản, không bị kích động đau buồn hay khởi tâm đắm chìm toàn thân (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) với hân hoan vui thích trong quá khứ, thì đó là mình nghĩ về quá khứ nhưng không truy tìm quá khứ.

          - "Ước vọng trong tương lai": Khi mình nghĩ tới tương lai rồi tưởng tượng truy tìm sự hân hoan vui thích sống toàn bộ (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) trong sự tưởng tượng, thì đó là mình ước vọng trong tương lai.

          - "Tương lai không ước vọng": Sống trong cuộc đời cũng cần có những dự án cho tương lai. Khi đưa ra kế hoạch, thì tuần tự thực hànhBản thân không mơ mộng, không đắm chìm trongảo ảnh tương lai, thì đó là không ước vọng trong tương lai.

          Đức Phật khuyên chúng đệ tử không nên truy tìm quá khứ, không ước vọng tương lai vì Ngài cho rằng:

          - "Quá khứ đã đoạn tận.  Tương lai thì chưa tới": Hai câu này, Đức Thế Tôn giải thíchnguyên do tại sao không nên dính mắc với quá khứ hay tương lai, là bởi vì quá khứ chấm dứt rồi, đừng mơ tưởng sống lại trong quá khứ để tìm niềm vui hạnh phúc trong quá khứ. Còn tương lai thì đừng tìm sự hân hoan vui thích, đừng tưởng tượng mình đang sống hạnh phúc trong tương lai vì tương lai chưa tới.

          Thực ra nếu còn bám víu vào sự hân hoan vui thích tức là còn Tham. Nếu bám víu vào sự buồn khổ tức tối là còn Sân. Như thế là không tu tập theo Chánh pháp tức là còn Vô Minh.

          Đức Phật dạy không nên để Ngũ uẩn truy tìm quá khứ đã qua, cũng không ước vọng tương lai chưa tới. Vậy còn hiện tại thì sao? Đối với hiện tại Ngài dạy rằng: "Chỉ có pháp hiện tạiTuệ Quán chính ở đây, Không động, không rung chuyển,"

           - "Pháp hiện tại": Trong phần văn xuôi Đức Phật dặn không nên để bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại. Pháp hiện tại ở đây có thể hiểu là con người hay Ngũ uẩn trong hiện tại.

          Người không tu tập theo pháp của các bậc Thánh, bậc Chân nhân cho nên họ "quán ngũ uẩn là tự ngã, hay quán tự ngã có ngũ uẩn". Nghĩa là trong ngũ uẩn luôn có cái ngã, cái ta làm chủ. Đó là họ "bị lôi kéo vào pháp hiện tại".

          Nếu tu tập theo đúng Chánh pháp thì họ "không quán ngũ uẩn là tự ngã, không quán ngũ uẩn có tự ngã". Tức Ngũ uẩn là Ngũ uẩnNgũ uẩn không phải là Ngã, là tự Ngã. Như vậy là"không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại".

          Tuệ Quán: Đối với các pháp hiện tại Đức Thế Tôn dạy hãy quán sát bằng trí tuệ (Vipassati) để thấy rõ ba đặc tínhVô thường, Khổ, Vô ngã của hiện tượng thế gian. Khi nhận ra bản thân con người bị Vô thường, Khổ, Vô ngã chi phốihành giả biết rằng cái thân Ngũ uẩn này không thực chất tính cho nên nó Vô thường. Vị ấy siêng năng tu tập an trú trong "bây giờ và ở đây" tức trú trong các Tánh, không còn bị lôi cuốn theo các pháp hiện tại, nghĩa là không bị Ngũ uẩn lôi cuốnvào các pháp thế gian như: Tài, sắc, danh, thực, thuỳ là những pháp hiện tại.

          - "Không động không rung chuyển": Là nói đến Tánh Giác. An trú trong Tánh Giác là an trútrong "bây giờ và ở đây", Tâm không bị dính mắc vào hiện tượng thế gian thì Tâm đó là Tâm "không động không rung chuyển".

