Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới

Vì Những Trái Việt Quất Lạnh Lẽo?

05 Tháng Giêng 201713:05(Xem: 7401)
Vì Những Trái Việt Quất Lạnh Lẽo?

VÌ NHỮNG TRÁI VIỆT QUẤT LẠNH LẼO?

Đức Đạt Lai Lạt Ma
Victor Chan

Tuệ Uyển chuyển ngữ

Vì Những Trái Việt Quất Lạnh Lẽo

 

Kể từ khi rời Đạo Tràng Giác Ngộ, tôi đã bị ám ảnh với một câu hỏi dằn dặt đau khổ: làm thế nào vụ đau bụng của Đức Đạt Lai Lạt Ma leo thang thành một cuộc khủng hoảng bùng vở, cuống cuồng đưa Đức Đạt Lai Lạt Ma đến một bệnh viện đặc biệt ở Bombay? Tôi muốn khám phá nguyên nhân cơn bệnh này với Đức Đạt Lai Lạt Ma.

"Ngài có cảm thấy xấu đi khi ngài đi trên đường dốc đến đỉnh Linh Thứu không?" tôi hỏi ngài trong phòng tiếp kiến. Ngari Rinpoche kéo chiếc ghế-thẳng-lưng hơi gần hơn anh của ông. Ông không có đi Linh Thứu với chúng tôi, và ông quan tâm muốn biết điều gì đã xảy ra trước khi đau xảy ra cho Đức Đạt Lai Lạt Ma.

"Không," Đức Đạt Lai Lạt Ma trả lời. "Tôi không có cảm nhận xấu trong buổi sáng ấy. Không có gì hết. Rất khỏe khoắn. Nhưng rồi thì, đã có một số nguyên nhânđiều kiện rồi." 

"Ngài có ăn thứ gì đó tệ hại ở khách sạn Nhật Bản ở Raigir?"

"Tôi không nghĩ thế."

"Nhưng ngài bị tiêu chảy nhẹ sau khi dùng trưa tại khách sạn?"

"Kiết lỵ."

"Tôi đã nghe từ Bác sĩ Tseten là có vi khuẩn amip trong dạ dày của ngài. Chúng phải đến từ thực phẩm hay nước kém vệ sinh."

"Tôi không biết," Đức Đạt Lai Lạt Ma trả lời. "Những con amip ở trong bao tử tôi bao lâu tôi không biết. Không nhất thiết là đến ngay ngày hôm ấy … Có nhiều nguyên nhân. Một,  nguyên nhân tức thời, là sự bất cẩn."

"Bất cẩn?"

"Bất cẩn bởi vì thông thường thân thể tôi Okay, rồi thì tôi nghĩ … " Đức Đạt Lai Lạt Ma nhìn qua Lhakdor và chuyển sang Tạng ngữ.

"Đức Thánh Thiện cảm thấy ngài rất khỏe mạnh, cho nên ngài luôn tự bắt buộc ngài, làm việc quá nhiều, du hành quá nhiều," Lhakdor thông dịch.

"Thiếu cẩn trọng," Đức Đạt Lai Lạt Ma giải thích.

Những người làm việc gần gũi với Đức Đạt Lai Lạt Ma đồng thuận với ý kiến chân thành này. Ngài giữ một thời khóa thúc ép, một cách đặc biệt khi ngài trên đường. Tôi đã du hành với ngài đủ thời gian để tự biết điều này. Tôi trẻ hơn mười tuổi. nhưng năng lượng và sức chịu đựng của ngài làm tôi phải xấu hổ. Để theo kịp ngài dứt khoát không là một cuộc đi bộ trong công viên.

"Rồi thì đi lên đỉnh Linh Thứu buổi sáng, đổ mồ hôi nhiều quá," Đức Đạt Lai Lạt Ma tiếp tục. "Trên đỉnh núi, hơi lạnh. Đi xuống, lại đổ mồ hôi, rồi bửa trưa, cởi áo ra. Sau bửa trưa, uống nước chanh tươi  - thông thường không rắc rối gì, nhưng ngày ấy, do vì điều gì đấy đã quấy rầy, điều đó trở thành một trong những nhân tố.

