Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới

Phật Giáo Và Sự Bình Đẳng Giới

Friday, November 18, 202209:21(View: 8049)
Phật Giáo Và Sự Bình Đẳng Giới

Phật Giáo Và Sự Bình Đẳng Giới

Thích Trung Định

 Phật Giáo Và Sự Bình Đẳng Giới



Bình đẳng
 giới và trao quyền cho phụ nữ hiện đang được xem là yếu tố quan trọng đối với sự tiến bộ kinh tế, xã hội và dân chủ trong thời hiện đạiTuy nhiên tình trạng của phụ nữ còn nhiều bất cập, đa dạng và phức tạp. Trên toàn thế giới, còn có nhiều nơi sự kỳ thị giới tính vẫn đang là vấn đề nghiêm trọng chưa thể giải quyết một sớm một chiều. Một số vùng miền địa dư và tôn giáo còn có những luật lệ khắt khe đối với phụ nữ. Do vậy tiếng nói chân chính về bình đẳng giới cần phải lên tiếngvai trò của nữ giới cần được tôn trọng, làm cho một nửa thế giới có cuộc sống an vui và hạnh phúc và hưởng quyền lợi bình đẳng.

 Nền văn minh và sự tiến bộ của loại người đang tiến đến một sự dung hòa và bình đẳng. Quyền con người ngày càng được nâng caođời sống an sinh xã hội ngày càng được chú trọng thì quyền bình đẳng giới lại càng đề cao hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, trong xã hội loài người vẫn còn đó nhiều khuất tất, tiếng nói chân chính về quyền bình đẳng vẫn chưa hoặc không thể đến bởi còn nhiều rào cản, luật lệ và phong tục tập quán. Trong các vấn đề trên thì sự bình đẳng giới trong các tôn giáo đang còn nghiêm trọng, vì niềm tingiáo điều đã tạo nên rào cản lớn khó có thể giải quyết ngay được.

 Trong lịch sử của các tôn giáo, tiếng nói của phụ nữ hiếm khi được nghe thấy. Điều này xảy ra do tính gia trưởng của người đàn ông trong các xã hội trong đó các tôn giáo đã xuất hiện và cuối cùng đã kìm hãm sự thay đổi địa vị của phụ nữ. Các tôn giáo trên thế giới đều đồng ý về sự tôn trọng phụ nữ và vai trò quan trọng của họ trong cuộc sống gia đìnhđặc biệt là nhấn mạnh vào phụ nữ là mẹ và vợ. Tuy nhiên, dường như không phải tất cả đều ủng hộ hay trao quyền theo nghĩa đó. Chúng ta có thể nói một cách tự tin rằng trong nhiều tôn giáo, sự bất bình đẳng giới đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Phật giáo không giống như các tôn giáo khác. Vai trò và quyền hạn của phụ nữ được quan tâm một cách thích đáng. Khi chúng ta tìm hiểu lời dạy của Đức Phật về vấn đề bình đẳng giới mới thấy sự quan tâm rất lớn của Ngài đối với phụ nữ. Trong kinh tạng Nguyên Thủy cũng như Đại Thừa đều có đề cập đến vai trò của phụ nữĐặc biệt trong kinh tạng Pali vai trò làm mẹ, làm vợ được đề cập khá nhiều và cụ thểĐức Phật thừa nhận phụ nữ cũng có thể tu hành và đạt được thánh quả như nam giới.

Việc thành lập Ni đoàn tại Vashali, một quốc gia dân chủ cộng hòa thời Đức Phật đã nói lên quyền bình đẳng giới trong Phật giáo như thế nào. Đây được xem là cuộc cách mạng lớn và đầu tiên trong lịch sử loài người. Chưa từng thấy một tôn giáo nào đánh giá vai trò của phụ nữ như Phật giáo. Có thể nói rằng, cuộc cách mạng này đã mở ra cơ hội tiến thân của nữ giới trên con đường thực tập tâm linh cũng như các mối quan hệ khác trong xã hộiĐặc biệt cuộc cách mạng này diễn ra tại Ấn Độ, một đất nước chịu ảnh hưởng sâu đậm của tư tưởng Vệ đàvai trò của phụ nữ Ấn Độ thời bấy giờ rất thấp; thậm chí là không có một chút trọng lượng nào so với nam giới. Một số tôn giáo cho rằng, phụ nữ là nạn nhân của ái dục nên ra đường phải bịt mặt. Nho giáo cho rằng, nữ nhi ngoại tộc hay nhất nam viết hữu thập nữ viết vô. Chính những quan điểm kỳ thị này đã đẩy phụ nữ vào sự bế tắc, mất quyền con người đúng nghĩa.