          Mấy câu đầu của bài kinhĐức Phật dạy chúng đệ tử không nên dính mắc vào Tâm Ba Thời mà phải tu tập quán chiếu các pháp hiện tại bằng Tuệ trí (Tuệ quán) để thấy "cái đang là" của pháphiện tại "ngay bây giờ và ở đây" tức "an trú trong Tánh Giác". An trú trong Tánh Giác hay Tâm bậc Thánh hoặc cao hơn là Tâm Phật sẽ không bị lay động khi những ngọn gió đời bất ngờ thổi tới. Trong kinh gọi chỗ đó là Tâm "không động không rung chuyển".

          Đức Thế Tôn dạy tiếp: "Biết vậy nên tu tập, Hôm nay nhiệt tâm làm.  Ai biết chết ngày mai? Không ai điều đình được, Với đại quân thần chết."

          - "Biết vậy nên tu tập, Hôm nay nhiệt tâm làm. Ai biết chết ngày mai?":  Nếu an trú trong Tánh Giác thì Tâm yên lặng "không động không rung chuyển". Hiểu như vậy, thì hôm nay phải siêng năng tu tập liền, vì cái chết sẽ đến với chúng ta bất cứ lúc nào. Có thể ngày hôm nay còn sống, nhưng ngày mai Vô thường cướp mất mạng sống của chúng ta mất rồi!

          Nói về sự Vô thường, tức nói về cái chết thì trong kinh có kể lại câu chuyện như sau: Một hôm, Đức Phật hỏi đệ tử: "Cuộc sống đời người kéo dài bao lâu?" Có người đáp: "Một năm". Có người đáp: "Một tháng". Có người đáp: "Một tuần" v.v... Nghe thế Đức Phật quở: "Các ông chưa hiểu được Vô thường". Sau cùng có một vị thưa: "Cuộc sống của đời người chỉ trong hơi thở", thì Đức Phật gật đầu khen: "Đúng".

          Câu chuyện trên cho thấy cuộc đời chúng ta sẽ gặp những bất ngờ xảy tới khó biết được. Riêng về cái Vô thường có khi nó đến từ từ, chậm chậm, có khi nó đến bất ngờ không ai lường trước được. Cho nên phải lo tu tập để có trí huệ sáng suốt, cũng như có định lực vững chắc ngay từ bây giờ không chờ đợi đến ngày mai vì ngày mai không bao giờ đến. Chính vì thế Đức Thế Tônmới bảo chúng ta "Biết vậy nên tu tập, Ai biết chết ngày mai?"

          - "Không ai điều đình được, Với đại quân thần chết": Không một ai có thể điều đình, van xin thần chết buông tha cho được sống thêm một thời gian nữa. Khi thần chết tức Vô thường đến thì đành bó tay chịu chết cho dù mình còn rất muốn sống.

          Giảng dạy xong Đức Thế Tôn khích lệ: "Trú như vậy nhiệt tâm. Đêm ngày không mệt mỏi.Xứng gọi Nhất dạ Hiền. Bậc an tịnh trầm lặng."

          - "Trú như vậy nhiệt tâm": Trú có nghĩa an trú hay an trụ trong Tánh Giác hay Tánh Nhận Thức không động không tung chuyển.

          - "Đêm ngày không mệt mỏi": Tu tập trong bốn oai nghi: Đi, đứng, nằm, ngồi. Lúc nào cũng phải tỉnh thức để mà sống trong cái bây giờ và ở đây.

          - "Xứng gọi Nhất dạ Hiền, Bậc an tịnh trầm lặng": Người miên mật tu tập, Tâm luôn yên lặng, trí tuệ sáng suốtđịnh lực vững chắc, được Đức Phật ví như là một bậc Thánh an tịnh trầm lặng.

TẠI SAO "DÍNH MẮC" lại "MAY MẮN"?