"Một nguyên nhân quan trọng hơn. Trước khi tôi đi  hành hương ở Linh Thứu và Na Lan Đà, trước hết tôi đi Nam Ấn để giảng dạy. Trong khi tôi ở đấy, tôi bắt đầu dùng thuốc Tây Tạng cho gan và mắt. Đó là thuốc lạnh - nó làm thân thể lạnh. Khoảng ba mươi năm trước, tôi đã dùng thứ thuốc ấy cho gan, và ngay lập tức cơn đau nổi lên chút ít ở đây trong bao tử tôi. Thay vì thế tôi ngừng và dùng thuốc để sinh nhiệt. Cơn đau biến mất hoàn toàn. Bây giờ lần này, chính xác cùng chỗ. Quá lạnh."

Quá lạnh. Đó là những gì mẹ tôi thường nói bất cứ khi nào tôi bị bệnh. Tôi không quan tâm nhiều về triệu chứng của tôi là gì. Rắc rối luôn luôn là "lạnh bốc hơi". Mẹ tôi kéo tôi đi xuyên đảo Hồng Kông bằng xe lửa điện đến vùng ngoại ô West Point, nơi chúng tôi bước lên những lối đi hẹp, dốc lót bằng những viên đá gập ghềnh, đến một tiệm bán cỏ thuốc, đông y dược. Nơi ấy lờ mờ, và hầu hết các chỗ nào cũng có những ngăn đựng thuốc bằng gỗ đỏ, đầy cỏ thuốc. Thầy thuốc sẽ bắt mạch tôi, xem lưỡi tôi, kê toa thuốc với bút và mực đen, và cân thuốc từ những ngăn chứa. Trở về nhà, mẹ tôi sẽ sắc thuốc trong vài tiếng đồng hồ, cho đến đúng mức cần thiết nước thuốc sánh đen. Thuốc dược thảo mặc dù đắng, nhưng không hoàn toàn khó chịu. Tôi phải uống hết một lần trong khi nó đang nóng. Thông thường, tôi thật khá hơn không lâu sau đó - có lẽ như thế mặc dù thuốc đắng, tôi thích nghĩ như vậy.

"Giống như thuốc Tàu, như thuốc Ayurveda của Ấn Độ, thuốc Tây Tạng thường được phân làm hai thứ nóng và lạnh," Đức Đạt Lai Lạt Ma giải thích. "Hầu hết bệnh tật của phần dưới thân thể liên hệ với lạnh nhiều. Rắc rối của gan, đầu có nghĩa là quá nóng. Tôi dùng thuốc đó, làm tăng lạnh trong cơ thể tôi. Thỉnh thoảng chút gì đau đau bắt đầu. Rồi thì trong cuộc hành hương, những nguyên nhân tức thời xảy ra, và điều gì đó bùng phát."

"Một nhân tố khác," ngài tiếp tục. "Tháng Năm vừa rồi, khi tôi ở Mỹ, hệ thống tiêu hóa của tôi rất tốt, tuyệt vời. Cho nên trong bửa điểm tâm tôi dùng sửa lạnh nhiều. Sau đó ở Salt Lake City, một phụ nữ nói với tôi rằng quả việt quất (blueberry) là rất tốt cho mắt. Bà nói với tôi là phi công Hàng Không Quân Sự Hoa Kỳ ăn mứt việt quất nhiều lắm. Thế nên tôi ăn một ít quả việt quất, ngon lắm. Rồi sau đó, ngày qua ngày, tăng lên. Thế đó nó tác động đến  hệ thống tiêu hóa tới một mức độ nào đó - quá nhiều lạnh."

Đức Đạt Lai Lạt Ma nói ngắn với Lhakdor. "Dường như là mọi việc đã bắt đầu như thế ấy," Lhakdor thông dịch, "do bởi sự lạnh lẽo của quả việt quất."