Bằng chứng giáo lý

Cốt lõi của giáo lý Phật giáo là không có phân biệt kỳ thị giới tính và điều này vẫn nhất quán xuyên suốt trong lịch sử 2.600 năm qua. Một trong những giáo lý trung tâm của Phật giáo đó là học thuyết vô ngãGiáo lý này chỉ ra rằng mọi sự vật đều do duyên sinh, không có một thực thể cố định tồn tại độc lập bất biến. Do vậy, bản chất của con người là vô ngã thì không có sự phân biệt giới tính. Thứ hai, trong giáo lý Phật giáo, cả nam và nữ đều có khả năng đạt được Niết bàn mục tiêu cao nhất của Phật giáo. Trong Tương Ưng Bộ KinhĐức Phật tuyên bố“Tất cả mọi người dù nam hay nữ đều có thể tu tập trong giáo lý này và đạt được Niết bàn an lạc như nhau”.[1] Nghĩa là giáo lý của Đức Phật được mở ra cho tất cả mọi người đều có thể đạt được Niết bàn, nếu người đó thực hành đúng chánh phápphụ nữ cũng không ngoại lệ. Nhưng đôi khi Đức Phật cũng nhắc nhở cho phái nữ về đặc tính của mình. Trong Tăng Chi Bộ Kinh Đức Phật dạy rằng: “Phụ nữ không kiểm soát nổi cảm xúc, ghen tị, tham lam và yếu đuối trong sự thực hành thiền định và trí tuệ.”[2] Bởi vì Ngài muốn chứng tỏ rằng tình yêu và quan hệ tình dục là mối nguy hiểm cho việc thành tựu đạo quả.

Lời dạy trên của Đức Phật liên quan đến khả năng, tiềm năng giác ngộ của họ đã được Bộ pháp tụ (Dhammasaṅginī) mô tả như là một cuộc cách mạng thực sự trong nền văn hóa Ấn giáo gia trưởng thời bấy giờ. Tuy nhiên, một số bản kinh trong giai đoạn sơ kỳ nêu lên một vài hạn chế và khiếm khuyết của phụ nữ. Đã sinh ra làm người nữ là có năm chướng ngại không thể vượt qua được. Đó là: Người nữ không thể làm Phạm Thiên, không thể làm Đế Thích, không thể làm Ma Vương, không thể làm Chuyển Luân Thánh Vương, và không thể làm Phật.[3.]

Bằng chứng thứ ba ủng hộ sự bình đẳng của phụ nữ trong Phật giáo liên quan đến khái niệm nghiệp - đó là hành động tốt để tái sinh hạnh phúc, trong khi hành động xấu dẫn đến bất hạnh. Trong lý thuyết Phật giáo, ở mức độ là hành động hiện tại và không phải giới tính quyết định chất lượng cuộc sống trong tương lai, đàn ông và phụ nữ có thể được coi là ngang bằng với quy luật của nghiệp.

Đại diện phụ nữ trong văn học Phật giáo

Chân dung tích cực của các nữ tu trong văn học Phật giáo thời kỳ đầu bao gồmphụ nữ A la hán trong những câu chuyện được trích dẫn trong Trưởng lão Ni kệ được mô tả là người phụ nữ có thể đạt được trí tuệ và thành tựu thiền định. Mẹ của Đức Phật là Hoàng hậu Maya - người được mô tả là một phụ nữ gương mẫuđức hạnh và mẹ kế của Đức Phật Prajapati, người được mô tả là sùng đạo và thành tựu tâm linh trong Phật giáo khi trở thành nữ tu đầu tiên.