          - Rốt cuộc tựa bài kinh "Một dính mắc may mắn" là dính mắc vào cái gì mà được Đức Phậtgọi đó là dính mắc may mắn? Xét lại mục tiêu của đạo Phật là tu tập để được Thoát Khổ, Giác Ngộ,Giải ThoátCon người sở dĩ khổ đau là vì luôn sống trong Tâm Ba Thời. Tâm Ba Thời là tâm ích kỷ,đố kỵ, ưa ganh ghét, nó chứa đầy những tham sân si, mạn, nghi, tà kiến.

          Người sống trong Tâm Ba Thời bị pháp thế gian tài sắc danh thực thuỳ lôi cuốn. Những thứ dục này luôn khuấy động khiến bản thân phải sống trong phiền não khổ đau và làm cho người thân kẻ sơ liên hệ cũng khổ đau phiền muộn.  

          Người sống trong Tâm Ba Thời là người sống trong "cái Biết Có Lời" tức trong Tâm lúc nào cũng dính mắc với suy tư, phân biệtso sánh, tưởng tượng, tạo ra nhiều Nghiệp xấu, nên đó là những "dính mắc bất hạnh".

          Trong bài kinh "Nhất Dạ Hiền Giả"Đức Phật khuyên chúng đệ tử của Ngài hãy tu tập quan sát vạn pháp là Vô thường, Khổ, Vô ngã bằng cách nhìn hiện tượng thế gian qua con mắt Tuệ tức thấy "cái đang là" của đối tượng và an trú trong "Chánh Niệm bây giờ và ở đây", tức an trú trong Tánh Giác. An trú trong Tánh Giác thì tâm hoàn toàn yên lặng chỉ có dòng Biết Không Lời nghĩa là Thầm Nhận Biết trong yên lặng. Trạng thái Thầm Nhận Biết Không Lời vững chắc là trạng thái Địnhvững chắc. Định vững chắc thì bên trong tâm cô lập được lậu hoặctập khíkiết sửtuỳ miên... bên ngoài "tám gió đời" (Lợi-Suy, Xưng-Cơ, Huỷ-Dự, Lạc-khổ) thổi tới, Tâm vẫn "không động không rung chuyển".  Như vậy, an trú trong Tánh Giác hay sâu sắc hơn là Tánh Nhận Thức, thì đạt được mục tiêu Thoát Khổ, Giác NgộGiải Thoát. Vì thế "dính mắc với Tánh Giác là một dính mắc may mắn".Nhận định này thật là đúng đắn!

 

KẾT LUẬN

          Bài kinh "Bhaddekaratta" hay "One fortunate attachment" hoặc "Một Dính Mắc May Mắn" màHoà Thượng Thích Minh Châu dịch là "Kinh Nhất Dạ Hiền Giả", tuy ngắn gọn và đơn giản nhưng xét kỷ thì thật sâu sắc. Đức Phật đã nhắm đúng vào tâm trạng của chúng sinh luôn khổ để màgiảng bài kinh này.

          - Nỗi khổ con người không ngoài sự dính mắc với Tâm Quá KhứHiện Tại và Tương Lai. Người lớn tuổi hay dính mắc với quá khứ. Người trẻ tuổi hay dính mắc với tương lai. Thông thườngmọi người hay dính mắc với hiện tại, vì bên dưới có những đam mêlậu hoặc từ lâu đời.

           Sinh lão bệnh tử là quy luật khách quan không ai tránh khỏi. Khi Vô thường đến, chúng tađều phải ra đi. Khi ra đi tức khi chết, chúng ta bỏ lại tất cả tài sản gồm tiền bạc, vòng vàng, nhà cửa, ruộng vườn, đất đai, danh thơm tiếng tốt, vợ đẹp, con ngoan. Chúng ta chỉ có thể mang theomột trong hai loại hành trang:

          - Hành trang thứ nhất là: Tâm đời mang theo lậu hoặc, nghiệp xấu và nghiệp tốt. - Hành trang thứ hai là: Tâm linh mang theo trí huệcông đức tu hành.