***

Vậy là do sự lạnh lẽo của những quả việt quất đã châm ngòi khủng hoảng. Đó hoàn toàn không phải là câu trả lời mà tôi mong đợi. Nhưng tôi đành cam chịu với sự kiện rằng Đức Đạt Lai Lạt Ma không giống như bạn và tôi. Ngài có một cách khác biệt đáng chú ý về việc nhìn thế giới chung quanh ngài. Vẫn còn có một vài việc về cơn bệnh mà tôi muốn biết.

"Điều gì xảy ra khi ngài ở Đạo Tràng Giác Ngộ," tôi hỏi Đức Đạt Lai Lạt Ma, "sau khi ngài trở lại từ Patna?"

"Năm, sáu ngày ở Shechen, không khá gì hơn. Cho nên tôi nghĩ: nếu lễ Thời Luân bắt đầu, nếu một khi bắt đầu rồi mà thất bại, thế thì tệ hại lắm. Do thế, tốt hơn là đình lại, dời lại. Vì vậy tôi quyết định. Lúc đầu, vẫn hy vọng giảng dạy ba ngày. Nhưng không thể làm được. Rồi thì một buổi sáng Bác sĩ Tseten chú ý rằng phía này sưng phồng ra," Đức Đạt Lai Lạt Ma nói, vỗ vỗ vào phía bên trái dạ dày ngài.

"Tôi đề nghị Đức Thánh Thiện vào bệnh viện ngay ngày hôm ấy," Lhakdor nói.

"Đó là tại sao ngài đã bãi bỏ lễ cầu nguyện trường thọ vào ngày cuối cùng của lễ Thời Luân?" tôi hỏi.

"Vâng," Đức Đạt Lai Lạt Ma nói. "Ngay ngày đó, không thể sắp xếp chuyến đi. Sau đó cố gắng để xem có thể đến Bombay ngày hôm sau không. Một vài người liên lạc với Delhi. Chính quyền bang đồng ý cung cấp một trực thăng, chính quyền trung ương cung cấp một chuyến bay đặc biệt từ Patna đi trực tiếp Bombay. Ở Bombay, từ phi trường thẳng tới bệnh viện."

''Khi Đức Thánh Thiện bước vào bệnh viện," Ngari Rinpoche nói với tôi, một cách tự ý. "việc đầu tiên ngài thấy là một chai nước biển và một cây kim lớn đang chờ ngài. Ngài cảm thấy không thoải mái. Ngài hơi sợ." Mặc dù Ngari Rinpoche ở đấy chính yếu để phụ Lhakdor thông dịch, nhưng tôi luôn tin rằng ông đến với một tin tức gì đó hấp dẫn.

"Nhưng không có lựa chọn nào khác, cho nên tôi phải vô nước biển," Đức Đạt Lai Lạt Ma nói, hơi nhăn nhó với ký ức.

"Họ đã thử nghiệm những gì ở bệnh viện?" tôi hỏi.

"Họ kiểm tra đủ thứ. Bao tử, ruột, dĩ nhiên. Cũng như tim, gan, máu. Không có gì bệnh tật. Không ung thư."

"Nhưng điều gì làm cho sưng lên?" tôi  hỏi.

"Họ không thể tìm ra. Mặc dù một chuyên gia đã nói với tôi …" Đức Đạt Lai Lạt Ma chuyển sang Tạng ngữ.

"Sau khi khám cho Đức Thánh Thiện," Ngari Rinpoche thông dịch, "chuyên gia nói mọi thứ hoàn toàn Okay, không có dấu hiệu gì của ung thư. Sau đó ông nói: đây là cơn bệnh trầm trọng. Nó có thể giết  ngài. Có một lỗ thủng bé tí trong ruột ngài. Nếu nó lớn hơn, nó có thể đã giết ngài."

Tôi liếc sang Đức Đạt Lai Lạt Ma, có một nụ cười mĩm kín đáo trên khuôn mặt ngài. Giống như ngài lấy làm vui một cách bí mật rằng ngài xém chết.