Văn học Mahāyāna và Vajrayāna được nhìn nhận thống nhất là không có vấn đề về sự khác biệt. Có một số hình ảnh phụ nữ tính tích cực trong văn học Đại thừabao gồm trí tuệ Ba la mật (Prajñāpāramitā), sự nhân cách hóa của sự tôn vinh trí tuệ hoàn hảo. Trong khi ở Vajrayāna, ngôn ngữ rất ưu tiên về sự thể hiện quan điểm nữ tính. Trong Thắng Man kinh, cho chúng ta thấy phụ nữ thành tựu trí tuệ và thực hành con đường Bồ tát đạo một cách xuất sắc. Kinh Thắng Man là một điểm sáng lớn đề cao đến vai trò của người Phụ nữ theo quan điểm của Phật giáo Đại ThừaCâu chuyện Long Nữ thành Phật trong kinh Pháp Hoa cho thấy sự bình đẳng trên con đường thực tập tâm linh là hoàn toàn có thể. Qua đó, chúng ta khẳng định được rằng, Phật giáo thực sự bình đẳng giới, và minh định rỏ trong các lời dạy của Đức Phật.

Trong văn học Pali, giáo lý chính của Đức Phật cho phụ nữ là một phương pháp giáo dục. Trong một số bài kinh chỉ ra rằng Đức Phật khuyên vua Pasenadi, không nên quá đau buồn rằng nữ hoàng Mallika, đã sinh ra một cô con gái. Ngài nhấn mạnh một đứa con gái có thể chứng minh thậm chí còn cao quý hơn cả một đứa con trai. Đức Phật cũng dạy con dâu Anathapindika về bảy loại vợ. Trong bài kinh SigalovadaĐức Phật đã đặt ra năm bổn phận của một người vợ đối với chồng mình.

Trong văn học Phật giáo ghi lại một số phụ nữ, những người đã tu học theo giáo lý của Đức Phật, đã đạt được mục tiêu này. Một số phụ nữ xuất gia trong hàng ngủ đệ tử Phật đã đạt đến quả vị A la hán. Bên Tăng có Thập đại đệ tử thì bên Ni cũng có Thập đại đệ tử xuất sắc tương tợ.

Sự thực hành trong Phật giáo

Có lẽ bằng chứng mạnh mẽ nhất cho sự chênh lệch giữa các giới tính từ một cuộc kiểm tra đời sống thể chế trong Phật giáobao gồm cả vấn đề xuất gia của các nữ tu. Phật giáo được ghi nhận là một trong những tôn giáo đầu tiên có một cơ quan có tổ chức của Ni đoàn. Trong một số bản kinh kể rằng, mẹ kế của Đức Phật, bà Ma Ha Ba Xà Ba Đề dẫn đầu 500 phụ nữ khác trong hoàng triều Sakya đã đi bộ gần 200 km để đến Vaisaly để xin Đức Phật cho phép xuất giaBan đầu Đức Phật không cho, sau khi có sự can thiệp của Tôn giả A Nan Đức Phật mới chấp nhậnCâu chuyện ghi lại rằng, khi năm trăm phụ nữ trong hoàng tộc thành Ca Tỳ La Vệ đến xin Phật xuất gia. Đoạn đường đi bộ gần 200km làm cho bàn chân rớm máu. Thấy cảnh như vậy, Tôn giả A Nan xót thương bèn tìm lời thỉnh cầu Phật cho phép phụ nữ xuất gia.

Tôn giả lại bạch:

- Bạch Thế Tôn! Người phụ nữ, nếu đã từ bỏ đời sống gia đình để sống đời sống không nhà cửa, tinh cần tu tập theo giáo pháp và giới luật, có khả năng chứng ngộ được các thánh quả Tu đà hoàn, Từ đà hàm, A na hàm, hay A la hán không?

Đức Phật dạy:

- Này A Nan! Người nữ xuất gia cũng có khả năng chứng ngộ các thánh quả.

Được khích lệ bởi lời dạy ấy, Tôn giả đã đem hết lí lẽ, trọn tình, trọn lí, khẩn thiết trình bày lên Phật, cố xin giùm cho thái hậu và phái nữ được xuất giaNhận thấy đã đến lúc thích hợpĐức Phật bảo cho tôn giả A Nan biết, nếu thái hậu và đoàn người theo bà chấp nhận thi hành trọn vẹn Bát kỉnh pháp họ sẽ được phép xuất gia làm Tỳ kheo ni.