          Cuộc sống của chúng ta tuỳ theo hơi thở. Còn thở thì sống. Ngưng thở thì chết. Cho nên khi còn sống trên đời này, dù gặp hoàn cảnh nào chúng ta cũng cố gắng sống một cuộc đời đáng sống dù dài hay ngắn. Sống một cuộc đời đáng sống là sống tỉnh thức, sống an vui, sống lợi íchcho mình và cho người.

          Sau khi tìm hiểu ý nghĩa của bài kinh "Một dính mắc may mắn" này, chúng ta nhận ra: Chỉ có "sát na bây giờ và ở đây là cái biết của Tánh Giác".  Nếu an trú trong đó thì chúng ta tự làm chủ lấy mình.

          Trong kinh, Đức Thế Tôn dạy chúng ta phải tu tập liền để làm chủ lấy Tâm hầu chuyển nghiệp trong giây phút bây giờ và ở đây chứ không thể chần chờ.

          Tu tập thì có thể tu theo đường Huệ: Thấy Biết Như Thật, Không dán nhãn đối tượng. Tu theo đường Định thì tu theo pháp Thở, Không Nói hay Không định danh đối tượng.

          Tóm lại qua nội dung bài kinh Bhaddekaratta, chúng ta nhìn hiện tượng thế gian qua cái Biết không lời của Tánh Giác để được an trú trong Tánh Giác, chuyển nghiệp từ từ đi trên con đườngtâm linh. Đây chính là một dính mắc may mắn vậy!

THÍCH NỮ HẰNG NHƯ

September 19-2018

(Giảng tại chùa Địa Tạng, Montreal, Canada tháng 6-2016

và đạo tràng Thiền Tánh Không Houston, Texas, USA tháng 7-2017)

Tài liệu:

Trung Bộ Kinh: (131) Kinh Nhất Dạ Hiền Giả (Bhaddekaratta Sutta). Hoà Thượng Thích Minh Châudịch sang tiếng Việt.

-  Giáo trình giảng dạy của Hoà Thượng Thích Thông Triệt lớp Thiền Căn Bản.

Bài đọc thêm:
Kinh Nhất Dạ Hiền Gỉa (Thích Minh Châu dịch)
Hiện Pháp Lạc Trú   (nhiều bài viết về phương pháp thực hành "An trú trong hiện tại"