Một vài tu sĩ vào phòng tiếp kiến, mang theo những cái khay. Một tu sĩ cẩn thận đặt một chén có nắp nước nóng bên cạnh Đức Đạt Lai Lạt Ma. Một vị khác đặt một cái khay với một bình Nescafé uống liền, một vài gói trà, và một bình thủy nước nóng trên một cái bàn thấp bên cạnh tôi. Họ rời phòng một cách lặng lẽ như khi họ đến. Ngari Rinpoche đứng lên và bước đến tôi, và thì thầm trong tai tôi, "Ông muốn cà phê hay trà?"

Mắt tôi vẫn không rời Đức Đạt Lai Lạt Ma. "Dạ, cà phê." Tôi cảnh giác một cách mơ hồ với Rinpoche đang cho một muỗng Nescafé uống liền vào ly và đổ nước nóng vào.  Ông dựa gần vào tôi và thì thầm vào tai tôi một lần nữa, "Sửa? Đường?"

"Uh, vâng, cảm ơn," tôi trả lời một cách tự động. Khi tôi lật qua những trang giấy về những loại câu hỏi, một thoáng hoảng loạn bùng lên. Tôi đã lạc mất chỗ câu hỏi cuối của tôi, và tôi không biết đáng lẻ tôi phải hỏi Đức Đạt Lai Lạt Ma điều gì kế tiếp. Cà phê luôn luôn là một sự chào đón hào sảng: bây giờ đang ở giữa đoạn đường của hơn hai giờ phỏng vấn, năng lượng của tôi có khuynh hướng giảm sút. Mà đôi khi sự ngắt lời có thể làm cho tôi đánh mất sự tập trung tế nhị của tôi.

Rồi thì tôi nhớ điều gì đó mà Bác sĩ Tseten đã đề cập với tôi trong một lần đàm đạo.

"Bác sĩ Tseten nói với tôi rằng những bác sĩ Ấn Độ ở Bombay nói trái tim của ngài như của một người hai mươi tuổi," tôi nói với Đức Đạt Lai Lạt Ma.

"Vâng, đúng đấy," ngài trả lời." Sau khi kiểm nghiệm điện tâm đồ (ECG) các bác sĩ ở Bombay báo cho tôi biết. Thật sự thì bác sĩ ở Patna người khám tôi cũng nói giống y như vậy."

"Ngài nghĩ đâu là lý do cho điều này?" tôi hỏi khi tôi ngụm cà phê và nuốt xuống một cách tham lam.

"Tôi nghĩ là sự hòa bình của tâm hồn," Đức Đạt Lai Lạt Ma nói không do dự.

"Trái tim của ngài giống như hai mươi tuổi bởi vì ngài có một sự hòa bình của tâm hồn?"

"Vâng," Đức Đạt Lai Lạt Ma nhấn mạnh. "Bằng khác đi, không có điều gì đặc biệt về tôi. Tôi không có tập thể dụcđặc biệt."

Một người đàn ông sáu mươi bảy tuổi với trái tim hai mươi tuổi. Đức Đạt Lai Lạt Ma không nghi ngờtâm thức ấy có năng lực để chửa trị thân thể. Đối với ngài, tâm thứcthân thể thuộc về một sự tương tục không tách rời nhau. Khi điều gì đó xảy ra cho một thứ, thì thứ  kia bị ảnh hưởng - mối lệ thuộc hổ tương của tất cả mọi thứ đã là mật ngôn của Đức Đạt Lai Lạt Ma trong nửa thế kỷ qua. Bây giờ, ngay cả những bác sĩ và các nhà nghiên cứu chủ đạo chuyên môn cũng đi đến cùng kết luận. Một sự rối loạn trong thận có thể có hậu quả nghiêm trọng cho não bộ. Và một sự phiền muộn bây giờ được xem là nhân tố nguy hại quan trọng cho bệnh tim - nó có thể tệ hại không kém gì mở trong máu. Sau cùng, thân và tâm cùng chia sẻ những khối xây dựng - máu, thần kinh, kích thích tố, kháng thể. 