Tôn giả rất hoan hỉ, liền ra ngoài thông báo lời dạy của Phật cho thái hậu và các bà được biết. Thái hậu và tất cả mọi người đều vui mừng chấp nhận tuân hành Bát kỉnh pháp. Thế là ngay sau đó, thái hậu Kiều Đàm Di và đoàn người của bà được thọ đại giớitrở thành các vị Tỳ kheo ni đầu tiên của giáo đoàn Phật. Với sự kiện này, đức Phật được coi là vị giáo chủ đầu tiên trong lịch sử nhân loại đã thành lập một đoàn thể xuất gia cho nữ giới với đầy đủ giới luật.[4]

Mặc dù thừa nhận cho phụ nữ xuất gia và thành lập Ni đoàn nhưng đối với người nữ vấn có những dị biệt và khiếm khuyết. Do đó đối với giới luật của Tỷ kheo ni nhiều hơn sơ với Tỷ kheoTỷ kheo ni có thể ít được sự cúng dường hơn Tỷ kheo, và tầm ảnh hưởng trong quần chúng cũng không thể sánh bằng Nam tu sĩ. Đó là điều tất nhiên, bởi thể trạng và tâm tánh của phụ nữ là như vậy.

Ngày nay, nhiều phụ nữ trở thành nhà lãnh đạo kiệt xuất, nhà nghiên cứu, khoa học, kinh tế là đã làm thay đổi diện mạo xã hội, từ đó khẳng định vai trò và quyền lợi của phụ nữ như tinh thần của lời Phật dạy trong kinh điển ghi lại.

Tóm lạichúng ta có thể nói rằng, Đức Phật có một thái độ rất tích cực và cách mạng đối với người phụ nữ. Ngài đã mở cánh cửa bất tử vì lợi ích ngang nhau của cả nam và nữ. Thực tế này được coi là một sự kiện quan trọng trong lịch sử của tôn giáo thế giới. Sự thành tựu tâm linh của nhiều nữ A-la-hán đã chứng minh lời tuyên bố linh thiêng của Đức Phật rằng giá trị của một người không phụ thuộc vào giới tính và nền tảng gia đình của họ, mà dựa vào là trí tuệ và đức hạnh của người đó.

Ghi chú:

[1] In Samyutta Nikaya, the Buddha states that : “Whoever has such a vehicle, whether a man or woman shall indeed by means of that vihecle, come to Nibbana”.  Xem Tài liệu học tập Thạc sĩ Phật họcĐại học Delhi.

[2] In Anguttara Nikaya runs that : “Womenfolk are uncontrolled, envious, greedy and weak in wisdom”. Xem Tài liệu học tập Thạc sĩ Phật họcĐại học Delhi.

[3]Năm chướng ngại của người Nữ, xem https://phatgiao.org.vn/tu-dien-phat-hoc-online/nu-tu-ngu-chuong-k39346.html

 [4] Hạnh Cơ, Ni Trưởng Ma Ha Ba Xà Ba Đề, https://thuvienhoasen.org/a28194/ni-truong-ma-ha-ba-xa-ba-de.