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 479)
Evaṃ me sutaṃ, “như vầy tôi nghe”, là lời Ngài Ananda bắt đầu mỗi bài kinh mà có lẽ không Phật tử nào là không biết.
(Xem: 8802)
Nếu tính từ thời điểm vua Lương Vũ Đế tổ chức trai hội Vu lan ở chùa Đồng Thái vào năm Đại Đồng thứ tư (538), thì lễ hội Vu lan của Phật giáo Bắc truyền đã có lịch sử hình thành gần 1.500 năm.
(Xem: 555)
Phật dạy giới này áp dụng chung cho tất cả các Phật tử tại gia, không phân biệt Phật tử này thuộc thành phần hay đẳng cấp xã hội nào.
(Xem: 487)
Sa-môn Thích Đàm Cảnh dịch từ Phạn văn ra Hán văn, tại Trung-quốc, vào thời Tiêu-Tề (479-502). Cư sĩ Hạnh Cơ dịch từ Hán văn ra Việt văn, tại Canada, năm 2018.
(Xem: 1828)
Đức Phật A Di Đà tự thân có ánh sáng vô lượng, chiếu khắp cả mười phương mà không có vật gì có thể ngăn che. Vì vậy nên Phật A Di Đà có nghĩa là Vô Lượng Quang Phật.
(Xem: 1872)
Nguyên tác Hán văn: Tì-kheo Linh Diệu, tông Thiên Thai soạn - Dịch sang tiếng Việt: Thích Thọ Phước
(Xem: 1900)
Ngài Buddhaghosa sanh ra và lớn lên nước Magadha, thuộc Trung Ấn Độ, vào thế kỷ thứ V trong ngôi làng Ghosa, gần địa danh nơi đức Phật thành đạo Bodhigaya
(Xem: 1962)
Nghiên Cứu Về Kinh A Hàm (Ãgama, Sanscrist)
(Xem: 2738)
Ai nói như sau, này các Tỷ-kheo: "Người này làm nghiệp như thế nào, như thế nào, người ấy cảm thọ như vậy, như vậy".
(Xem: 2169)
Đây là những điều tôi nghe hồi Bụt còn ở tại tu viện Cấp Cô Độc trong vườn cây Kỳ Đà ở thành Vương Xá.
(Xem: 2173)
Vào thời Đức Thích-ca-mâu-ni, không có hệ thống chữ viết được phổ biếnẤn Độ. Do đó, những thuyết giảng của Ngài được ghi nhớ và ...
(Xem: 2481)
"Lại nữa, lúc bấy giờ Mahāmati thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, ngài đã từng dạy rằng: từ lúc Như Lai chứng nghiệm giác ngộ cho đến...
(Xem: 3005)
Kinh Địa Tạng là một trong các kinh Đại thừa được phổ biến rộng rãi trong quần chúng Việt Nam từ hơn nửa thế kỷ nay song song với các kinh Kim Cương, Di Đà, Phổ Môn...
(Xem: 3532)
Nguyên tác: Tôn giả Thế Thân (Acarya Vasubandhu) - Hán dịch: Tam Tạng Pháp sư Huyền Tráng; Việt dịch: Tỳ khưu Tâm Hạnh
(Xem: 2290)
No. 1613 - Nguyên tác: Tôn giả An Huệ; Dịch Hán: Tam Tạng Pháp sư Địa-bà-ha-la; Dịch Việt: Tâm Hạnh
(Xem: 3186)
Duy thức nhị thập luận, do bồ tát Thế Thân soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường... được thu vào Đại chính tạng, tập 31, No.1590.
(Xem: 3092)
Bồ-tát Trần Na tạo luận. Tam tạng Pháp sư Huyền Trang phụng chiếu dịch. Việt dịch: Quảng Minh
(Xem: 5027)
Nghe như vầy, một thời Đức Phật ở nước Xá Vệ ở vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc cùng chúng đại Tỳ Kheo năm trăm vị. Bấy giờ các thầy Tỳ Kheo...
(Xem: 3289)
No. 699; Hán dịch: Đời Đại Đường, Trung Thiên Trúc, Tam tạng Pháp sư Địa bà ha la, Đường dịch là Nhật Chiếu
(Xem: 3573)
Đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni, bắt đầu chuyển pháp-luân, độ cho năm vị Tỳ-Khưu là Tôn-giả Kiều-Trần-Như v.v... Sau cùng, Ngài thuyết pháp độ cho ông Tu-bạt-đà-la.