Đây là vấn đề Đức Đạt Lai Lạt Ma đã thiết lập như thế  nào: "Rèn luyện tâm thức, điều  này có nghĩa là làm mạnh những cảm xúc tích cực đó chẳng hạn như tha thứtừ bi, chẳng hạn như hồi hướng lợi lạc cho người khác. Những cảm xúc tiêu cực như thù hận, ganh tỵ, đây là những thứ mà quý vị gọi là kẻ thù. Những cảm xúc tiêu cực qua tu tập, chúng ta có thể giảm chúng đến mức tối thiểu. Sự rèn luyện tâm thức này, theo một số nhà khoa học là liên hệ rất nhiều với sức khỏe của chúng ta." 

"Lấy thí dụ như tha thứ. Có hai mức độ ở đây. Một mức độ: tha thứ có nghĩa là ta không nên phát triển những cảm giác của trả thù. Bởi vì trả thù làm tổn hại người khác, do thế đó là một hình thức của bạo động. Với bạo động, thường có phản bạo động. Điều này thậm chí gây ra nhiều bạo động hơn - rắc rối không bao giờ giải quyết được. Cho nên đó là một mức độ. Một mức độ khác: tha thứ có nghĩa là ta nên cố gắng không phát triển những cảm giác của sân hận đối với kẻ thù của ta. Sân hận không thể giải quyết rắc rối. Sân hận chỉ đem đến những cảm giác không thoải mái cho chính ta. Sân hận phá hoại sự hòa bỉnh tâm hồn của chính ta. Tâm trạng hạnh phúc không bao giờ hiện hữu, không có trong khi sân hận vẫn còn. Tôi nghĩ đó là lý do chính tại sao chúng ta nên tha thứ. Với một tâm thức tĩnh lặng, tâm thức hòa bình hơn, thân thể khỏe mạnh hơn. Một tâm thức khích động đầu độc sức khỏe của ta, rất tổn hại cho thân thể. Đây là cảm nhận của tôi."

Tôi hỏi Đức Đạt Lai Lạt Ma ngài có nghĩ điều gì đó tích cực đã hình thành do bởi bệnh tật của ngài không. Những người Tây Tạng khắp thế giới đã cực kỳ lo lắng về ngài. Trong khi ngài nằm trên giường bệnh ở tu viện Shechen, hàng trăm nghìn người hành hương đã ở ngoài trời cả đêm, dâng lời cầu nguyện cho Đức Đạt Lai Lạt Ma giữa những điều kiện rõ ràng của mùa đông.

Đức Đạt Lai Lạt Ma chọn trả lời bằng Tạng ngữ và để Lhakdor thông dịch: "Đức Thánh Thiện nói rằng tình cảnh là một sức mạnh kích hoạt tốt đẹp cho việc tiến hành những hành vi tốt đẹp, cho việc theo đuổi những hành vi tâm linh." 

Tôi không hiểu lắm.

"Nếu mọi thứ là bình thường," Đức Đạt Lai Lạt Ma giải thích, "thế thì mặc dù chúng ta cầu nguyện thật nhiều, nhưng những người cầu nguyệnthể không tha thiết lắm. Nhưng bởi vì tôi bệnh, cho nên mỗi lời cầu nguyện là tha thiết. Tất cả chúng ta dâng những lời cầu nguyện thật tha thiết. Thế nên qua cách ấy, có những kết quả tích cực nào đó."

"Bệnh tật là một chất xúc tác làm cho chúng tatinh thần hơn," Ngari Rinpoche thêm vào.

Đối với Đức Đạt Lai Lạt Ma, khổ đau và tai ương là những điều kiện cần thiết cho việc phát triển nhẫn nhụcbao dung. Những phẩm chất này là cần cho sự sống nếu chúng ta muốn giảm thiểu những cảm xúc tiêu cực như thù  hận và ganh tỵ. Khi mọi thứ diễn ra tốt đẹp, chúng ta ít cần đến nhẫn nhụctha thứ. Chỉ khi nào chúng ta gặp phải rắc rối, khi chúng ta khổ đau, như vậy chúng ta mới thật sự học hỏi những đạo đức này. Một khi chúng ta tiếp thu chúng, từ bi tuôn chảy một cách tự nhiên.

"Ông có buồn không khi tôi khởi hành?" Đức Đạt Lai Lạt Ma hỏi tôi một cách không ngờ.

"Tôi buồn, vâng," tôi trả lời.

"Ông có nghĩ là Đức Thánh Thiện sẽ không qua khỏi chứ?" Ngari Rinpoche tò mò.

"Không, không. Tôi có một sự tin tưởng nào đó. Thế nào đó tôi biết ngài sẽ không sao,'' tôi trả lời. "Tôi buồn bởi vì ngài trông yếu quá, quá phờ  phạc. Tôi chưa bao giờ thấy ngài yếu đuối như vậy trước đây. Tôi bị sốc quá cũng như những người khác vậy. Và một điều khác nữa. Ngài ôm tôi trước khi rời tu viện Shechen. Tôi thật cảm động với việc ấy. Mặc dù ngài đang đau và có thể đứng dậy khó khăn, nhưng ngài vẫn muốn làm tôi thoải mái, động viên tôi. Bệnh tật như ngài vậy mà ngài vẫn để mắt nhìn đến tôi. Như ngài luôn luôn làm, ngài đã đặt lợi ích của người khác trên lợi ích của chính ngài."

Trích từ quyển THE WISDOM OF FORGIVENESS

Ẩn Tâm Lộ, Friday, December 25, 2015
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 728)
Chúng ta thường nghe dặn dò rằng, hãy tu đi, đừng nói nhiều, đừng lý luận nhiều, đừng dựa vào chữ nghĩa biện biệt sẽ dễ loạn tâm
(Xem: 831)
Trước khi tìm hiểu chủ đề “Nương thuyền Bát nhã là gì? ”, chúng ta cùng nhau tìm hiểu ý nghĩa của từ Bát nhã.
(Xem: 785)
Từ “Phật” (Buddha) đã được biết đến và lưu truyền trước khi Đức Phật xuất hiệnẤn Độ.
(Xem: 749)
Đức Phật, Ngài là con người, bằng xương bằng thịt, như bao nhiêu con người khác...nhưng Ngài là một con người giác ngộ, tỉnh thức...
(Xem: 761)
Tham ái với thân, tập trung lo cho thân tứ đại một cách thái quá, đó là trói buộc.
(Xem: 760)
Trời có lúc nắng lúc mưa, người có lúc may mắn hoặc xui xẻo. Nhưng không có cái gì tự dưng sinh ra hay mất đi, tất cả đều có lý do của do của nó.
(Xem: 660)
Ajaan Dune Atulo (1888-1983) sinh ngày 4 tháng 10/1888 tại làng Praasaat, huyện Muang, tỉnh Surin. Năm 22 tuổi ngài xuất gia ở tỉnh lỵ.
(Xem: 919)
Đức Phật là đấng Toàn giác, bậc trí tuệ siêu việt. Càng hiểu Phật phápcuộc đời, ta càng thấy những gì Đức Phật dạy là vô cùng đúng đắn.
(Xem: 1238)
Một cá nhân hay đoàn thể đệ tử Phật thực sự có tu tập giới-định-tuệ thì được mọi người kính trọng; sống hòa hợp, nhẫn nhịn, không tranh chấp đấu đá lẫn nhau chắc chắn được mọi người thương mến.
(Xem: 1409)
"Một thời Đức Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng, vườn Cấp Cô Độc. Bấy giờ, khi đêm đã qua, vào lúc trời vừa sáng, Đức Thế Tôn đắp y mang bát vào nước Xá-vệ. …
(Xem: 1142)
Thánh hiệu của Bồ-tát Quán Thế Âm, tại Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc là Thánh hiệu mà không ai chẳng biết.
(Xem: 1464)
Việc nâng cao các tiện nghi vật chấtphương tiện hỗ trợ phát triển bản thânnhững tưởng giúp ta cởi bỏ phiền lụy để sống an vui,
(Xem: 930)
Con người khổ đau vì không biết và không thể sống đời sống chân thực (real life). Đời sống chân thựctrong bài này được gọi là “thực tại của đời sống”.
(Xem: 838)
Duy Thức Tam Thập Tụng, tác giả: tổ Thế Thân (316-396), dịch giả Phạn - Hán: Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trang (602-664), có tất cả 30 bài tụng
(Xem: 940)
Đầu Xuân năm Tân Sửu, tôi có dịp sang chùa Khánh Anh ở Pháp, đã gặp Đạo hữu Seng Souvanh Khamdeng Pháp Danh Quảng Chơn, là chồng của Cô Trung Diệp Phạm Thị Hợi, vốn là em gái của cố Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ.
(Xem: 958)
Việc nâng cao các tiện nghi vật chấtphương tiện hỗ trợ phát triển bản thân những tưởng giúp ta cởi bỏ phiền lụy để sống an vui, nhưng thực tế, ta vẫn còn tiếp tục loay hoay giữa rối ren.
(Xem: 930)
Nước chảy mây bay có khoảnh khắc nào ngưng, hoa rơi lá rụng bốn mùa luân chuyển, người đến rồi đi cũng chưa từng gián đoạn bao giờ.
(Xem: 960)
Khi bạn giữ hơi thở trong tâm, bạn gom bốn niệm xứ vào một. Hơi thở là thân, các cảm giác (thọ) nằm trong thân, tâm (tưởng) nằm trong thân, phẩm chất tinh thần (pháp) nằm trong tâm.
(Xem: 1082)
Đêm dần tàn và ngày i đang lên Băng tuyết lạnh mần thủy tiên đã nhú Mùa đông trắng cành đào hồng đơm nụ Xuân rạng ngời hoan hỷ đợi muôn hoa
(Xem: 905)
Khi thân yên, ta có thể hiểu biết về thân. Khi tâm tĩnh lặng, ta có hiểu biết về tâm. Khi hơi thở tĩnh lặng, ta có hiểu b
(Xem: 1051)
Phật rời khỏi thế gian này rồi, lưu lại một số kỉ niệm cho chúng ta, chúng ta chiêm ngưỡng lễ lạy như Phật còn tại thế.
(Xem: 1050)
Qua lịch sử, người ta đã vạch ra, lên án những hành vi, những con người hung ác nhưng chưa định nghĩa thế nào là hung ác.
(Xem: 971)
Trong vài thập niên gần đây, thuật ngữ “tâm linh” trở nên rất thời thượng, tràn ngập khắp trên mặt báo chí, truyền thông, mạng xã hội,
(Xem: 1011)
Trong kiếp Đức Thích Ca thành PhậtẤn Độ, người đối nghịch, thậm chí phá hoại đưa đến âm mưu sát hại Ngài là Đề Bà Đạt Đa.
(Xem: 925)
Không áo mão cân đai. Không y hồng hiệp chưởng. Một bộ y hậu thường nhật mà thôi. Nơi khám thờ hậu Tổ, một di ảnh đơn sơ, bình dị, vậy mà bao nhiêu bài viết đã xưng tánThiền Sư.
(Xem: 1081)
Con người được mô tả gồm hai phần: Thể xác và tinh thần. Theo thuật ngữ Phật học thì thể xác tức thân thể con người gọi là “Sắc”, còn tinh thần là “Danh” tức là tâm.
(Xem: 1027)
Tâm từ bi, lòng trắc ẩn và không làm tổn hại là những những giá trị phổ quát trong Phật giáo, cho nên đối với người dân Bhutan
(Xem: 953)
Trong đời mỗi chúng sinh, đặc biệtcon người, sinh tử vẫn là điều làm cho chúng ta bất an, lo sợ nhất, dẫu biết rằng không ai thoát khỏi quy luật này
(Xem: 1056)
Tham ái với thân, tập trung lo cho thân tứ đại một cách thái quá, đó là trói buộc.
(Xem: 984)
Không hiểu con người biết thương-ghét tự bao giờ? Chắc chắnkhi còn nằm trong bụng mẹ thì không có thương-ghét.
(Xem: 912)
Từ lâu chúng ta nghe nói nhiều về xá lợi, trong đó xá lợi Phật và chư thánh Tăng với lòng sùng tín.
(Xem: 1015)
Tôi không biết. Nhưng tôi biết có kiếp trước. Làm sao biết? Bởi vì nếu khôngkiếp trước, làm sao có tôi ở kiếp này?
(Xem: 954)
Doanh nhân hiện nay không riêng gì ở Việt Nam đang đối đầu với nhiều khó khăn: tình trạng mất đơn hàng do ảnh hưởng suy thoái toàn cầu,
(Xem: 1201)
Dùng bè để qua sông, qua sông rồi thì bỏ bè là thí dụ nổi tiếng về pháp phương tiện trong kinh Phật.
(Xem: 985)
Ông cha ta có câu “gieo nhân nào gặt quả ấy” hay “thiện có thiện báo, ác có ác báo”.
(Xem: 1073)
Các anh chị GĐPT đồng phục áo lam, hoa sen trắng đã nhất tề cung nghinh kim quan Đạo Sư, mà bao lần Đạo Sư đã khuyến thỉnh, sách tấn để giữ trọn phương chăm Bi, Trí, Dũng GĐPT Việt Nam, thể hiện một chút tình, gánh kim quan trên vai để đền ơn đáp nghĩa.
(Xem: 1229)
Đạo Phật do đức Phật Thích Ca mâu Ni (Sakya Muni Buddha) khai sáng ở Ấn Độ. Căn bản của giáo phápTứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo
(Xem: 1667)
Hình ảnh, âm thanh đi vào cõi vô tung, đồng vọng ngàn sau, bặt tích, hay lưu lộ hình ảnh đôi bạn chân tình nơi chốn hiu hắt bụi đường mà đôi chân không hề mỏi.
(Xem: 1237)
Con đường giải thoát, tức là Bát Chánh Đạo. Có thể gói trọn vào một câu, hay hai câu, hay vài câu được không?
(Xem: 1310)
Nhĩ căn viên thông là khả năng mà Bồ-tát Quán Thế Âmthành tựu được nhờ vào sự tu tập ba phương pháp lắng nghe, tư duy và hành động (Văn, Tư, Tu).
(Xem: 1182)
Người xưa nói “Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo”. Dù cho miệng lưỡi thế gian có thế nào chúng ta vẫn an nhiên, “tâm không bị biến đổi, miệng không phát ra lời nói cộc cằn”
(Xem: 1037)
Immanuel Kant (1724-1804) là triết gia vĩ đại, người sáng lập ra nền triết học cổ điển Đức.
(Xem: 998)
Tu tập hằng ngày chúng ta thường được các vị Thầy hướng dẫn, nhắc nhở nếu muốn giác ngộ, thoát khổ,
(Xem: 1028)
Ven. Pannyavaro là một tu sĩ Phật giáo người Úc, Ngài đã cống hiếncả đời mình tu tập thiền định theo giáo lý Đức Phật.
(Xem: 874)
Kinh, Luật, Luận của Phật Giáo cả Nam Truyền lẫn Bắc Truyền đọc tụng suốt cả đời cũng không hết. Bởi lẽ lời Phật, lời Tổ quá sâu sắc nhiệm mầu
(Xem: 1546)
“Để được làm người, sinh mệnh đó thực sự may mắn”.
(Xem: 1425)
Quan điểm của Phật giáo nói chung, mọi biến động của đời sống tự nhiênxã hội đều là biểu hiện của nghiệp, do nghiệp lực của nhân loại hiện hành chi phối.
(Xem: 1403)
Trong Phật giáo Đại thừa, bản chất của sự giác ngộ được gọi là bồ đề tâm, có nghĩa là tâm thức tỉnh.
(Xem: 1342)
Vào thế kỷ trước khi Đức Phật đản sinh, vùng đông bắc Ấn Độ đã trải qua những biến đổi sâu rộng làm định hình lại địa chính trị của khu vực một cách sâu sắc.
(Xem: 1444)
Tâm trí của Đức Phật được gọi là bồ đề tâm, nghĩa đen là “tâm giác ngộ”. Bồ đề tâm có hai khía cạnh
Quảng Cáo Bảo Trợ
Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Get a FREE Online Menu and Front Door: Stand Banner Menu Display for Your Restaurant