Thích Trung Định

Báo Giác Ngộ, số 1174

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
(View: 511)
Sở dĩ có tâm thư này là vì người ta đã mượn danh Đức Tăng Thống để ban hành các giáo chỉ, thông bạch vi hiến và trái với nguyên tắc sinh hoạt dân chủ của Tăng-đoàn.
(View: 690)
Có một số kinh Phật, kể rằng có một số vị trưởng lão trình với Đức Phật rằng,
(View: 750)
Có một lúc trong đời, con người bỗng đứng yên lại giữa tất cả những chạy đua, bon chen, kế hoạch, danh vọng… và tự hỏi:
(View: 715)
Kinh Lăng-già do tổ sư Đạt-ma đem đến đầu tiền, một bộ kinh điển làm ấn chứng cho những người tâm đắc học tập Phật pháp.
(View: 727)
Một người thực hành hạnh Bồ tát thì sống trong thế giới, giữa các chúng sanh nên không xem thường
(View: 834)
Sự tỉnh thức không phải điều gì xa xôi hay lớn lao, mà bắt đầu từ chính khoảnh khắc ta quay về nhận biết hơi thở, thân tâm và hoàn cảnh quanh mình.
(View: 954)
Từ xưa các nền văn hóa đã nhìn thấy vai trò của xúc cảm, tình cảm như một động lực để tiến bộ, tiến hóa cho cuộc sống con người.
(View: 1051)
Trong suốt hành trình khám phá chân lý và con đường giải thoát, Phật giáo đã trao cho chúng ta hai chiếc chìa khóa vô giá: Duyên khởi và Tánh không.
(View: 1244)
Nghĩ gì về Thầy Tuệ Sỹ? Nếu có ai hỏi như thế, tôi sẽ nói rằng tôi chưa thể hiểu tới một phần rất nhỏ những gì Thầy viết, mặc dù tôi vẫn đọc Thầy đều đặn.
(View: 1536)
Hàng năm người Hoa Kỳ dành ngày Thứ Năm trong tuần lễ cuối của tháng Mười Một để cử hành lễ Tạ Ơn. Ngày lễ Tạ Ơn
(View: 1444)
Từ thời săn bắn hái lượm con người đã nối kết với nhau để sinh sống, để chống lại thú dữ, để giúp đỡ nhau tạo thành lợi ích chung.
(View: 1827)
Hạnh phúc luôn có mặt trong đời sống của chúng ta qua từng phút, từng giây,
(View: 1848)
Đôi khi, chỉ một cuộc gặp gỡ tình cờ với một người cũng có thể làm thay đổi toàn bộ hướng đi của cuộc đời ta theo những cách mà ta không thể nào lường trước được.
(View: 2002)
Một kiếp người, dẫu dài hay ngắn, cũng chỉ là hạt bụi nhỏ trong vô tận thời gian.
(View: 2399)
Sự vĩ đại của Phật giáo không chỉ thông qua hình thức về tinh túy của từ bi và trí tuệ được thể hiệnqua Giáo lý duyên sinh – vô ngã.
(View: 2552)
Trong kinh A Na Di, một nhóm Tỳ kheo chưa thấy rõ con đường, lòng còn phân vân trong pháp hành của mình, dù được Thế tôn gợi ý
(View: 2751)
Trời đất vào Thu, sơn hà khoác chiếc áo màu đẹp nhất trong năm. Chiếc áo kỳ diệu của thiên nhiên với muôn hồng nghìn tía, rực rõ sắc màu.
(View: 2890)
Vu-lan là âm Hán Việt, cũng được gọi là Vu-lan-bồn, Ô-lam-bà-na, phiên âm từ Phạn ngữ Avalambana, có nghĩa là bị treo ngược
(View: 2979)
Chánh kiến là một thuật ngữ quan trọng trong Phật giáo, được xếp ở vị trí đầu tiên trong Bát chánh đạo.
(View: 2281)
Quán tưởng vô thường là một trong những nội dung tu tập quan trọng của giáo pháp Thế Tôn.
(View: 3277)
Trong Phật giáo không có thuật ngữ "Quản Trị" theo nghĩa hiện đại, nhưng có các giáo lý và nguyên tắc đạo đức như Giới, Định, Tuệ và tư tưởng vị tha
(View: 2981)
Quán tưởng vô thường là một trong những nội dung tu tập quan trọng của giáo pháp Thế Tôn.
(View: 2488)
Những hành động từ bi, dù nhỏ bé đến đâu, cũng có thể mang lại mục đíchý nghĩa ngay cả trong những thời điểm đen tối nhất.
(View: 2563)
Tất cả các Pháp Hữu Vi là vô thường! Đó là một sự thật! Cũng là lời di huấn cuối cùng của Đức Bổn Sư dành cho
(View: 2872)
Phước là khi bạn bị tai nạn mà vẫn sống sót, bệnh hiểm mà lại hồi phục, lạc lối mà vẫn được ai đó soi đường. Phước là vốn liếng của đời này, và cả đời sau.
(View: 2248)
Dòng sống, trôi như một dòng sông; đổ xuống như một thác nước.