(Xem: 2665)
Kinh Phạm Võng nằm trong Đại Chánh Tạng, tập 24, ký hiệu 1484, gọi đủ là Phạm võng kinh Lô xá na Phật thuyết bồ tát tâm địa giới phẩm đệ thập
(Xem: 3366)
Phật thuyết-giảng Kinh Phạm-Võng để dạy về giới-luật, và các pháp cao-siêu vượt thoát được sáu mươi hai kiến-chấp vốn là các tà-kiến đã...
(Xem: 2912)
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana, vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc). Ở đây,,,
(Xem: 3459)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Kinh Tập, Kinh số 0434; Dịch Phạn - Hán: Tam Tạng Cát-ca-dạ, Dịch Hán - Việt và chú: Tỳ-kheo Thích Hạnh Tuệ; Hiệu đính: HT Thích Như Điển
(Xem: 2647)
Đời Đường, Thận Thủy Sa Môn Huyền Giác Soạn; Thánh Tri dịch nghĩa Việt và viết bài học giải...
(Xem: 3029)
Phật giáo được khai sáng ở Ấn-độ vào năm 589 trước kỉ nguyên tây lịch (năm đức Thích Ca Mâu Ni thành đạo), và đã tồn tại liên tục, phát triển không ngừng trên ...
(Xem: 3383)
Trong truyền thống Phật giáo Bắc truyền, Dược Sư là một bản kinh thường được trì tụng nhằm mục đích giải trừ tật bệnh, cầu nguyện bình an...
(Xem: 3428)
Thích-ca là phiên âm của tiếng Phạn. Phiên âm Hán Việt là Năng Nhân. Tức là họ của đấng hóa Phật ở cõi Ta-bà...
(Xem: 4431)
Kinh chuyển Pháp luân là bài thuyết Pháp đầu tiên của Đức Phật Thích-ca sau khi Ngài đã đắc đạo.
(Xem: 3920)
Ba Ngàn Oai Nghi Của Vị Đại Tỳ Kheo - Được xếp vào tập T24 - Kinh số 1470 - Tổng cộng kinh này có 2 quyển
(Xem: 3889)
Những gì xảy ra trong thế giới này đều bị qui luật Nhân quả chi phối. Mọi thứ xuất hiện ở đời đều có nhân duyên. Hạnh phúcthế gian hay Niết bàn của người tu đạo không ra ngoài qui luật ấy.
(Xem: 4344)
Satipatthana Sutta là một bản kinh quan trọng làm nền tảng cho một phép thiền định chủ yếu trong Phật giáo là Vipassana...
(Xem: 3764)
Kinh Tứ Thập Nhị Chương là một bài Kinh được truyền bá khá rộng rải ở các Tồng Lâm Tự Viện của Trung QuốcViệt Nam từ xưa đến nay.
(Xem: 3338)
Bản dịch này được trích ra từ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh Vol. 48, No. 2010. Bởi vì lời dạy của Tổ Tăng Xán quá sâu sắc, súc tích, và bao hàm trong 584 chữ Hán,
(Xem: 4205)
Dịch từ Phạn sang Tạng: Kluḥi dbaṅ-po, Lhaḥi zla-ba; Dịch Tạng sang Việt: Phước Nguyên
(Xem: 5262)
Trí Phật là trí Kim – cang, Thân Phật là thân Kim – Sắc, cõi Phật là cõi Hoàng – kim, lời Phật tất nhiên là lời vàng.
(Xem: 3856)
Bấy giờ Hòa Thượng Vakkali nhìn thấy Đức Phật đang đi đến từ xa, và ông đã cố gắng ngồi dậy.
(Xem: 6763)
Xin dâng hết lên Tam Bảo chứng minh và xin Quý Ngài cũng như Quý Vị tùy nghi xử dụng in ấn tiếp tục hay trì tụng cũng như cho dịch ra những ngôn ngữ khác...
(Xem: 6460)
Niệm Phật Tâm Muội do HT Hư Vân soạn, Sa môn Hiển Chơn dịch; Tọa Thiền Dụng Tâm Ký do Viên Minh Quốc Sư soạn, HT Thích Thanh Từ dịch
(Xem: 4344)
Khi Bồ-tát Quán Tự Tại hành sâu Bát-nhã Ba-la-mật-đa, ngài soi thấy năm uẩn đều KHÔNG, liền qua hết thảy khổ ách.
(Xem: 20252)
Viết ra các bài Phật học thường thức này, chúng tôi không có tham vọng giới thiệu toàn bộ Phật pháp và chỉ cốt giúp cho các bạn sơ cơ hiểu được một cách đúng đắn, đạo lý năm thừa trong Phật giáo mà thôi.
(Xem: 3764)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, Kinh văn số 1675. Tác giả: Long Thọ Bồ Tát; Sa Môn Sắc Tử dịch Phạn sang Hán; HT Thích Như Điển dịch Việt
(Xem: 7238)
Thuở đó đức Phật đang ngự tại rừng Ta-la-song-thọ, ở ngoại ô thành Câu-thi-na, thuộc lãnh thổ trị vì của bộ tộc Lực-sĩ.
(Xem: 4724)
Đức Thế Tôn từ nơi cung trời Đâu-suất sinh xuống thành Ca-duy, chán đời sống dục lạc ở vương cung, thành tựu đạo chơn thường dưới cội cây...
(Xem: 4475)
Kinh Rong Chơi Trời Phương Ngoại là một phẩm của Kinh Pháp Cú Hán tạng có tên là Nê Hoàn Phẩm. Nê HoànNiết bàn (Nirvana, Nibbâna).
(Xem: 4028)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, quyển thứ 32, luận tập bộ toàn, kinh văn số 1637. HT Thích Như Điển dịch
(Xem: 4388)
Đây là kinh Pháp Quán Phạm Chí. Khung cảnh dựng lên cho kinh cũng giống như khung cảnh của kinh thứ mười một...
(Xem: 5951)
Đại Chánh Tân Tu đại tạng kinh, quyển thứ 32, kinh văn số 1680, luận tập bộ toàn. HT Thích Như Điển dịch Việt
(Xem: 4541)
Một thời, đức Bhagavat trú tại Vārāṇasi, nơi xứ Ṛṣipatana, trong rừng Mṛgadāva. Bấy giờ, đức Thế Tôn nói:
(Xem: 4257)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh quyển 32, luận tập bộ toàn, kinh văn 1671; HT Thích Như Điển dịch sang tiếng Việt.
(Xem: 4309)
Kinh Bát Đại Nhân Giác này của Đại Sư An Thế Cao từ nước An Tức sang Trung Quốc vào thời Hậu Hán (năm 132-167 sau công nguyên) soạn dịch.
(Xem: 4538)
Năm nay (2016) trong chương trình của tôi, không dự định đi sang Úc, nhưng ngày 23 tháng 6 năm 2016 vừa qua...
(Xem: 5201)
Tôi được nghe như vầy: một thuở nọ, Đức Thế Tôn đang ngụ tại vườn Nai, ở Isipatana gần Bénarès. Lúc bấy giờ...
(Xem: 3946)
Nay ở nơi chư Phật Chắp tay kính đảnh lễ Con sẽ như giáo nói Tư lương Bồ-đề Phật.
(Xem: 5337)
Lúc bấy giờ, ngài Vô-Tận-Ý Bồ-Tát (1) liền từ chỗ ngồi đứng dậy trịch áo bày vai hữu (2), chấp tay hướng Phật mà bạch rằng:
(Xem: 5184)
Bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (Taisho Shinshu Daijokyo) xuất xứ từ thời Vua Taisho (Đại Chánh) ở Nhật Bản từ đầu thế kỷ thứ 20.
(Xem: 6904)
Có lẽ Lăng Già là một trong những bộ kinh phân tích cái Tâm một cách chi li, khúc chiết nhất trong kinh điển Phật giáo.
(Xem: 5061)
Tôi nghe như vầy. Có một lúc, Đức Phật đã sống ở gần Xá Vệ (Savatthi) trong Khu Rừng Kỳ Đà (Jeta Wood) ở tu viện Cấp Cô Độc
(Xem: 5886)
Đại Chánh Tân Tu Đại tạng Kinh, quyển thứ 32 thuộc Luận Tập Bộ Toàn. Kinh văn số 1641. HT Thích Như Điển dịch
(Xem: 4738)
Thưa Tôn giả Gotama, những ngày về trước, những ngày về trước nữa, rất nhiều Sa-môn, Bà-la-môn là du sĩ ngoại đạo ngồi...
Quảng Cáo Bảo Trợ