(View: 2130)
Dòng sống, trôi như một dòng sông; đổ xuống như một thác nước.
(View: 2515)
Trong cuộc sống thế tục, con người luôn khát khao tìm cầu hạnh phúc qua tiền tài, địa vị, sắc đẹp, danh vọng hay ái ân.
(View: 3197)
Bài viết này sẽ phân tích lời dạy của sách Trúc LâmTông Chỉ Nguyên Thanh về ý chỉ Thiền Tông
(View: 3393)
Mới đọc qua, tựa đề trên của bài viết, chúng tathấy ngay đề tài hơi ngộ ngộ….Nhưng càng đọc – càng thấy rõ thế giới, đang nằm gọn trong lòng chảo lửa mà dầu sôi sùng sụt
(View: 2646)
Nhà văn cư sĩ Huỳnh Trung Chánh, còn có bút danh là Hư Thân, sanh năm 1939 tại Trà Vinh, quê nội của ông.
(View: 2464)
Đạo đứchệ thống những quy tắc, các chuẩn mực xã hộiđể mọi người nương theo, điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích
(View: 2441)
Trong cuộc sống thế tục, con người luôn khát khao tìm cầu hạnh phúc qua tiền tài, địa vị, sắc đẹp, danh vọng hay ái ân.
(View: 2645)
Cuộc sống đàn ong, bầy kiến nhìn chúng lăng xăng, tưởng chừng chen đạp nhau lộn xộn, thật ra chúng rất có kỷ luật, ngay cả rơi vào nước
(View: 2494)
Trong cái nhìn của thế gian, cái chết là điểm kết thúc. Nhưng dưới ánh sáng Phật pháp, cái chết chỉ là một bước chuyển
(View: 2503)
Trong vòng luân hồi sinh tử vô tận, ái được xem là sợi dây vô hình trói buộc chúng sanh vào đau khổ.
(View: 2426)
Đạo Phật có cả một kho tàng giáo lý đa dạng và thực hành phong phú đáng kinh ngạc để phát triển tình yêu thươngtừ bi tâm
(View: 2559)
Cụm tháp Bạc sừng sững trên đồi cao lộng gió, dưới chân có khúc quanh của dòng sông Côn.
(View: 2440)
Đức Phật có dạy pháp phóng sinh hay không? Trong rất nhiều kinh, Đức Phật đã dạy là hãy yêu thươngvà đừng hại bất kỳ sinh mạng chúng sinh nào.
(View: 3874)
Hàng ngày tôi có thói quen ngồi tọa thiền và sau đó đi kinh hành. Địa điểm đi kinh hành tuyệt vờimay mắn nhất
(View: 4273)
Xa xa tận chân trời, mãi mãi nhìn theo mây trắng bay. Lá vàng rơi lác đác, cuồng cuộn về đến núi rừng. Vào Thu có nhiều, lá vàng, gió Thu thổi ra biển cả.
(View: 2528)
Các nghiên cứu đã phát hiện ra rằng các chương trình chánh niệm tại trường học có thể giúp ích, đặc biệt là ở các cộng đồng nghèo, nơi học sinh phải đối mặt với mức độ căng thẳng cao hơn.
(View: 3247)
Trong giáo lý của Đức Thế Tôn, nghiệp (kamma) là một trong những pháp vận hành căn bản chi phối sự tái sinhvà đời sống của chúng sanh trong luân hồi.
(View: 2528)
Phra Ajaan Lee Dhammadharo (1907-1961), là một trong những vị thiền sư theo truyền thống tu khổ hạnh trong rừng.
(View: 2317)
Con Tàu sầm sập lao trong màn đêm đen đặc, thỉnh thoảng vụt qua những thị trấn hay phố xá nhỏ ven đường le lói chút ánh sáng nhạt nhòa.
(View: 2716)
Mùa An cư kiết hạ Phật lịch 2569 - Dương lịch 2025 lại trở về, là cơ hội quý báu để hàng hậu học chúng ta ôn lại lời Phật dạy
(View: 2225)
Hầu như không có ai nghĩ xa hơn thế, nghĩ xa hơn cái chết. Đây là lý do tại sao chúng ta thiển cận và không nghĩ đến việc
(View: 2593)
“Nhân thân nan đắc, Phật pháp nan văn, Thiện duyên nan ngộ, Phật quốc nan sanh” là gì ?
(View: 2362)
Thờ Phật không phải là cầu xin ban phúc hay tha tội, vì Ngài không phải thần linh mà là người thầy dạy cách thoát khỏi khổ đau mà chính ngài tìm kiếm, chứng nghiệm.
(View: 2647)
Dòng đời xưa nay vẫn thế, từng đời từng đời nối tiếp nhau, thịnh suy bất định, tụ tán vô kỳ.
Quảng Cáo Bảo Trợ
AZCMENU Cloudbase: Giải pháp TV Menu thông minh, tiện lợi, chuyên nghiệp!
Get a FREE Online Menu and Front Door: Stand Banner Menu Display for Your Restaurant
Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM