Logo HHAD 2018 250
Sách Văn Học Phật Giáo
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
View Counts
14,707,074
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Phần 5

18 Tháng Chín 201200:00(Xem: 4207)
Phần 5

Những Truyện Cổ Việt Nam Mang Màu Sắc Phật Giáo

Lệ Như Thích Trung Hậu
Sưu tầm & giới thiệu


nhung-chuyen-co

flowerba

PHẦN 5

101. CHUYỆN VỀ VUA LÊ TIẾP SỨ TỐNG

Sau khi phá Tống,bình Chiêm thắng lợi,lòng người trong nước quy phục,Lê Hoàn bắt tay vào việc xây dựng đất nước một cách tích cực,khẩn trưởng.Nhà vua cho đúc tiền đồng,cho mở chợ khắp nơi,cho mở các cảng để buôn bán với người nước ngoài. Đặc biệt nhà vua cho kén chọn các thợ tài giỏi trong nước về xây dựng kinh đô Hoa Lư cực kỳ tráng lệ,nhiều cung điện được dát vàng bạc,ngói cũng được làm bằng bạc.Cung đình Hoa Lư lấp lánh vàng,bạc.
Vua Tống nghe tin,bán tín bán nghi,bèn sai Lý Nhược Chuyết và Lý Giác mang chế sách sang phong vua Lê làm An Nam Tiết Độ sứ,nhưng thực chất là đến kinh đô Hoa Lư xem tin đồn cung điện dát vàng,mạc bạc ngợp trước những cung điện dát toàn bằng vàng thực hư thế nào.
Khi sứ Tống đến kinh đô Hoa Lư,thì quả nhiên họ choáng bạc.Vua Lê cho quan Thái giám dẫn Sứ giả nhà Tống đi xem điện Bách Bảo, điện Thiên Tuế,lại dẫn Sứ lên núi Đại Vân ngắm nhìn các cung điện Phong Lưu,Tử Hoa,Bồng lai,Cực Lạc,Long Lộc,ngói lợp toàn bằng bạc,lấp lánh dưới ánh mặt trời.Khi Lý Nhược Chuyết lên núi Đại Vân về, mắt đang còn lóa ánh bạc bởi các cung điện ấy thì vua Lê Đại Hành đã đón ở lầu Đại Vân,tươi cười nói:
-Thượng quan chắc đã mệt,xin nghỉ để dùng bữa cơm dưa muối với quả nhân.
Tiệc đã được dọn sẵn.Sứ Tống liếc nhìn trên mâm:từ mâm,bát, đĩa, đều mạ bạc;còn món ăn thì không phải cỗ yến như bên Trung Quốc,mà toàn những món ăn đồng quê:cá rô rán,cá chép,cá quả hấp rượu,chim sâm cầm quay,thịt dê nướng.Vua Lê dùng tay nhón một con chim quay vừa cười cừa đưa vào bát tiếp sứ Tống:
-Đây là loại chim sâm cầm , là loài chim ăn ngon,bổ như sâm vậy.Loại này cứ phải dùng bằng tay!
Vừa nói,vua Lê vừa xé con chim quay giòn ăn một cách ngon lành.
Hôm ấy,sứ Tống về sứ quán ngủ,cứ trằn trọc suy nghĩ: Cung điện,lâu đài thì dát toàn bằng vàng bạc,bát điã cũng viền vàng,mạ bạc,cung nữ ra múa hát, quần áo,mũ hài toàn gắn ngọc long lanh.Nhưng lạ,sao vua Lê thì chỉ mặc quần áo thụng thô,chân đi dép cói,dáng vẻ xuềnh xoàng,con mắt trái hơi bé,mỗi khi cười lại nheo hẳn lại.Sáng hôm sau sứ Tống đánh bạo hỏi vua Lê:
-Đại Cồ Việt có bao nhiêu tiền của,chắc nhà vua dốc cả vào việc xây dựng lâu đài rồi?
Lê Hoàn chỉ tủm tỉm cười không nói gì.Nhà vua cho gọi mang trầu ra tiếp sứ.Hai viên sứ giả nhà Tống lại càng lấy làm kinh ngạc trước cung cách ngoại giao của ông vua Đại Cồ Việt.
Đêm hôm ấy,trời mưa tầm tã.Sáng hôm sau,trời lại nắng rực rỡ.Hai viên sứ Tống đang ngồi tiếp kiến vua Lê ở điện Thiên Tuế thì quan Quốc khố Đại thần của triều đình vào tâu:
-Muôn tâu Hoàng thượng,trận mưa đêm qua lớn quá,một viên ngói lợp khi kim ngân bên tả bị vỡ,nước róc xuống làm ướt cả kho.
Lê Hoàn nghe xong,truyền chỉ:
-Hãy đưa kim ngân trong những rương,hòm bị ướt ra phơi! Cho kiểm tra toàn bộ các kho khác!
Chỉ một lát sau,trên sân rồng,vàng bạc,châu báu đưa ra phơi lấp lánh dưới ánh nắng chan hòa,làm hoa cả mắt hai viên sứ Tống.
Đêm đã khuya,trong sứ quán,hai viên sứ Tống họ Lý nói với nhau:
-Họ mới phơi số của bị ướt,chứ số khô còn cất trong kho báu chắc là không biết cơ man nào.Nước Nam còn thịnh vượng lắm!
Lý Chuyết lại nói:
-Hay vừa qua họ đánh phá kinh thành Phật Thệ của người Chiêm,nên cướp bóc được nhiều như vậy?
Lý Giác trầm ngâm một lát rồi nói:
-Cũng có đấy,nhưng không hẳn thế.Giao Chỉ vốn là vùng đất lắm bạc,nhiều vàng,người mình sang chỉ dăm mười năm,chở của về không hết còn phải làm thần giữ của để chôn giấu vàng bạc lại,sang chuyến sau mang về đấy thôi.
Sau lần đi sứ Đại Cồ Việt về,Lý Nhược Chuyết và Lý Giác đem hết những điều mắt thấy tai nghe ở kinh đô Hoa Lư tấu trình với vua Tống.Vua Tống vô cùng kinh ngạc hỏi:
-Ngân khố nó giàu thế,còn dân chúng thì sao? Binh mã thế nào?Bậc trí giả trong nước có điểm nổi trên đầu ngón tay không?
Nghe vua Tống hỏi dồn,lại toàn những điều hệ trọng mà hai viên sứ giả họ Lý chưa tường tận cả,họ cúi rập đầu,xin một phen sang Hoa Lư để biết rõ thực hư.Vua Tống bằng lòng sai họ đi chuyến nữa.
Mùa thu năm Giáp Thân (984),Lý Giác lại được cử đi sứ Hoa Lư.
Nhận được tin sứ Tống sắp sang Đại Cồ Việt,vua Lê nói với các văn võ quần thần rằng:
-Lần trước,sứ Tống đến Hoa Lư là để có ý dò xem nước ta hưng thịnh thế nào.Lần này họ sang,chắc là dò xem nhân tài,kẻ sĩ nước ta có kiệt hiệt không đây! Ta phải cho họ biết thế nào là một nước có hàng ngàn năm văn hiến.
Đoàn thuyền sứ Tống đến Hoàng Long Độ.Vua Lê sai Pháp sư tên là Đỗ Thuận,nổi tiếng hay chữ lúc bấy giờ,giả làm người lái đò ra đón sứ qua sông.Hôm ấy là một buổi sớm mùa thu đẹp đẽ,bầu trời cao xanh lồng lộng,mấy dải mây trắng trôi bồng bềnh phía chân trời.Thuyền đón sứ giả nhẹ bơi,thanh thản trên sông Hoàng Long.Cách thuyền không xa,có hai con ngỗng trời lững lờ bơi ngược dòng,bóng ngỗng in hình trên mặt nước da trời trong xanh,chân ngỗng như đôi mái chèo hồng,thân ngỗng như con thuyền trắng.Lý Giác cao hứng ngâm rằng:
“Nga nga lưỡng nga nga
Ngưỡng diện hướng thiên nha”.
(Ngỗng ngỗng hai con ngỗng
Ngửa mặt nhìn chân trời.)
Đỗ Thuận đương bẻ chèo bèn ứng khẩu ngâm tiếp:
“Bạch Mao phô lục thủy
Hồng trạo bãi thanh ba.”
(Nước xanh phô lông trắng
Chèo hồng sóng xanh bơi.)
Thấy người chèo thuyền của nước Nam hay chữ như vậy.Lý Giác vô cùng kinh ngạcthán phục.Về đến kinh đô Hoa Lư,Lý Giác mang chuyện người chèo đò hay chữ kể với vua Lê,rồi hỏi:
-Nước Nam người hay chữ như ông lái đò liệu có nhiều không?
Lê Hoàn mỉm cười vẻ nhũn nhặn,khiêm nhường:
-Ở nước quả nhân,những người như ông lái đò ấy thì trong thôn dã biết bao nhiêu mà ước được,họ cũng mới chỉ là những người nông phu thiển học,có đáng kể gì mà bận tâm quan khách?
Nghe vua Lê nói vậy,Lý Giác hết sức kinh ngạc,nghĩ thầm: “Một gã lái đò mà còn giỏi như thế thì bậc thức giả ở nước này chẳng kém gì Tống Quốc.Huống chi đây,những người như vậy ở khắp nơi trong thôn dã.Quả là một nước văn hiến,không dễ gì thu phục được!”
Lần ấy,trước ngày rời kinh đô,vào mùa hè năm Canh Dần (990),vua Tống lại cử đoàn sứ Tống sang,vua Lê sai Đinh Thừa Chính đem chín chiến thuyền và hơn ba trăm quân sang tận bờ biển Liên Châu (Quảng Đông,Trung Quốc) đón sứ giả.Thuyền sứ bịt kín,chong đèn suốt ngày đêm lênh đênh trên mặt biển,vượt qua sóng gió ngàn trùng nguy hiểm,nửa tháng sau mới tới cửa Bạch Đằng.Theo nước thủy triều lên, đoàn thuyền êm đềm,lặng lẽ đi gần một tháng nữa mới tới trấn Hải Đài (núi Non Nước,Ninh Bình).Trước khi đoàn thuyền sứ Tống đến,Lê Hoàn sai đem thuyền chiến ra thao diễn thủy quân suốt từ Hoàng Long Độ (bến đò Hoàng Long ở kinh đô Hoa Lư) đến Gián Khẩu ra tới trấn Hải Đài.Hàng vạn chiến thuyền đủ các kích cỡ,cờ xí rợp trời,giáo gươm như rừng,cung tên không kể xiết,rầm rập trên sông Hoàng Long và sông Đáy hàng trăm dặm.Vua Lê lại sai dân các nơi kéo về,trà trộn với binh lính,mặc áo tạp sắc,xếp hàng dày đặc dọc hai bên bờ sông,toán khác lại bơi thuyền đánh trống,khua chiêng trong các sông nhánh,các suối ở xung quanh kinh thánh,tiếng reo hò dậy đất, khiến sứ Tống tưởng quân của triều đình Hoa Lư đông đến hàng triệu người.Nhà vua lại sai dồn tất cả trâu bò của dân các lộ ra hai bên bờ sông Đáy,sông Hoàng Long,lại cho vẽ nhiều hình thù kỳ quái trên lưng trâu, đánh cho chúng chạy xuôi chạy ngược,sứ Tống dụi mắt nhìn không hiểu là trâu hay hàng vạn con ngưu tinh đang cùng thủy quân diễn tập nữa.
Khi vào đến kinh thành Hoa Lư,Tống Cảo ngước nhìn quanh thành quách,cờ hiệu nhiều màu rợp núi, tiếng chiêng trống trong các hang động như truyền gọi lẫn nhau lúc đều đặn,lúc dập dồn hối hả tưởng như đang sa vào trận đồ bát quái khó có thể thoát ra được.
Vua Lê cưỡi ngựa hồng mao, đứng ở cửa Đông Thành đón sứ giả.Nhìn thấy vua Lê uy nghi,quắc thước, đúng là một bậc đế vương,lại vừa hiền hậu,cởi mở,Tống Cảo cất tiếng chào:
-Kính chào Đại Vương,xin chúc Ngài an khang,vạn tuế!
Lê Hoàn cười nheo cặp mắt sáng ngời,tỏ vẻ thân mật:
-Thượng quan lặn lội ngàn trùng thật là vất vả,xin mời Ngài xơi tạm miếng trầu.Tục lệ nước quả nhân “Miếng trầu là đầu câu chuyện”mà!
Đoàn sứ Tống miễn cưỡng mỗi người đón nhai một miếng trầu theo vua Lê.
Lê Hoàn xuống dắt ngựa đi cùng với sứ giả. Đến cửa Minh Đức trong Hoàng Thành,vua Lê bưng chiếu thư đặt lên trên điện,không lạy.Sứ Tống tỏ vẻ khó chịu,bực mình lắm,Lê Hoàn nói thác rằng:
-Mong Thượng quan thứ lễ, quả nhân vừa rồi đánh giặc ngoài cõi Man bị ngã ngựa đau chân!
Nhà vua mở tiệc khao đãi sứ giả.Ngài vận áo hoa, đội mũ đính ngọc trai long lánh,chân vẫn đi đôi dép cói,tự tay rót rượu mời sứ giả,vừa cười nheo con mắt nhỏ bên trái,vừa nói:
-Sau này có Quốc thư,Thượng quan nên giao nhận ngay ở đầu cõi để khỏi nhọc đến đại nhân!
Sau những đêm tiệc rượu và xem các cung nữ múa hát,Lê Hoàn lại cùng các quan đại thần và hoàng gia ra hồ Vọng Nguyệt,hồ Long Khánh vui chơi tiếp sứ.Nhà vua đi chân đất,mặc quần áo thụng thô,xắn quần lên quá gối,tay cầm cần câu,miệng nhai trầu bỏm bẻm.Mỗi khi giật được một con cá thì hai bên tả hữu đều nhảy lên reo hò vui vẻ,tranh nhau gỡ cá,mắc mồi.Thấy vậy sứ Tống vô cùng kinh ngạc,nghĩ thầm: “Chà chà,vua tôi họ thân mật,dân dã,chan hòa như cha con,như ruột thịt thế kia,chắc chúng sẽ sống chết vì nhau.Mạnh lắm,mạnh lắm!”
Mấy hôm sau,Lê Hoàn sai người mang một con trăn lớn,dài vài trượng đến sứ quán biếu quan khách Tống và bảo:
-Nếu sứ thần muốn ăn sẽ làm cỗ thết đãi!
Sứ Tống chưa hết kinh ngạc thì lại thấy vua Lê sai người trói hai con hổ lớn đem đến tặng.Vua nói:
-Kinh đô Hoa Lư ít có các trò tiêu khiển để nguôi nỗi nhớ nhà của quý khách,xin đem tặng sứ thần để lúc nào buồn thì chơi!
Thấy những của biếu hiếm có và kỳ lạ đó,sứ Tống vô cùng khiếp sợ,một mực từ chối và xin tạ ơn thịnh tình của Đại Vương! Chỉ mấy ngày sau bọn Tống Cảo xin cáo từ vua Lê để về nước và nói:
-Đại Vương không phải nhọc lòng cho người tiễn biệt,các tiểu nhân xin tự về cho thoải mái!
Tống Cảo về đến nước,tấu trình cặn kẽ mọi điều mắt thấy,tai nghe trong chuyến đi sứ nước Nam cho vua Tống nghe.Vua Tống vừa nghe,vừa đập tay xuống án thư,mắt dựng lên,miệng rít “cha chả!”.Vua Tống giận lắm,muốn cất quân chinh phạt nhưng lại sợ vượng khí nước Nam nên chỉ khẽ hạ giọng truyền chỉ:
-Kể từ nay,Quốc thư chỉ trao đầu địa giới,không phải nhọc công mà đến Hoa Lư!
(Truyền thuyết Đinh Lê-Trương Đình Tưởng NXB.VH-DT 2003)

102.BÁ THÍ

Trên bến đò Thừa Phủ (Huế) có xảy ra câu chuyện,nói chả ai tin nhưng là chuyện có thật:
Một hôm sư cụ sang đò,thấy một người đi hầu quan ở Đại nội.Người này độc nhất chỉ có một cái áo dài rách te tua và một chiếc quần vá trăm miếng.
Chả may đi xuống đò,vô ý bị trơn và ngã bổ,quần rách,và thế là anh ta trễ ngày chầu quan.
Trông mặt anh ta khổ sở quá,nhà sư ngồi bên cạnh biết ý và hỏi:
-Mô Phật, đạo hữu đi mô mà gấp rứa?
-Bạch thầy,con đi hầu quan.
-Nhà xa không?
-Thưa thầy xa lắm.
-Hầu quan trễ có sao không?
-Thưa thầy,chắc bị phạt,nhưng con thì quá nghèo,không mua nổi cái quần chả may bị rách như thế này,thật khổ quá! Lại trễ hầu quan thì con e chết mất. Đã nghèo lại gặp cái eo!
Nhà sư bèn rĩ tai bảo nhỏ:
-Được rồi, đạo hữu lên bờ,vào gốc cây rậm đợi ta.
Nhà sư chậm rãi lên đò, đến chỗ hẹn nơi gốc cây,thong thả cởi quần dài của mình đang mặc và nói với đạo hữu rằng:
-Thôi, ông lấy tạm chiếc quần này bận vào và hầu quan cho kịp đã.
Đạo hữu ấy nửa nghi,hai ngờ,ba lại sợ.Nhưng nhà sư ấy bình thản nói:
-Cứ lấy mặc đi cho được việc.Ta bá thí cho người đó.
nhà sư tìm một gốc cây vắng vẻ,ngồi tĩnh tọa,chờ tối đến mới đi bộ về chùa.
Về đến chùa,chư Tăng ra đón,thấy nghi bèn hỏi,sư mới thuật câu chuyện này và giải thích:
-Mình không bá thí thì lỡ việc của họ,xem ra cũng tội.Nên đành lấy vạt áo tràng che phủ thân mình,chờ tối về cũng được!
Nhân đó,câu chuyện được đồn ầm lên.Từ đó,nhà sư có thêm một biệt danh nữa là nhà sư Bá Thí.

103.KHÚC RUỘT CŨNG KHÔNG CHO

Ngày xưa,có một ông quan nọ ỷ có chút chữ nghĩa nên thường tỏ ra xem thường mọi người.Một hôm cao hứng ông phán:
-Hễ ai đáp trọn những câu đối của ta,ta sẽ thưởng cho một con heo bự.
Có anh nông dân đến nhà quan xin được vào đối như lời quan truyền,Quan nhìn anh rồi hất mặt đi không thèm nói một lời, đoạn ông đưa một ngón tay lên;anh nông dân thấy vậy liền giơ hai ngón tay đối lại.Quan giơ lên ba ngón :anh nông dân liền giơ lên bốn ngón.Có vẻ ra chiều suy nghĩ,quan lấy hai cánh tay khỏa ghép vòng tròn trước mặt;anh nông dân liền đưa cánh tay lên chặt xuống.Quan lắc đầu,mặt mày méo xẹo đành phải chịu thua và bảo gia nhân thả con heo cho anh nông dân dẫn về.Vợ quan hớt hải chạy ra hỏi:
-Sao ông thua nó dễ dàng quá vậy?
Quan lắc đầu đáp:
-Không ngờ nhà nông dân mà có cái thằng thông minh quá vậy.Tôi nói “Nhất Quan Âm”,nó đối ‘nhì Bồ Tát”; tôi nói”Tam Thánh”, nó đối “Tứ Hiền”. Tôi ra câu “Vầng nhật nguyệt kết thành một khối” tưởng là nó ngắc ngư đoạn này,ai dè nó trả lời đúng là : “Dải ngân hà chia xẻ hai phần”.Thành ra mình thua chứ còn gì nữa.
Thấy chồng dẫn heo về,vợ anh nông dân mừng rỡ sốt sắng hỏi chồng:
-Mình đối ra làm sao mà thắng quan hay vậy?
Anh nông dân đáp tỉnh rụi:
Quá dễ.Sáng sớm chưa ăn gì hết mà ông hỏi: “Một đòn bánh tét ăn có hết không?”, tôi liền trả lời: “Hai đòn cũng hết”; rồi ông thách: “Ba đòn…” tôi nói ngay là “Bốn đòn cũng xong!” Ông biết là đã thua tôi,suy nghĩ mãi cuối cùng ông xin lại “bộ lòng”,nghĩ mà ghét quan gì mà keo bẩn,tôi trả lời dứt khoát “khúc ruột cũng không cho!”Cuối cùng ông đành thả heo cho tôi dẫn về,thế thôi chứ có gì đâu.

104.TRẠNG LỢN

Một buổi chiều,Trạng Lợn cùng hai thầy khóa đi tới một ngôi chùa phong cảnh kì tuyệt,bèn vào viếng.Nhà sư niềm nở đưa các sĩ tử đi vãn cảnh chùa,nào hồ sen,nào bờ liễu,nào khóm trúc,nào khu tháp cổ…Đêm ấy trăng đẹp,nhà sư cùng các sĩ tử ngồi giữa sân chùa thưởng trăng và làm thơ,làm văn nói về cảnh tiêu sái.Một trong hai thầy khóa vốn văn hay chữ tốt đề một câu “phong nguyệt vô biên”tặng nhà chùa. Chung (Trạng Lợn) vốn không sành chữ nghĩa mấy, cũng lãnh bút và một tờ tiên hoa viết luôn bốn chữ “Thâm tinh lập lái” là tiếng lóng của dân hành thịt.Nhưng vì không nhớ kỹ mặt chữ nên hai chữ “lập lái” Chung viết nhầm thành “huyền lý” (tự dạng từa tựa chữ “lập lái”). Thành thử bốn chữ của Chung là “Thâm tinh huyền lý”, có nghĩa là “Thấu hiểu lẽ diệu huyền” (của đạo Phật).Cả nhà sư lẫn hai thầy khóa xuýt xoa tán thưởng câu văn cực kỳ súc tích và hợp với cảnh nhà chùa ấy.Trong khi đó thì “trạng” nhập tâm tất cả thơ,văn của nhà sư và hai ông bạn đồng hành để…sẽ dùng đến sau này…

105.THƠ CÓC MỌC ĐUÔI

Viên Thành (Công Tôn Hoàng Trấp,thuộc dòng tộc nhà Nguyễn)tu ở chùa Ba LA Mật (Huế),là một nhà sư hay trào phúng.Một thầy Tăng nọ sau một thời gian cắt tóc đi tu xem chừng không “trụ” nổi,lại phải “hoàn tục” đi lấy vợ.Sư Viên Thành thấy chuyện cũng nực cười,liền viết tặng ông ta một bài thơ:
Chuyện lạ lùng thay,chẳng thấy mô:
Bỗng nhiên chú cóc mọc đuôi lò.
Lom khom vọt trước không ra vọt,
Lận đận bò sau khốn nỗi bò!
Theo dõi làm chi thành vấn vớt,(vít)
Dứt đi không hết luống…thò lò!
Như mày đã muốn thay lòng tục,
Mượn phép từ bi cởi lốt cho!
Bài thơ chế giễu con cóc mọc thêm cái đuôi làm cho vướng víu khổ sở,cũng như người đã tu hành lại còn “tiếc rẻ” của đời không dứt được đến nổi phải…đứt gánh giữa đường!

106. CHUYỆN KỂ VỀ GIẾNG NGỌC

Nằm ở sườn núi Kỳ Lân,bên phải là lối lên Bàn Cờ Tiên,phía dưới chân Đăng Minh Bảo Tháp, đó là Giếng Ngọc.Người xưa cho rằng dãy núi này có hình thù con Kỳ Lân,Giếng Ngọc chính là mắt của con Kỳ Lân.
Ở đây hiện còn lưu truyền chuyện Huyền Quang tôn giả-vị Tổ thứ ba của Thiền phái Trúc Lâm khi Người về Trụ trì tại chùa Côn Sơn đã phát hiện ra Giếng Ngọc.
Chuyện kể rằng:Vào một đêm rằm tháng bảy,Huyền Quang cùng các Tăng Ni Phật tử làm lễ ở chùa xong thì trời đã về khuya,mọi người về phòng nghỉ.Trong mơ,Huyền Quang thấy có một vị thần đến dẫn đi và chỉ cho ông thấy một viên ngọc sáng lấp lánh trên sườn núi.Huyền Quang cúi xuống xem viên ngọc thì tiếng chuông chùa vang lên làm ông tỉnh giấc.Trời đã mờ sáng,các Tăng Ni đã lên chùa tụng kinh,niệm Phật.
Ngẫm lại giấc mơ ban đêm, ông cùng các Tăng Ni lên núi xem xét,khi phát quang các bụi sim,mua thì hiện ra một giếng nước,giếng nước trong vắt,Huyền Quang lấy lá cây múc nước uống thử,nước ngọt,mát và thấy người khoan khoái,dễ chịu.
Ông về chùa làm lễ tạ thần linh đã ban cho chùa nguồn nước quý và xin được khơi sâu,mở rộng ,dùng đá, gạch kè bờ thành giếng.Từ đó giếng có tên là Giếng Ngọc và nước ở giếng được các sư dùng làm nước cúng lễ của chùa.
Tương truyền nếu dùng nước Giếng Ngọc,người ta trẻ thì càng trẻ đẹp ra,người già thì trẻ,khỏe lại.Tiếng đồn nước Giếng Ngọc thiêng được truyền đi khắp nơi,du khách vế trẩy hội tham quan chùa Côn Sơn đều lên Giếng Ngọc soi mình,mong muốn nhờ nước giếng thiêng tẩy sạch bụi trần.
Giếng Ngọc cũng đã có thời gian bị cỏ cây che lấp.Năm 1995-Ban Quản lý Di tích Côn Sơn-Kiếp Bạc đã khơi lại,kè đá,xây bờ,lát sân để phục vụ cho du khách về tham quan Côn Sơn lại được soi mình và tận hưởng nước giếng thiêng.
Hiện nay nước Giếng Ngọc đang là nguồn nước quý,sạch cung cấp nước sinh hoạt cho khu di tích Côn Sơn.
(Côn Sơn,Sự tích và Truyền thuyết-SVHTT Hải Dương 2001)

107. MỘT LÒNG THOÁT TỤC

Nguyễn Thượng Hiền,nhà hoạt động cách mạng (phong trào Đông Du)một lần qua Huế,có ghé chùa Ba La Mật thăm sư Viên Thành.Hai người theo đuổi hai con đường khác nhau và không ai có thể lay chuyển được ai.
Nguyễn Thượng Hiền làm bài thơ “ngôn chí” tỏ rõ lập trường nhập thế của mình:
Hỏi hoa xin mượn mùi hương
Hỏi trăng xin mượn gươm vàng để soi.
Hỏi non xin mượn đá ngồi,
Hỏi sông mượn nước tắm chơi sạch mình.
Khi nghe những lời thơ hùng hồn đó, Viên Thành chỉ mỉm cười,rồi ông làm một bài thơ đáp lại Nguyễn Thượng Hiền tỏ rõ lập trường thoát tục của mình.
Hỏi trăng, trăng chẳng đáp lời,
Hỏi hoa,hoa chỉ mỉm cười làm ngơ.
Hỏi sông,sông lặng như tờ,
Hỏi non, non cứ trơ trơ với mình!

108. CON NGƯỜI TA CŨNG BẬT CƯỜI

Bài thơ “cười cho cảnh sống người ta” sau đây,có người bảo của Nguyễn Công Trứ,có người bảo của Nguyễn Thượng Hiền,nhưng có người khẳng định của Viên Thành.Bài thơ tài tình ở chỗ câu nào cũng có hai cặp từ “lấp láy”hoặc “điệp âm”:
Vất vất vơ vơ cũng nực cười
Căm căm cúi cúi có hơn ai?
Nay còn chị chị anh anh đó,
Mai đã ông ông mụ mụ rồi!
Đói đói no no lo hết kiếp,
Khôn khôn dại dại,chết xong đòi!
Chi bằng láo láo lơ lơ vậy,
Ngủ ngủ ăn ăn nói chuyện chơi!

109. THƠ VỊNH TƯỢNG

Tuần phủ Thái Bình là phạm Văn Thụ có “sáng kiến”làm một bức tượng Phật Bà đặt ở nghĩa trang tỉnh,gọi là tượng Hiệp Phật,nhằm an ủi các vong linh của chúng sinh nằm tại đây. Điều quái gở là “Phật Bà” này không cầm bình nước Phật rẩy xuống để cứu khổ cứu nạn cho chúng nhân,mà cầm một thanh gươm và một lá buồm! ý hẳn Thụ định bắt chước tượng của Tây cho thêm phần oai phong lẫm liệt!
Nhà thơ trào phúng đất Vị Xuyên (Nam Định) là Trần Tích Phiên (Bạn của nhà thơ Trần Tế Xương) ngứa mắt trước bức tượng đó,liền có thơ rằng:
Cái gì sừng sững giữa thây ma?
Ngoảnh lại trông ra tượng Phật Bà.
Hỏi định giết ai mà kiếm chồng?
Còn toan che mặt giở buồm ra.
Biết bao tiền của nhồi trong bụng
Được tí vàng son ở ngoại da.
Phật hiện chân thân đâu có thế?
Xi măng pha cát đó thôi mà!

110. PHẬT CƯỜI GÌ?

Ở Hà Nội,xưa kia có cầu Đông,bắc qua sông Tô Lịcl (vị trí phố Hàng Đường bây giờ). Đầu cầu,người ta đặt một pho tượng Phật bằng đá trắng cao hai thước,ngồi xếp bằng tròn,hơi ngả ra sau,phơi bụng,hở rốn,miệng tủm tỉm cười.Vì vậy dân chúng thường gọi là tượng Phật cười.
Mỗi người hiểu nụ cười của Phật theo một cách khác nhau.
Người thi bảo đức Phật cười vì ngài đang ở trong trạng thái an nhiên tự tại chốn Niết Bàn.Nhưng nhiều người khác suy đoán rằng Phật cười là cười cái thế gian chẳng khác gì “bọt trong bể khổ bèo đầu bến mê” đang nhốn nháo trong cuộc đua tranh danh lợi.
Chắc hẳn nhà thơ Ngô Ngọc Du cũng cho là như vậy nên mới viết hai câu thơ như sau:
Trò đời múa rối bày trăm vẻ
Đức Phật từ bi cũng bật cười!

111.LỜI TIÊN TRI CỦA SƯ HUYỀN KHÔNG (VIÊN NGỌC ĐẾ VƯƠNG)

Đinh Bộ Lĩnh sau khi được Rồng Vàng cứu thoát khỏi lưỡi gươm giận dữ của ông chú,liền đi về vùng Giao Thủy,xin đi kéo lưới cá thuê cho dân vùng sông biển này suốt ba năm ròng.
Một hôm,kéo lưới suốt từ sáng đến trưa vẫn chẳng được gì,Bộ Lĩnh đang định thu lưới để về,bỗng ở cuối lưới có một vật gì tròn tròn,nhỏ hơn quả trứng gà,lại long lanh nhiều màu sắc.Bộ Lĩnh không biết là vật gì,thấy lạ và đẹp,liền bỏ vào giỏ mang về.Khi kéo lưới lên để lấy vật lạ đó, do sơ ý, để vật lạ chạm mạnh vào mũi thuyền nên bị sứt mất một góc.
Tối hôm đó, Bộ Lĩnh xin nghỉ tạm ở tam qquan một ngôi chùa ven sông Giao Thủy.Bộ Lĩnh mệt quá ngủ thiếp đi lúc nào không biết.Vật lạ để ở trong giỏ phát ra ánh sáng lạ thường,làm sáng rực,lung linh cả một khu chùa.Mọi người trong chùa thấy lạ, đổ xô ra phía gác tam quan,chỉ thấy Bộ Lĩnh đang ngủ say sưa, đầu gối lên chiếc dầm thuyền.Còn ánh sáng kỳ lạ thì pại phát ra từ cái giỏ treo ở góc nhà.Một người chạy lại lấy ra xem,cũng chưa biết đó là vật gì,liền dâng cho Hòa thượng xem.Vị Hoà thượng Trụ trì ở chùa Giao thủy là Huyền Thông cầm vật lạ xem một lát rồi giảng giải cho mọi người nghe:
-Đây là viên ngọc Thiên Bảo,ngũ sắc kết hình chữ Vương,ban ngày cũng phát quang như ta không nhìn thấy đó thôi.Người chủ của viên ngọc này sẽ ứng ngôi Thiên Tử, đứng đầu trăm họ.Nhưng ngặt một nỗi,viên ngọc lại bị sứt một góc,ngay đầu chữ Vương nên vận mệnh vương giả,phú quý sẽ chẳng được dài lâu.
Nghe Hoà thượng Huyền Thông nói xong,người ta đỡ Bộ Lĩnh dậy, rồi tất cả đều sụp lạy ông như ông đã là Đế Vương rồi.
Đúng như lời tiên tri của hòa Thượng Huyền Thông, Đinh Bộ Lĩnh ít lâu sau ứng ngôi Thiên Tử,dẹp loạn bốn phương,lên ngôi Hoàng đế.Chỉ tiếc rằng, ông bị gian thần sát hại, ở ngôi được mười một năm.Người ta nói, điềm tốt xấu đã được trời báo trước khi trao cho ông viên ngọc quý từ thuở hàn vi đánh cá ở sông Giao Thủy.
(Truyền thuyết Đinh Lê-Trương Đình Tưởng,NXB Văn hoá-Dân tộc,2003)

112.BA VỊ TƯỚNG QUÂN Ở LỘNG ĐÌNH KINH BẮC

Tương truyền ,vào đời Ngô Vương trị vì đất nước ta, ở trang Lộng Đình,phủ Thuận An,xứ Kinh Bắc,có một ngôi chùa rất linh ứng.
Bấy giờ có vợ chồng ông Lú Miên trông giữ chùa và vợ chồng người họ Đặng ở cùng trang,vốn ăn ở hiền lành, tuổi cao mà chưa có con.Vợ chồng họ Lý, họ Đặng liền bàn nhau làm lễ cầu tự ở chùa để mong đức Phật từ bi ban cho họ mụn con nối dõi tông đường.
Hôm ấy, sau khi làm lễ cầu tự xong,vợ chồng Lý Miên phủ phục luôn dưới bệ Phật.Vợ chồng họ Đặng ngủ luôn ở thềm chùa. Đến nửa đêm thanh vắng, bỗng họ thấy trên điện thờ Phật hào quang sáng rực. Đức Phật ngự trên tòa sen đang ban nước phép cành dương,xung quanh rất nhiều hài đồng ríu rít múa hát. Đức Phật sai long Thần chỉ dẫn ba hài đồng nam và một hài đồng nữ đầu thai làm con hai họ Lý, Đặng.Vợ chồng họ lý vui sướng quá,không kìm được reo lên,Nghe thấy tiếng động ,vợ chồng họ Đặng chạy vào thì thấy vẫn yên ắng cả.Hương hoa thơm nức trong am chùa thanh tịnh.Họ liền kể cho nhau nghe thì thấy chuyện đều giống nhau cả.Mọi người bâng khuâng,không biết là mình nằm mơ hay chính mắt trông thấy những sự lạ đó
Ít lâu sau,Lý phu nhân và Đặng phu nhân đều có thai.Họ mừng lắm. Đến ngày mồng bốn tháng giêng năm Giáp Thìn,bà Lý sinh được một cậu con trai rất khôi ngô,tuấn tú.Lý công đặt tên con là Lý Đài bà Đặng cũng sinh được một cô con gái mắt phượng,mày ngài,gương mặt đẹp như mặt trăng giữa tháng. Đặng Công đặt tên con là Mộ Nương.Cả hai gia đình vô cùng mừng rỡ,làm lễ lên chùa tạ Phật.
Ba năm sau, vào ngày mộng ba tháng ba năm Bính Ngọ,Lý phu nhân lại sinh đôi hai cậu con trai,dung mạo khác thường,tai to,mặt lớn,tay dài như tay vượn ,rủ xuống quá đầu gối.Lý Công cả mừng đặt tên cho cậu sinh trước là Lý Trâu,cậu sinh sau là Lý Quốc.Ba anh em họ lý lớn nhanh như thổi,mỗi ngày ăn hết mấy đấu gạo. Ông bà Lý Miên phải lam lũ vất vả,chạy ngược,chạy xuôi mới có đủ nuôi ba con trai.Năm Lý Đài 17 tuổi,hai em Trâu và Quốc 14 tuổi thì cả ông bà Lý Miên không ốm, không đau mà tự nhiên qua đời cả.Ba anh em vô cùng thương xót, án táng cha mẹ vào khu gò tháp đầu làng.Thấy ba anh em họcôi cút,chưa tự lập được,vợ chồng Đặng Công đón cả ba cậu về ở nhà mình,nhận là cho đỡ đầu.
Ba anh em họ lý và con gái họ Đặng là Mộ Nương sớm ham võ nghệ,kiếm cung,say đọc sách binh thư,binh pháp.Càng lớn,cả bốn anh em càng ham võ nghệ,tập luyện suốt ngày đêm không muốn nghỉ,sức khỏe,mưu trí phi thường,kiếm cung trong vùng không ai địch nổi.
Khi ấy, nước ta đang cơ khổ vì nạn cát cứ 12 sứ quân,ai cũng tranh nhau làm chúa. Ở động Hoa Lư (Ninh Bình), Đinh Bộ Lĩnh chiêu binh mãi mã, đắp lũy xây thành,hùng cứ một phương,xưng là Vạn Thắng Vương, đang xuất quân đi đánh dẹp các nơi.Một hôm,Vương sai Đại tướng quân Nguyễn Bặc kéo đại binh lên Kinh Bắc.Khi đến trang Lộng Đình,Nguyễn Bặc cho hạ trại,dựng bản doanh ở đây để kén tướng tài và mộ thêm binh mã,quân lương.Ba anh em họ Lý và Mộ Nương vừa đến tuổi trưởng thành, đường kiếm cung điêu luyện,nghe hịch truyền chính nghĩa của Vạn Thắng Vương,cả bốn anh em ăn vận chỉnh tề cùng hơn ba chục trai tráng địa phương tìm đến bản doanh Nguyễn Bặc ra mắt.Nguyễn Bặc thấy bốn anh em tướng mạo khác thường,trông rất uy dũng,hỏi về binh thư,binh pháp đều làu thông cả,bèn thu nhận làm tỳ tướng của mình,cho dự bàn những việc quân cô quyết sách.Mộ Nương được giao cai quản và đốc xuất quân lương.
Lại nói,trước hôm Nguyễn Bặc cất quân từ động Hoa Lư,Vạn Thắng Vương đang ngủ trong trướng quân,bỗng thấy có một con rồng vay từ phía đông lại,tới gần thì hóa ra ba tướng quân và một thục nữ đều vận võ phục, đội mũ giáp trụ , đeo cung kiếm, đến yết kiến đức vua rằng:
-Trời đã cho Bệ hạ là bậc Thiên vương giáng thế, dẹp đời loạn,cứu sinh dân trăm họ.Nay lại sai phái thêm các tiểu thiên tướng xuống để phò tá cho đại sự mau thành.Mong bệ hạ xuất binh tiến gấp về Kinh Bắc,các tiểu thần sẽ đón đợi,dẫn đường,tất đánh một trận sẽ phá tan kinh ngạc.
Nói vừa dứt lời,cả bốn vị lại hóa thành bốn con rồng bay về phía đông.Nhà vua nhổm dậy,không rõ mình mơ hay tỉnh,liền cho gọi Đại tướng quân Nguyễn Bặc đến triều kiến,nói lại chuyện vừa xảy ra, rồi phái ông dẫn mười vạn tinh binh gấp rút tiến lên Kinh Bắc.
Nguyễn Bặc rất vui mừng gặp được bốn anh em họ Lý,họ Đặng như nhà vua đã kể,liền dẫn cả bốn anh em về Hoa Lư yết liến vua Đinh.Vừa thoạt nhìn thấy bốn anh em giống hệt diện mạo bốn người đức vua đã gặp hôm tựa án thiu thiu.Vạn Thắng Vương vô cùng mừng rỡ.Vua cho hỏi về phép dùng binh,trị nước, lại cho thi đấu võ nghệ,cung kiếm,cả bốn anh em đều tỏ ra xuất sắc.Nhà vua giao cả bốn anh em cho Đại tướng quân Nguyễn Bặc dùng làm tỳ tướng:Lý Đài làm Thái Bảo tiền quân,Lý Trâu làm Thái Tể trung quân,Lý Quốc làm Thái Bộc hậu quân,Mộ Nương làm Chinh Quân tiếp vận.Bốn anh em tận tâm,dốc sức phò tá,trở thành dũng tướng của Nguyễn Bặc,lập nhiều chiến công lừng lẫy.
Sau khi loạn 12 sứ quân được dẹp yên,vua Đinh lên ngôi Hoàng đế trị vì trăm họ.Nhà vua cho mở hội khải hoàn và làm lễ hợp duyên cho tướng Lý Đài với Mộ Nương tại kinh thành Hoa Lư.
Mười một năm sau, vua Đinh bị Đỗ Thích sát hại.Lê Hoàn là Phó vương Nhiếp chính đang mưu toan chiếm ngôi ấu chúa Đinh Toàn.Anh em tướng quân họ Lý tìm đến các bậc đại thần khia quốc nhà Đinh là Đinh Điền,Nguyễn Bặc,Phạm hạp để tính mưu hợp quân nổi dậy đánh Lê Hoàn.
Lúc bấy giờ,mưu sự đã tính. Đinh Điền và Nguyễn Bặc kéo đại binh thủy bộ từ Ái Châu (Thanh Hóa) ra bao vây kinh đô Hoa Lư.Tướng Phạm Hạp và các tướng anh em họ Lý hợp dân binh từ Kinh Bắc kéo xuống,hợp binh cùng tiến đánh kinh đô Hoa Lư.Qua Nhiều ngày với nhiều trận giao chiến ác liệt ở ngoại vi kinh thành Hoa Lư,thế lực của Lê Hoàn rất mạnh,các trung thần nhà Đinh không sao địch nổi,bị đẩy ngày càng xa Hoa Lư.Trong một trận kịch chiến,Ngoại Giáp Đinh Điền bị chém chết tại trận. Định Quốc Công Nguyễn Bặc và tướng Phạm Hạp chạy đến sông Nhị Hà thì bị bắt, đóng cũi đưa về kinh đô Hoa Lư hành tội.Ba anh em tướng quân họ Lý mở đường máu, giáp trụ tả tơi,về đến Lộng Đình,quân không còn một người.Ba ông cùng Mộ Nương chạy vào ngôi chùa Lộng Đình,xưa kia cha mẹ đã cầu tự để lẫn tránh. Lúc ấy đêm đã khuya lắm rồi.Bốn anh em mệt quá ngủ thiếp đi thì bỗng thấy có một Thiên sứ mặc áo gấm tía, đội mũ ngọc long lánh như sao than khóc rằng:
Thương thay ba vị tướng quân,
Sống làm tướng,thác làm thần muôn sau.
Trời soi quốc sĩ công lao,
Gương trung chói lọi ai nào sánh ngang?
Tiếng khóc than vừa dứt thì nghe tiếng vó ngựa rầm rập,tiếng người hô hoán ầm ỷ bên ngoài chùa,anh em ông vùng dậy ngó ra thì thấy quân Lê Hoàn đang âm thầm kéo đến vây phá chùa.Ba ông cùng Mộ Nương chạy tắt sau chùa,ra đến bờ sông thì cùng đường,quân giặc đuổi gấp đến nơi.Bốn anh em quyết không để rơi vào tay quân phản nghịch,bèn ôm nhau nhảy xuống sông tự vẫn.Xác bốn anh em tướng quân được vớt lên,dung nhan cả bốn vị vẫn hồng hào,tươi tắn,mắt vẫn mở trừng trừng vẻ căm giận như lúc còn sống.Lê Hoàn nhìn dung nhan bốn vị, rú lên rồi lăn ra bất tỉnh nhân sự hồi lâu.Lê Hoàn cho án táng bốn vị và cho dân chúng lập đền thờ ngay tại trang Lộng Đình.
Khi Hoàng Thiếu Đế Đinh Toàn bị Lê Đại Hành giáng truất xuống làm Vệ Vương qua miếu thờ bốn vị.Vào thắp hương xong,lại than khóc rằng:
-Sao trời lại nỡ phụ llòng người trung nghĩa đến thế?Nay trung thần trong thiên hạ ngó chẳng còn ai!
Đinh Toàn chưa lau khô nước mắt,bỗng thấy xung quanh tối tăm mờ mịt,gió nổi ào ào,văng vẳng trong miếu điện có tiếng khóc tấm tức hồi lâu mới dứt.
Đền thờ bốn vị linh thiêng lắm.Các triều Lý,Trần,Lê sau này có đại quốc gia,cho quan về cầu đảo đều thấy linh ứng,nên Đế Vương các đời cho ghi các thần vào tự điển,lại gia phong duệ hiệu:Tướng công thứ nhất là Đệ Nhất Trâu quốc Oai Linh Phù Quốc Lai Tế An Dân Hoằng Tính Huệ Tinh Cương Nghi Đại Vương.Tướng quân thứ hai là Đệ Nhị Trâu Quốc Hộ Quốc Cứu Dân Gia Tĩnh Hoằng Mô Cảm Ứng Oai Linh Đại Vương.Tướng quân thứ ba là Đệ Tam Trâu Quốc Linh Ứng Hiển Hựu Quảng bác Diệu Thông Cảm Hóa Dũng Lược Đại Vương.Mộ Nương là Mộ Chúa Phu Nhân Phương Dung Trinh Thục Từ Hòa Thái Phu Nhân Công Chúa.
Đến nay, đền thờ bốn vị vẫn còn,thuộc huyện Văn Lâm,tỉnh Hưng Yên.
(Truyền thuyết Đinh Lê-Trương Đình Bảng NXB Văn hoá-Dân Tộc,2003).

113.TRẦN ĐÔ ÚY ĐẠI TƯỚNG QUÂN

Tương truyền, ở huyện Lương Giang, Ái Châu (Thanh Hóa),dưới thới Ngô Vương trị vì, có ông Trần Đồng là lương y,vợ là Phạm Thị Hương.Hai ông bà ăn ở với nhau rất hoà thuận,ngoài tuổi bốn mươi vẫn chưa có con.Ông bà sắm lễ vật vào chùa Cao Đài gần làng để cầu tự. Ít lâu sau,bà có thai,ngày tròn tháng đủ,mồng bảy tháng Giêng năm Nhâm Dần,sinh ra một cậu con trai mặt vuông,tai lớn,mắt phượng,mày thanh,trông thật là khôi ngô,tuấn tú. Ông bà đặt tên con là Trần Công Mẫn.
Lớn lên,Trần Công Mẫn chỉ ăn cơm chay,không bao giờ ăn cá thịt.Ai cũng bảo đúng là con cái nhà Phật.Chàng Mẫn sớm hay đọc sách binh thư,ham tập luyện võ nghệ,cung kiếm.Năm chàng 20 tuổi thì cha mẹ không may qua đời cả.Gia đình Mẫn lúc này, vì lo tang chay cho cha mẹ một lúc,nên gia tài khánh kiệt.Trong nước,lúc này Hậu Ngô suy yếu,thổ hào các nơi nổi lên cát sứ,tự trị từng vùng,sử sách gọi là Loạn Thập nhị Sứ quân,tranh giành nhau không ai chịu ai cả,làm cho nhân dân vô cùng điêu đứng,lầm than.
Trần Công Mẫn muốn cứu dân,giúp nước,nhưng ngặt một nỗi,chỉ có một mình,chưa tìm được ai để nương tựa.Nghe nói ở Bố Hải Khẩu (Thái Bình)có đức Trần Minh Công dung nạp hiền tài,lòng nhân độ lượng,Trần Công Mẫn lên đường những mong tìm được minh chủ để thờ.Trên đường đi,hôm ấy đến làng Thái Duyến thì trời vừa tối.Nhìn phía trước, thấy một trang trại cũng là người họ Trần,tuổi đã ngoài bảy mươi,vốn người nhân hậu,nề nếp gia phong,có một người con gái tên là Trần Thị Xuyến,tuổi vừa đôi mươi, nhan sắc chim sa cá lặn, chăm chỉ quay tơ dệt lụa. Đã có biết bao chàng trai đến ướm hỏi,nhưng chẳng ai lọt được vào cặp mắt xanh của nàng.Cha mẹ thúc giục,nàng chỉ cười thưa:
-Con còn chờ trang hảo hán!
Đêm hôm chàng Mẫn ngủ trọ ở trang trại của lão Trần,vợ chồng lão và con gái đều mộng thấy con sông chảy qua làng có tiếng vang động như tiếng hò reo của đoàn quân thắng trận.Một chiếc thuyền rồng đậu lại bến sông,có con cá hóa rồng từ trong thuyền ấy bay vào giữa nhà ông,hào quang ánh lên chói lọi,rực rỡ,hương thơm ngào ngạt.Trần lão giật mình tỉnh dậy,trong dạ bàng hoàng,không rõ mơ hay thực,chỉ nhìn thấy đúng là có hào quang và hương thơm phát ra từ giường chàng tuổi trẻ đang ngủ trọ.Lão khêu đèn to lên,nhẹ nhàng đến bên giường người khách đang ngủ.Lúc này lão mới nhìn rõ đây là một trang tuấn tú,thần sắc như ngọc,mày cao,mũi lớn,miệng rộng,mặt vuông.Lão nghĩ bụng: “Đúng là một trang hảo hán,có phải thiên duyên con mình chờ đợi đây chăng?”
Sáng sớm hôm sau,khách từ biệt chủ để đi tiếp.Trần lão lưu khách lại đãi cơm rồi cho con gái ra tiếp nước,sửa sang giúp hành trang cho chàng.Trai quốc sắc,nữ thiên hương,càng nhìn vẻ mặt càng nồng uyên ương.Vợ chồng Trần lão mừng lắm cho đôi trai tài,gái sắc kết duyên.
Chàng Mẫn lưu lại ít ngày rồi từ biệt trang trại nhạc phụ và người vợ trẻ để lên đường theo chí hướng.Khi đến Bồ Hải Khẩu,chàng mới biết tin Trần Minh Công, thống soái quân ở đây đã giao toàn bộ binh quyền cho Đinh Bộ Lĩnh kéo quân về động Hoa Lư xây thành, đắp lũy,hùng cứ một phương.Chẳng ngại đường xa dặm thẳng,chàng Mẫn cầm phong thư của Trần Minh Công,một người,một ngựa xăm xăm tìm lối về động Hoa Lư.Qua ba vọng gác nghiêm mật,vào đến khu núi non cao chất ngất,rừng rậm bọc bốn bề, gọi là động Hoa Lư,chàng vào triều kiến Vạn Thắng Vương (Vua Đinh).Vua tôi chưa gặp nhau bao giờ mà vui vẻ,hồ hởi như tình xưa nghĩa cũ.Vạn Thắng Vương xem xong bức thư của Trần Minh Công gửi tới, liền phong cho Trần Công Mẫn làm Tướng tiên phong của đạo quân do Tướng Trần Ứng Long trực tiếp chỉ huy,chuẩn bị xuất quân đánh sứ quân Đỗ Cảnh Thạc ở Đỗ Động Giang (Thanh Oai,Hà Tây).
Thành Đỗ Động rất kiên cố,có dòng Động Giang bao quanh,lại nằm giữa vùng đầm lầy mênh mông,lau sậy ngút ngàn,hoang vu,bên ngoài khó có thể vào đánh được.Hai Tướng quân họ Trần đã hạ được những đồn án ngữ bên ngoài thành Đỗ Động. Đỗ Cảnh Thạc là một mãnh tướng của nhà Ngô,tài thao lược nổi tiếng lúc bấy giờ.Khi mà Hậu Ngô mất, ông kéo quân về lập thành lũy ở đây,thế nghiêng thiên hạ. Đại quân Hoa Lư do hai dũng tướng họ Trần kéo đến đây đánh rất riết. Đỗ Cảnh Thạc rút vào thành nội để cố thủ.Hai tường họ Trần xiết chặt vòng vây,cắt đứt mọi đường tiếp viện vào thành.Thành Đỗ Động hoàn toàn bị cô lập. Đỗ sứ quân tính kế,dùng thuyền chiến vượt sông,mở một đường máu.Sau đó cho phá hết thuyền,chạy vào đóng quân ở bãi đất cao giữa đầm lầy,dựa vào địa hình hiễm trở để nuôi dưỡng,củng cố lực lượng,chớp thời cơ phản công,tiêu diệt đối phương. Đạo quân của hai tướng Trần sau khi chiếm được thành Đỗ Động, để một ít quân giữ thành,dồn binh lực gấp rút đuổi đánh Đỗ sứ quân.Khi vượt qua một rừng tre nứa, đạo quân của Trần tướng công gặp một con sông lớn chắn ngang,không một bóng người,không một con đò.Phía bên kia bờ sông là đầm lấy,lau sậy ngút ngàn,cờ xí của Đỗ sứ quân đang phấp phới bay trên những gò đất cao.Muốn sang đánh sứ quân họ Đỗ thì phải qua được sông này.Nhưng sông lớn,nước sâu,chảy xiết,không một cây cầu,một con đò thì lấy gì để qua sông được?
Hai tướng công họ Trần đang loay hoay tìm kế sách đánh gấp Đỗ sứ quân,nhưng chưa nghĩ ra kế gì.Giữa lúc đó có sắc chỉ của Vạn Thắng Vương ban tới: “Phải chế thuyền nhỏ,vượt sông đánh gấp mới giành thắng lợi”. Tướng Trần Ứng Long hạ lệnh cắm trại,giao cho đạo quân của Trần Công Mẫn quay lại rừng chặt tre nứa,gấp rút đan thành những chiếc thuyền thúng nhỏ,hình bầu dục,thêm hai cái thang chéo giữ cạo cho chắc chắn,và làm chỗ ngồi để bơi thuyền,lại lấy lá cây rừng,giã với đất sét,trộn lẫn nhựa sắn thuyền thật mịn,trát hai mặt thuyền cho nước khỏi ngấm vào.Hàng trăm con thuyền đã được tạo ra chỉ mong mấy ngày đêm.Có thuyền,quân sĩ nhất tề vượt sông.Khi lâm trận cứ hai người khênh một thuyền để làm lá chắn cho những người phía sau tiến lên.Người khỏe thì mỗi người một thuyền làm khiêng đỡ tên, đỡ giáo rất lợi hại.Gặp những khúc lầy lội,họ lại thả thuyền chiến,cho người đun đẩy phía sau, ào ào lướt tới như bơi trên sông nước.Người ta nói, cách đánh thuyền kiểu này là do vua Đinh hướng dẫn cho,lấy kinh nghiệm từ cái thời cờ lau tập trận,”thuyền tre đè thuyền thúng”, thuở sinh thời nhà vua đã làm để đánh đội quân của nữ tướng họ Dương trên sông Hoàng Long xưa.
Đỗ Cảnh Thạc từ các gò đất cao,giàn quân dùng cung nỏ và cần bắn gạch đá để đánh chặn nghĩa quân.Nhưng nhờ những chiếc thuyền chiến độc đáo và lợi hại ấy, quân Hoa Lư xông lên như vũ bão.Quân sĩ Đổ sứ quân sợ hãi,tan rã. Đỗ Mẫn chém đầu ngay tại trận.
Hai tướng họ Trần thu quân thắng lợi, ca khúc khải hoàn,kéo về động Hoa Lư để báo tiệp với Vạn Thắng Vương.
Trên đường về Hoa Lư,các tướng họ Trần cho quân cắm trại, nghỉ lại ở Bảo Ngũ,Thái Duyến.Dân chúng địa phương nô nức thổi cơm,dâng phẩm vật khao quân.Nghĩa quân thao diễn bơi thuyền thúng nan đuổi giặc trên dòng sông Thái ở đây cho dân chúng xem.Tiếng hò reo của quân,dân vang dậy cả một vùng.
Sau khi dẹp tan loạn mười hai sứ quân,non sông thống nhất.Vạn Thắng Vương đăng quang Hoàng đế.Nhà vua phong thưởng cho ba quân tướng sĩ.Trần Công Mẫn được phong chức Đô Úy Đại tướng quân,cấp cho thực ấp ở trang Thái Duyến, Đến ngày 12 tháng 2 năm Kỷ Mão, Đô Úy Đại tướng quân Trần Công Mẫn bỗng nhiên không bệnh mà mất tại thực ấp Thái Duyến,Vua Đinh sắc ban ông là Nam Đô Thành Hoàng,lại ban thêm tiền bạc để nhân dân Thái Duyến lập miếu phụng thờ.Hội làng hàng năm được mở vào ngày tướng quân mất,bao giờ bảy giáp của trang Thái Duyến cũng thi bơi thuyền diễn lại tích thuyền thúng đuổi giặc của 2 tướng quân họ Trần.Rồi nơi đây trù phú,dân cư mở chợ đông vui, để tưởng nhớ 2 tướng quân họ Trần,họ mới đặt tên chợ là chợ Trần,lâu ngày gọi chệch thành chợ Giần (nay thuộc Vụ Bản,Nam Định).
(Truyền thuyết Đinh Lê-Trương Đình Tưởng NXB.VH-DT,2003)

114. BA TƯỚNG QUÂN MANG LỐT RỒNG

Tương truyền, ở trang Phúc sai,huyện Ninh Sơn,phủ Quốc Oai (Sơn Tây),có ông Nguyễn Quang,vợ là người cùng ấp,tên là Trần Thị Nguyệt,gia tư vốn là người hào phú trong vùng.Tổ tiên Nguyễn Quang là người đất Thái Bình,quân Long Hưng (Trung Quốc),vì lánh nạn giặc Tùy-Đường nên di cư sang An Nam sinh sống.Gia tộc,tổ tiên họ Nguyễn đều theo đạo Phật, đạo Lão, đến đời Nguyễn Quang chỉ chuyên chú làm nghề thầy thuốc.
Thời loạn 12 sứ quân,vợ chồng Nguyễn Quang lánh nạn,chạy về trang Ngô Tô,xã Đào Xá,châu Xích Đằng,phủ Khoái Châu (nay thuộc tỉnh Hưng Yên). Ông bà đã cao tuổi mà chưa có con,bèn vào chùa cầu tự rồi ngủ nhờ luôn tại chùa để hôm sau về sớm.Canh ba đêm ấy, ông thấy đức Phật ngự trên tòa sen,hai bên có tới hơn hai chục vị Thiên quan đứng hầu.Trên điện, đức Phật truyền:
-Long Thần đâu, dẫn ba Thiên thần xuống đây!
Một lát sau Long Thần dẫn đến ba vị thần mặc võ phục,đội mũ giáp trụ có đính các ngôi sao lấp lánh. Đức Phật phán truyền:
-Nay Thiên đình sai ba ông Sùng Tín quan, Đông Chinh quan và Tây Chinh quan, đội lốt rồng giáng trần, đầu thai làm con họ Nguyễn,sau làm tướng thần nhà Đinh.
Vị Long Thần quỳ xuống hỏi rằng:
-Họ Nguyễn có ân đức gì mà được hưởng phúc lớn như vậy?
Đức Phật phán bảo:
-Nguyễn Quang là người sùng tín Phật,lại là lương y cứu nhân độ thế,không màng tiền bạc,công danh.Thật là một nhà phúc hậu có dư.Thiên đình đã định,chớ có nói khác!
Nguyễn Quang chợt tỉnh chiêm bao, kể lại đầu đuôi giấc mơ với vợ.Bà Nguyệt cũng chiêm báo thấy con rồng vàng từ trời bay xuống,chui vào miệng bà,bà liền nuốt xuống.Sau đó thấy tâm thần chuyển động,rồi bà có thai. Đến ngày mồng Chín tháng Giêng năm Bính Dần,trong buồng bà bỗng có mùi thơm ngào ngạt,rực rỡ hào quang,bà sinh ra một bọc có ba con trai đĩnh ngộ,mặt to, miệng rộng,dung nhan đẹp đẽ lạ thường. Ông Quang đặt tên cho cậu cả là Sùng, cậu thứ hai là Quách,cậu thứ ba là Thiệu.Lên năm tuổi,các cậu được theo học Lý Đường tiên sinh,một ông thầy tài danh nổi tiếng lúc bấy giờ.Ba ông học hành chăm chỉ,thông minh sáng láng, luận bàn cách gia chư tử.Tôn Ngô binh pháp làu thông.Bốn phương anh hùng hảo hán nghe danh ba anh em họ Nguyễn đều kéo nhau về hội kiến,nhiều người kết nghĩa đệ huynh.Năm các ông mười tám tuổi,cha mẹ chẳng may đều mất cả.Nhờ một thầy địa lý,ba anh em ông án táng cha mẹ vào gò đất quý bên cạnh chùa.Phía trước gò đất có dòng sông uốn khúc chầu về, đằng sau có những gò đất lớn hình vơi chầu,ngựa phục.Ba anh em dựng một chiếc quán bán rượu bên chùa để làm điểm chiêu mộ,giao du hào kiệt bốn phương,nuôi chí cứu đời,giúp nước thoát cơn loạn lạc,binh đao.
Mấy năm sau, nghe tin ở Hoa Lư có Đinh Bộ Lĩnh chiêu binh mãi mã, thu phục anh tài để dẹp loạn sứ quân,ba ông hội đủ số anh em,bạn hữu đã giao kết bấy lau nay lại, được ngót năm trăm người, chia nhau thành các đội,tập luyện võ nghệ,kiếm cung,chờ thời cơ ra mắt vua Đinh,tòng chinh giết giặc. Để giấu lực lượng,ba ông cho quân về tập luyện ở các trang Phượng Lâu,An Tảo,An Xá,Vĩnh Đồng,Dưỡng Phúc,Liễm Cốc,Tạ Xá, Đào Xá thuộc châu huyện nhà.Lại cho phép các đội tuyển thêm tráng đinh ở các trang lân cận để bổ sung lực lượng.
Hôm ấy, Đại tướng quân Nguyễn Bặc theo sắc chỉ của Vạn Thắng Vương kéo đại binh tiến qua Ngô Tô đi dẹp loạn.Ba anh em đã được Thần nhân báo mộng trước nên tập hợp toàn bộ binh mã của mình về Ngô Tô để chờ thời đón Đại tướng Nguyễn Bặc tới ra mắt.Nguyễn Bặc nhác trông ba anh em họ Nguyễn tướng mạo phi phàm,lại có cả đoàn quân hàng ngàn người vũ khí,trang phục chỉnh tề,cả mừng nói:
-May được tao ngộ với ba tráng sĩ, quả là trời sai đấng anh tài giúp nước,sự nghiệp thống nhất giang sơn của nhà Đinh nhất định thành công.Ta cũng họ nguyễn,nếu ba tráng sĩ bằng lòng,sẽ kết nghĩa anh em,coi nhau như ruột thịt,có phúc cùng hưởng,gặp hoạ cùng chia.
Ba anh em họ Nguyễn nghe nói vậy vô cùng mừng rỡ,cùng Nguyễn Bặc làm lễ ăn thề,kết nghĩa anh em,rồi kéo quân về động Hoa Lư yết kiến Vạn Thắng Vương.
Trước đó ít hôm,Vạn Thắng Vương đang ngồi trong màn trước định liệu kế sách dẹp,bỗng thấy ba con rồng vàng từ trên trời bay xuống,hóa ra ba vị tướng quân,vận đồ võ phục,kiếm cung, đến trước trướng quân vua Đinh làm lễ.Vạn Thắng Vương hỏi:
-Quý danh ba tướng công là gì?Từ đâu đến vậy?
Các ông tâu rằng:
-Bọn hạ thần vâng mệnh Thượng đế, xuống phò tá Thánh Vương để cứu dân thoát cảnh lầm than, đưa nước Nam cõi bờ riêng tự chủ, xin chờ lệnh.
Nói vừa dứt lời, ba tướng quân lại hóa thành ba con rồng bay lên chòm mây tía.
Khi Nguyễn Bặc dẫn ba tướng công họ Nguyễn ở Ngô Tô vào bệ kiến,vua Đinh thoáng nhìn thấy diện mạo ba ông như ba vị tướng thần đã gặp hôm trước,lấy làm mừng lắm. Đại tướng Nguyễn tấu trình về tài năng thao lược của ba tướng quân rất tường tận.Vua Đinh hỏi về quyền mưu ứng biến,binh pháp Tôn-Ngô thì cả ba vị đối đáp làu làu,tỏ rõ tài kinh bang tế thế.Vua Đinh sắc chỉ phong anh cả làm Đồng Bình Chương Sự, ông thứ làm Thống Lĩnh Trung Quân, ông út làm Tham Tấn quân Cơ binh mã.
Vạn Thắng Vương cho nổi trống hội triều các tướng thần, chia binh các đạo từ động núi Hoa Lư,các cánh quân gồm bộ binh,kỵ binh,tượng binh,thủy binh,nhất loạt xuất phát,khí thế như vũ bão.Các sứ quân lần lượt bị đánh tan hoặc tự cởi giáp dâng thành,không tài nào chống cự nổi.Chín châu ca khúc khải hoàn.Vạn Thắng Vương được ba quân tôn lên là Hoàng Đế Đại Thắng Minh .Nhà vua phong thưởng bách quan văn võ. Ông Nguyễn Sùng được phong làm Thượng Ấn nội điện, ông Nguyễn Quách làm Đông Chinh trấn ngự Thiên môn, ông Nguyễn Thiệu làm Tây Chinh trấn ngự Đại vương.
Một hôm,ba ông trở về thăm quê cũ Ngô Tô,cho bày tiệc vui tại chùa xưa, dân chúng dâng rượu trà, mở hội ca xướng vang lừng.Ba anh em ông có chất men hồng, hứng khởi bèn cao giọng tiếp nối ngâm rằng:
Nước Nam muôn thuở Thái Bình
Nhờ ơn Thánh Đế vua Đinh đời đời
Phật sai ta xuống giúp Người
Khải hoàn ca khúc về trời từ đây.
Tiếng ngâm vừa dứt thì trên không trung bỗng nhiên nổ một tiếng sét vang động trời đất,sông cuốn nước lên ầm ầm.Ngay lúc đó xuất hiện một vị Thiên thần, cao mười trượng đứng trên mây hình con phượng hoàng nói rằng:
-Ta là Thiên sứ, vâng mệnh Thượng đế xuống triệu ba ngài Mãnh Thiên Tướng về cửa khuyết.Ba ngài hạn số ở trần gian đã hết,việc giúp nhà Đinh đại định thiên hạ đã hoàn thành.
Nói xong, Thiên sứ biến mất.Ba ngài bỗng hóa thành ba con rồng vàng bay lên trời,một lát sau không ai còn trông thấy gì nữa.Chỗ ba ngài vừa ngồi còn lại ba bộ áo mũ, ấn kiếm vua ban.
Hôm ấy là ngày mồng chín tháng tám năm Giáp Tuất (947).Nhân dân mang áo mũ của ba ngài ra đồng mai táng,chỗ ấy sau này gọi là gò Cấm Địa,mang ấn kiếm về lập miếu để thờ.Miếu thờ các ngài được lập ở trang Ngô Tô,xã Đào Xá trên kiểu đất “quy hình ẩm thủy” (hình rùa uống nước).
Vua Đinh tưởng nhớ công lao ba vị công thần họ Nguyễn,bèn truy phong duệ hiệu,ban thêm phẩm phục,mũ giầy,hốt vàng,sai quan đem sắc về Ngô Tô đại Tế.Duệ hiệu ngài thứ nhất là Đôn Thiện Sùng Tín Đại Vương sau lại gia phong Cảm Huệ Phu Hựu Đại Vương.Duệ hiệu của ngài thứ hai là Đông Chinh Thiên Môn Đại Vương,gia phong Tế Thế Đại Vương,Duệ hiệu của ngài thứ ba là Tây Chinh Địa Phủ Hiển Ứng Đại Vương.Nhà vua sắc chỉ cho trang Ngô Tô, tổng Tạ Xá, châu Xích Đằng phụng sự,các địa phương ba ngài đónh hành doanh hoặc đánh giặc ở Hải Dương,Kinh Bắc đều được lập miếu phụng thờ.
(Truyền thuyết Đinh Lê-Trương Đình Tưởng NXB.VH-DT,2003)

115.CHA LỖ ĐÓ MẸ LÁ CHÙA

Tương truyền,vào thời vua Ngô trị vì (tức vua Ngô Quyền 938-944) ở vùng Trường Châu (Ninh Bình),có hai vợ chồng người nông dân rất nghèo.Chồng là Lê Mịch,vợ là Đặng Thị.Hai vợ chồng ăn ở với nhau đã lâu mà vẫn chưa có một mụn con.Vợ chồng ông nghèolắm.Nghèo đến nỗi không có tấc đất cắm dùi,không có lấy một túp lều tranh để ở,mà phải tá túc trong một ngôi chùa tổng.Hàng ngày,người chồng thường đi đơm đó cá, đó tép ở sông, ở đồng.Còn người vợ thì chuyên quét dọn lá đa,lá đề,lao dịch cho nhà chùa để kiếm sống.Dân làng thường gọi là ông bà là “Ông lỗ đó, bà lá chùa”.
Một hôm, bà Đặng Thị ra tắm ở hồ sen bên chùa,thấy giữa hồ có một nụ sen lớn, đang chum chím nở,vươn cao, sắc hồng thắm rực rỡ,thơm ngát hơn các đóa sen khác.Bà liền hái nụ den đó ngửi,rồi mang về đặt ở đầu giường cho thơm.Bà nằm mơ thấy đóa sen trong bụng mình kết thành hạt,bà ăn rồi lại chia cho mọi người cùng ăn.Cũng trong đêm ấy,bà thấy đức Phật Quan Âm Bồ-tát hiện lên nói:
-Vợ chồng con hiền lành, nhân đức,nên cảm hóa được cõi Phật.Ta ban cho đóa sen Thiên Tử,vợ chồng con sẽ được toại nguyện.
Vợ chồng bà sụp lạy đức Phật, đang định hỏi thêm thì phật biến mất.Bà bừng tỉnh dậy,quờ tay lên đầu giường để tìm đoá sen thì không thấy đâu nữa.Bà đặt tay lên bụng mình, thấy khắp người rạo rực,bâng khuâng,lại lâng lâng,bồng bềnh như bay trên chín tầng mây.Bà đánh thức chồng dậy,thuật lại giấc chiêm bao kỳ lạ đó.Vợ chồng ông định thần lại, nhìn ra bốn phía không thấy gì.Duy chỉ có mùi hương trầm,lẫn hương sen là cứ quyện thơm ngào ngạt.Tiếng chuông chùa vừa điểm canh tư.
Ngày qua ngày,bà Đặng Thị thấy trong người khang khác,lạ thường.Rồi bà có thai.Hai ông bà mừng lắm.Nhưng chẳng may cho ông,một hôm đi đơm đó, bị cảm nặng rồi qua đời.Thấy bà Đặng Thị có thai, nhà chùa không cho cư trú nữa.Một số kẻ xấu bụng đồn đại bà hoang thai, vì thế bà xấu hổ,bỏ làng vào rừng,khum tạm một túp lều bằng cây lá rừng để trú cho qua ngày.Có lần nghĩ cực thân quá, bà ngảy xuống suối tự tử.Nhưng lạ thay,bà có biết bơi đâu mà cứ nổi,nước suối lại rẽ ra, rồi như có bàn tay vô hình nâng bà lên bờ,quần áo vẫn khô nguyên.
Một hôm,có hai vợ chồng người tiều phu nghèo vào rừng đốn củi.Khi đến gần túp lều của bà,họ nghe thấy có tiếng trẻ khóc khản cổ.Họ vào lều thì thấy bà Đặng Thị đã chết,mối đang đùn lên thành đụn.Cậu bé đang nằm bên cạnh đống mối,hai bên có hai con hổ đang phủ phục,canh chừng.Vợ chồng người tiều phu thấy vậy,sợ hãi quá,vội chạy về gọi dân làng và báo cho nhà chùa biết.Hòa thượng Trụ trì ở chùa ra đọc kinh sám hối và kinh cầu diêu cho linh hồn bà Đặng Thị, Hai con hổ gầm lên hai tiếng rồi biến mất.Nhà chùa đón đứa trẻ về nuôi.Cậu bé khôi ngô,tuấn tú,mắt sáng,mày sắc,tướng mạo khác thường,mũi cao,miệng rộng,môi dày, chúm chím như đóa sen mới nở,dung nhan tươi tắn như tượng mới tô.Hòa thượng đặt tên cho cậu là Hoàn,tức là “trở lại”với nhà chùa và cho theo họ cha là họ Lê.
Lê Hoàn còn bé, ra chơi với lũ trẻ trong làng,luôn luôn bị chúng chế giễu là “Cha lỗ đó, mẹ lá chùa”,nên cậu rất bực,thường đánh nhau với chúng, đứa nào cũng chịu thua.Sống ở chùa,Lê Hoàn chịu khó nghe Hoà thượng giảng dạy chữ nghĩa,kinh bổn.Chăm học và rất sáng dạ,quyển kinh dày hàng trăm trang,cậu chỉ đọc vài ba lần là thuộc làu.Cậu lại rất thích đọc tứ thư,ngũ kinh,binh thư, binh pháp.Thấy vậy, vị Hoà thượng nói với mọi người:
-Thằng bé này lớn lên ắt không phải là người thường, sẽ là bậc kỳ tài, hiếm có người sánh kịp.
Ít lâu sau, Hòa thượng mất, những người trong chùa nói:
-Cậu đã lớn,lại hay nghịch ngợm, đánh nhau với trẻ,làm mất vẻ u tịch của nhà chùa,hãy tìm nơi khác để ở.
Lê Hoàn bỏ chùa, đến xin làm người ở cho nhà Lê Quan Sát ở Ái Châu.Thấy cậu bé khôi ngô,vóc dáng khỏe mạnh,bước đi hùng dũng,nói năng , ứng đối trôi chảy,Lê Quan Sát nhận Hoàn vào làm người ở chăn ngựa cho mình.
Một hôm.Giữa đêm đông rét mướt,viên quan họ lê dậy kiểm tra dinh phủ,bỗng thấy có một quần sáng lạ phát ra dưới chuồng ngựa.Lê Quan Sát khẽ khàng nhón bước đi đến chỗ có vầng hào quang kỳ lạ, đó phát ra để xem thì thấy Lê Hoàn đang nằm ngủ,phủ phục trên mình một con ngựa bạch.Một con rồng vàng,miệng ngậm đóa sen hồng phát ra quầng sáng huyền ảo,lung linh, đang ấp tròn lấy lưng Lê Hoàn.Lê Quan Sát kinh sợ, cho là hài đồng Thiên Tử giáng sinh,bèn sụp lạy,rồi rước Lê Hoàn lên nhà.Thấy Hoàn cũng họ Lê,nên Lê Quan Sát nhận làm con nuôi, đón thầy về dạy văn võ, kinh sự cho Hoàn.
Năm Hoàn mười tám tuổi,nghe tin Đinh Bộ Lĩnh dấy binh ở động Hoa Lư,chiêu hiền đãi sĩ bốn phương,Hoàn xin phép cha nuôi cho mình đi tìm để yết kiến Vạn Thắng Vương.
Thấy Lê Hoàn mắt phượng,miệng rồng,dáng đi như beo, như cọp,binh thư,kinh sử làu thông, Đinh Bộ Lĩnh mừng lắm, bèn gọi tướng Đinh Liễn,là con trai trưởng của mình, đến nói:
-Đây là trang tuấn kiệt,ta giao cho con để làm túy tước tiên phong.Con và chàng trai trẻ sẽ là nanh vuốt của cha.
Đinh Liễn bái biệt cha rồi đưa chàng trai trẻ đó về quân doanh của mình.Từ đó, Lê Hoàn trở thành một dũng tướng dưới quyền Đinh Liễn,theo vua Đinh đi đánh dẹp bốn phương,mỗi khi chỉ ngọn giáo tới nơi đâu là nơi đó quân giặc tan vỡ, quy hàng.
Sau khi dẹp xong loạn sứ quân cát cư,thống nhất sơn hà, dựng nước, định đô, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng Đế, sắp đặt các quan tước trong triều.Lê Hoàn được vua Đinh phong là Thập Đạo Tướng quân,thống lãnh mười đạo binh mã nhà Đinh.Khi vua Đinh bị sát hại,Vệ Vương Toàn,con trai vua Đinh còn nhỏ tuổi,triều thần tôn lập Lê Hoàn lên ngôi Hoàng Đế, gọi là Đại hành Hoàng Đế.Lúc đó lại truyền tụng câu sấm trong dân gian “Lê gia xuất Thánh minh”, nên mọi người đều cho đó là điềm trời giáng sinh Thiên Tử từ trước.
Sau khi Lê Đại Hành mất, nhân dân lập đền thờ ngài, các đồ tế khí, hoành phi và cột đền đều chạm khảm,phù điêu hoa sen để ghi lại tích “giấc mộng liên hoa giáng sinh Thiên Tử”mà bà Đặng Thị đã được Phật báo mộng từ thuở hàn vi ở chùa.
(Truyền thuyết Đinh Lê-Trương Đình Tưởng,NXB Văn hóa-Dân tộc,2003).

116. CHUYỆN QUAN ÂM TÁI THẾ

Ngày xưa, có một ông vua sinh ra liên tiếp hai người con gái đầu lòng.Không có con trai,vua lo lắng không có kẻ nối ngôi,ngày đêm khẩn cầu Trời Phật cho Hoàng hậu sinh ra một hoàng nam.Nhưng đến khi đứa con thứ ba ra đời,cũng vẫn lấy tên thứ ba đặt cho công chúa út,giận cho các đấng thiêng liêng đã không phù trợ giúp mình đạt được ý nguyện,Tuổi thọ đã cao,vua muốn cho công chúa thứ ba lấy chồng, định sẽ truyền ngôi cho vị phò mã.
Trái hẳn với hai chị là Diệu ThanhDiệu Âm,công chúa Ba không đắm mình trong cung vàng điện ngọc mà say mê trong tiếng kệ cầu kinh,rồi hiến thân cho đạo Phật.Nàng nhất quyết không chịu lấy chồng khiến vua và hoàng hậu nổi giận,bắt giam nàng ở riêng tại vườn sau hoàng cung.
Một hôm,vua và hoàng hậu ngự ra ngoài,công chúa Ba chạy đến đón xa giá thăm hỏi.Vua lại phán bảo rằng nàng bỏ ý định tu hành để tính việc trăm năm song nàng vẫn một mực từ chối,và xin phép vua cha xuất gia đầu Phật.Vua giả vờ chiều theo ý con,cho nàng đến tu ở Bạch Tước, đồng thời ra lệnh cho các nhà sư bị mua chuộc phải khuyên nhủ công chúa Ba trở về cung để lấy chồng.Nếu việc không thành thì chùa sẽ bị thiêu cháy và tất cả nhà sư cùng ni cô đều bị chém đầu.
Các nhà sư sợ hãi tìm đủ mọi cách để làm cho công chúa xiêu lòng mà hồi tục ,nhưng đều vô hiệu.Vua hay tin liền nổi cơn thịnh nộ ra lệnh đốt chùa và giết luôn công chúa không tuân lệnh vua cha.Nhưng ngọn lửa vừa ùn ùn nổi lên bao vây cả bốn phía chùa,trời đang tạnh ráo bỗng tuôn mưa xối xả dập tắt ngay.Vua bèn cho bắt công chúa Ba để xử tội nhưng trời lại nổi bão táp dữ dội,sét đánh văng xa lưỡi dao của đao phủ nhắm bổ vào công chúa.Vua vẫn chưa nguôi giận,lại ra lệnh xử giảo nàng.Quân lính đang sửa soạn dây treo cổ nàng lên thì bỗng đâu một con cọp lớn phóng qua hàng rào binh sĩ bao vây cướp mất công chúa Ba,cõng nàng đưa đên chùa Hương Tích.
Chùa Hương Tích ở xã Phù Lưu, thuộc tỉnh Hà Đông,dựng lên vào thời Chính Hòa nhà Lê (1687) do hai bà vợ chúa Trịnh ,là hai chị em bà Đào Thị Cư và Đào Thị Liên cùng nằm mộng thấy Phật Bà Quan Âm rồi xây cất lên. Đời Hồng Đức,vua lê Thánh Tôn cho khắc ngay trên cửa vào Hương TíchNam Thiên Đệ Nhất Động.Giữa chốn Lâm Tuyền này qua Bến Đục Đò Suối,rải rác các ngôi chùa ngoài Thiên Chủ,chùa Giải Oan,chùa Cửu Võng,chùa Tiên,chùa Trong,cùng nhiều hang động thạch nhũ,hang Phật Tích, động Tuyết Quỳnh, đồi Không Lộ của thần Trụ Trời,núi Gà, núi Tượng,núi Trống,núi Chiêng,núi các Cô,núi các Cậu cho các bà không con đến cầu tự,các cửa Võng,cửa Vương,cửa Chấn Song,lối xuống âm phủ, đường lên trời…Tương truyền rằng trong động có một Lẫm Thóc vô tận trời sinh để nuôi các nhà sư tu hànhHương Tích,cùng Khi Tiền,Nhà Tầm Tiền,Chuồng Lợn Tiên,Phòng Sách Tiên, Quần Áo Tiên,ngày nay đã hóa thành đá.
Chùa Hương Tích thờ Phật Quan Âm một ngàn tay,một ngàn mắt (thiên thủ thiên nhãn),cọp cõng công chúa Ba đến đây tu hành. Ác thú dữ trong rừng núi được cảm hóa đến nghe kinh,rồi chia nhau:chim hái trái,nai lấy nước, cọp bổ củi,khỉ vo gạo,rồng thổi lửa nấu cơm…giúp đỡ công chúa trong công việc hàng ngày.
Trong khi ấy ở triều,vua cha bị phát bệnh hủi (phong) ghê gớm.Các vị danh y được mời đến đều bó tay trước bệnh nan y.Da thịt vua sần sùi lở lói,các ngón tay ngón chân dần dần rơi rụng,mất cả hai bàn tay, rồi mù cả hai mắt.Thấy vua cha bị bệnh thê thảm,công chúa Ba liền moi lấy hai mắt trong sáng của mình ra và chặt cả hai tay để tháp chữa cứu cho cha được lành mạnh trở lại.Sau đó công chúa hóa về Niết bàn,rồi sau lại độ cho vua, hoàng hậu và hai chị được thành Phật.
Tục truyền rằng công chúa vốn là Phật Quan Âm đầu tái xuống thế.Sự tích trên đây về sau được giới tu hành truyền tụng thành kinh chữ Nôm cho thiện nam tín nữ nhắc nhở đến trong lúc trẩy hội chùa Hương vào tiết xuân hàng năm,từ mồng mười tháng giếng đến cuối tháng ba.

117. TRUYỆN QUAN ÂM NAM HẢI hay BÀ CHÚA BA

Xưa có Diệu Thiện,một nàng Công chúa xinh đẹp,con gái vua Diệu Trang Vương; nàng có hai người chị: Diệu ThanhDiệu Âm,cả ba kiếp trước đều là con trai họ Thi,một gia đình nhân đức.Hai chị đều lấy chồng,còn Diệu Thiện thì trái lại chỉ muốn tu hành.Vua cha tức giận truyền giam cấm, và mặc dù Hoàng hậu và hai chị hết lời khuyên dỗ,nàng cũng không đổi chí. Diệu Trang Vương lập kế giả vờ bằng lòng cho nàng đi tu tại một ngôi chùa lớn,nhưng lại bí mật ra lệnh cho Hòa thượng bắt công chúa phải sớm khuya làm lụng cực nhọc để cho thoái chí.Nhưng nàng vẫn chịu đựng được;việc giao ngày càng nhiều,bằng việc của hàng chục người;nàng vẫn làm xong (có chim tới nhặt rau,rồng lấy nước hộ…).Không thấy Công chúa nản lòng trở về,Vua nghi Hòa thượng không tuân lệnh mình,bèn sai người đốt chùa.Diệu Thiện tự trách mình là nguyên nhân chính của tai nạn,bèn cắn ngón tay cầu nguyện.Lập tức có rồng xuống phun nước dập tắt ngọn lửa.Vua lại ra lệnh đem Công chúa ra xử trảm,nhưng gươm bị gãy khi chạm cổ. Đột nhiên có một mãnh hổ nhảy vào tha nàng đi trong khi trời tối sầm,sấm ran chớp giật.Lúc này hồn nàng được Thập điện Diêm vương mời xuống thăm.Trông thấy tất cả những cảnh trừng phạt,nàng liền niệm Phật làm cho Diêm vương ra lệnh ân xá tất cả tội nhân.
Khi Diệu Thiện trở về cõi trần thì Phật đã hóa làm một chàng trai tuấn tú để thử thách.Thấy nàng quả vững lòng tu,Phật bèn chỉ cho “Rằng có một chùa tại HươngTích San (sơn); gần bể Nam Việt thanh nhàn; sang tu chốn ấy sẽ toan viên thành”. Sau nhiều năm tu luyện,nàng trở thành Phật bà Quan Âm “một thân hóa được ra nghìn muôn thân” (vì vậy ngày nay ngườita diễn tả thành Phật ngàn tay ngàn mắt).Theo hầu có hai đệ tử:
1.Thiện Tài,một em trai mồ côi.
2.Long Nữ, con gái Long Vương.
đều được cứu vớt và qua nhiều thử thách.
Về sau vua Diệu Trang Vương bị bệnh nan y,yết bảng sẽ trao ngôi báu cho ai chữa lành.Nhưng mọi thứ thuốc đều không công hiệu.Nghe tin này,Diệu Thiện biến thành một thầy thuốc đến giật bảng và cho biết bệnh ấy chỉ có tay và mắt của một Tiên nữ tu tại núi Hương Tích mới khỏi.Vua bèn cho người sang nước Đại Việt cầu xin được một tay và một mắt của Tiên nữ.Bệnh quả lành,nhưng chỉ lành có được nửa thân,Thầy thuốc lại giục xin nốt một tay và một mắt còn lại của Tiên nữ.Khi bệnh lành hẳn,Vua định truyền ngôi cho thầy thuốc như đã hứa,nhưng thầy đã bỏ đi mất.Vua và Hoàng hậu quyết tìm đường sang Hương Tích để tạ ơn Tiên nữ. Đoàn ngự giá đang trên đường sang Nam thì ở Kinh đô Hưng Lâm bỗng xảy ra cuộc biến,ngai vàng suýt vào tay kẻ phản bội nếu không có Diệu Thiện sai hai đệ tử đi cứu.Trong cuộc này,hai người chị Diệu HạnhDiệu Âm bị bắt giam ở ngục và khi được cứu thoát,hai người đuổi theo đoàn ngự giá.Sau bao nhiêu ngày gian khổ,cả đoàn cũng đến được Hương Tích.Khi nhận ra con gái với hai mắt bị móc,hai tay bị chặt,máu còn chưa khô,Hoàng hậu ngã ra bất tỉnh.Diệu Thiện cho biết,nếu bố mẹ nguyện bỏ ác làm thiện thì mình sẽ lành lặn như xưa.Sự việc quả như lời khi Vua và Hoàng hậu phát thệ.Cả nhà ở lại đây tu hành.Diệu Thanh cũng trở thành Văn Thù Bồ-tát,và Diệu Âm trở thành Phổ Hiền Bồ-tát.[1]
Khảo dị
Truyện vừa kể chịu ảnh hưởng từ phật thoại Nam Hải Quan Thế Âm toàn truyện của Trung Quốc.Giữa hai truyện, tên nhân vật không có gì thay đổi.Nước Hưng Lâm ở đây được xác định không phải là đất Trung Quốc mà là một nước phía Tây giáp Thiên Trúc;phía Đông giáp Tam Phật Tề;phía Bắc là Xiêm La; phía Nam là Thiên Chân.Nội dung hai truyện cơ bản là một, chỉ có khác một vài chi tiết.
Hai vợ chồng vua Diệu Trang muộn con, cúng cầu mãi mới sinh được ba nàng Công chúa,sự định nhường ngôi cho một trong ba chàng rể.Nhưng công chúa ba là Diệu Thiện chỉ muốn tu hành với cuộc sống độc thân.Kết quả là nàng phải chịu đựng sự trừng phạt từ thấp đến cao:bị lột áo quần, đánh roi và giam đói.Cũng có việc được đi tu với những công việc lao động nặng nhọc,việc ngôi chùa bị đốt và việc dập tắt đám cháy bằng một trận mưa huyền bí do Công chúa cắm chiếc trâm vào họng và nhổ máu lên trời cầu nguyện Linh Sơn Thế Vương.Cũng có việc xử trảm sau một thời kỳ hết dụ dỗ đến doạ nạt mà không ăn thua.Theo lệnh Ngọc hoàng,Công chúa được bảo vệ đến nỗi đao phủ bất lực,cuối cùng chỉ còn dùng hai tay bóp cổ.Nhưng Thành hoàng đã kịp thời hóa hổ,giải tán đám đông và đưa xác nàng lên núi.Cũng lại có việc hồn Công chúa được sứ giả Diêm la mời xuống để chứng kiến cực hình của con người tội lỗi. Ở đây,những lời cầu nguyện của nàng đã làm cho họ được giải phóng trở về dương thế, đến nỗi cả địa ngục bỗng hóa thành thiên đường và vua Diêm la phải cấp tốc cho đưa nàng về vì nạn thiếu dân.Phật Như Lai đã đón nàng đưa đến không phải là chùa Hương Tích Đại Việt mà là chùa Phổ Đà sau khi vượt qua ba năm hiểm trở.Sau chín năm tu hành, Công chúa đắc đạo và cũng thu được hai đồ đệThiện TàiLong Nữ,sau nhiều cuộc thử thách.
Trời phạt vua Diệu Trang về tội đốt chùa và giết con gái,bắt chịu đựng một bệnh nan y: thịt da mọc đầy mụn lở và bấy nát.Cũng có việc Công chúa biến thành một thầy tu già ra mắt của người thân thì mới có thể lành.Vua sai đại thần đi tìm.Trong lúc đó hai chàng rể của Vua vì tham vọng được làm vua sớm nên định tâm giết thầy tu và đầu độc Vua,biết được ý đồ của chúng.Công chúa đã làm đổ chén thuốc độc và làm bại liệt kẻ ám sát.Kết quả là hai chàng rể tự tử và hai người chị của Công chúa hốihận đi tu.Rồi cũng có hai lần xin tay và mắt,và cuộc hành trình của Vua và Hoàng hậu đến đảo Phổ Đà để cám ơn con gái.Nhìn thấy con không tay không mắt ngồi trên tòa sen,Vua cầu nguyện cho con được “toàn thể toàn thân” và thế là Công chúa lại nguyên vẹn như xưa.Vua và Hoàng hậu cũng ở lại đây tu hành.[2]
Đại khái cả hai truyện nói chung là một mớ hỗn tạp những mẫu Phật thoại,Tiên thoại ghép với nhau thành truyện.Tượng Quan Âm của Trung quốc thường là một người nữ tay cầm bình cam lộ,gần đấy có một con chim mỏ cắn một chuỗi ngọc,dấu hiệu của sự tôn qúy.Hoặc có khi Quan Âm (đứng hoặc ngồi) tay cầm quyển kinh,dưới chân một bên là Long Nữ tay cầm hòn ngọc,và một bên là Thiện Tài hai tay chắp lại hướng lên chủ mình như đang cầu nguyện.[3]

118. SỰ TÍCH PHẬT NAM HẢI QUAN ÂM

Diễn Ca
(1)- Chân như đạo Phật rất mầu
Tâm trung chữ Hiếu,niệm đầu chữ Nhân.
Hiếu là độ được đấng thân,
Nhân là vớt hết trầm luân mọi loài,
(5)- Thần thông nghìn mắt,nghìn tay,
Cũng trong một điểm linh đài hóa ra.
Này trong bể nước Nam ta,
Phổ Mônđức PhậtQuan Âm.
Niệm Ngài thường niệm tại tâm,
(10)- Dẫn xem sự tích ca ngâm cho tường.
Đoạn 1
Vua Trang Vương cầu tự
Đời xưa vua Diệu Trang Vương,
Hưng Lâm nước ấy bốn phương một nhà.
Chinh phi Bảo Đức Bá Nha,
Sáu cung đủ cả ngọc ngà thiếu chi.
(15)- Chỉn[4] lo dưới gối còn trì[5]
Mai sau được kẻ nối vì Đế vương.
Mới cùng Hoàng hậu lo lường,
Rằng sao tử tức muộn màng bấy ru?!
Hay vì giặc giã đâu đâu,
(20)- Mà ta giết nó bấy lâu đã nhiều.
Phép binh như lửa cháy đều,
Há không oan uổng luốn tiêu mệnh người
Chính cung tâu lại mấy lời:
Trong báo ứng đạo trời chi không?
(25)- Có đền Tây Nhạc để cung,
Khẩn sao được nấy như lòng thế gian”.
Dám xin vua lập một đàn,
Cầu thai ta lại giải oan cho người.
Đức vua nghe nói mừng cười,
Sai ngươi Triệu Chấn vâng lời truyền mau.
(30)- Sai ngươi Triệu Chấn vâng lời truyền mau.
Sắm sanh hương quả đèn dầu…
Bao nhiêu lễ khấn lễ cầu đủ no.
Lại sai Đát Nôm,Chi Đô.
Lễ Nghi đem đến đền chùa để cung.
(35)- Truyền cho sư cả Chi Không.
Rằng vâng lệnh ngự một lòng kính thay!
Đàn chay làm bảy đêm ngày,
Việc Ngài cầu tự,việc thầy tụng kinh.
Chí Không vâng mệnh rành rành,
(40)- Năm mươi thầy tớ dập dình trống chuông.
Bàn trong, án ngoại tròn vuông,
Mưa bay nước pháp,hương tuôn khói đàn.
Ngày ấy vua ngự xe loan,
Hành hương tiến lễ trông đàn dâng lên.
(45)- Lên đàn,sư giữa,vua trên,
Một bên Hoàng hậu;một bên cung tần.
Đức vua quỳ xuống khấn rằng:
“Tôi từ trị nước nuôi chưng dân trời.
Cũng may dân được yên vui,
(50)- Mà sao Hoàng tử nối đời chưa sinh?
Hay là trong lúc dùng binh,
Nhiều khi sát phạt oan tình chúng chăng?
Lòng thành lễ bạc kính dâng.
Rày tôi tạ quá[6] xin thần chứng minh.
(55)- Xin đem sớ tấu Thiên đình,
Cho Hoàng tử được giáng sinh tôi nhờ!”
Chúc xong vua phán bây giờ:
“Các sư thành kính phụng thờ cho ta.
May mà sinh Hoàng tử ra,
(60)- Thì trẫm ắt thưởng cho mà hậu[7] thay!
Phán rồi xa giá về ngay,
Gió đưa nghi ngút hương bay trong đền.
Đoạn 2
Bồ tát tiền thân
Miếu thần thấy sớ đốt lên,
Bàn cùng bộ hạ sự duyên gót đầu.
(65)- Vua Trang thành kính kêu cầu,
Lập đàn trai tiếu mong hầu có thai.
Hóa sinh cho đáng kiếp người,
Thử coi thượng giới có ai chăng là.
Mắt thần thiên lý trông xa,
(70)- Rằng bên Thứu Lĩnh có nhà họ Thi.
Ba đời phúc đức đã dày,
Đến ông trưởng giả càng ngày càng nhân.
Chẳng tham phú quý phù vân,
Một niềm hiếu thiện xa gần đều khen.
(75)- Sinh được ba con đều hiền.
Thi Văn,Thi Phả là tên đó là.
Rất hiền là con thứ ba,
Nhân đức thuần hòa,hơn cả hai anh.
Ở hiền sao chẳng gặp lành,
(80)- Nhân vì một sự cháy thành vạ lây.
Vì người Vương Cật bên kia,
Nó ở nơi khác nó thì đứa gian,
Nó thường quấy chốn hà san.
Binh Trời đánh nó rồi tan chẳng dung[8]
(85)- Cùng đường vào lạy Thi ông,
Ông thấy đói khát,chạnh lòng cho ăn.
Ba con đã can ông rằng:
“Nó là trộm cướp cho gần chẳng nên.
Binh trời đã dẹp nó yên,
(90)- Mà ta dung lấy lỡ phiền lụy chăng?”
Vương Cật lúc ấy hung hăng,
Bỏ ra ngoài rừng vào phá nhụ gia[9]
Giết người,lấy của, đốt nhà,
Trăm thây tử khí hơ đà xung thiên[10]
(95)- Ngọc Hoàng phán hỏi sự duyên,
Trách họ Thi ở nhân hiền để đâu?!
Gần nhau mà chẳng cứu nhau,
Để cho trăm mạng âu sầu vì ai?
Truyền bắt Thi thị[11]ba trai,
(100)- Chuyển vào trong động bỏ dài chẳng tha.
Ấy sự con ông Thi gia,
Xin Thần xét lại tâu qua Thiên Đình.
Cho ba người ấy giáng sinh,
Thì Trang Vương cũng được dành đội ân.
(105)- Lúc ấy đức Tây Nhạc Thần,
Mới lên tâu ở trước sân Ngọc Hoàng.
Tâu rằng: “Hạ giới Trang Vương,
Thành tâm sớ điệp[12] lập đàn cầu thai.
Nhà Thi thị có ba trai,
(110)- Vốn dòng tích phúc xưa nay đã nhiều.
Vì chẳng biết được cứu nhau,
Tai bay vạ buộc tình đầu nên thương!
Dám xin xét lại tỏ tường,
Rộng tha lỗi ấy mở đường đầu thai.
(115)- Trước cho Trang Vương dài đời,
Sau cho cứu độ những loài chúng sinh”.
Ngọc Hoàng mới phán phân minh,
Truyền thần vào động lệnh hành tha ra.
Chuyển trai làm gái cả ba,
(120)- Tam hồn,cửu phách đợi mà thác sinh.
Đọan 3
Bồ Tát giáng sinh
Trang Vương vốn ở chẳng lành,
Nhưng có lòng thành ước cũng được nên.
Cơ mầu chuyển động tự nhiên,
Chính cung Hoàng Hậu mới liền thụ thai.
(125)- Lòng vua mừng rỡ hôm mai,
Ơn Thần cảm ứng chẳng sai đâu là!
No ngày[13] kế tử khai hoa,
Được một Công chúa tên là Diệu Thanh.
Lòng vua dường có bất bình
(130)- Rằng: “Sinh con gái thì sinh làm gì!”
Năm sau thai dựng[14] đến kỳ,
Nghĩ được Hoàng tử ắt thì vui thay!
Chẳng ngờ mãn tháng no ngày,
Lại sinh con gái nữa toan rày giết con.
(135)- Triều thần can gián một khi,
Xá cho mới đặt tên là Diệu Âm.
Mưa qua gió lại âm thầm,
Chính cung mừng lại tin nhầm có thai.
Trong cung nức những hương trời,
(140) Hào quang sáng khắp mọi nơi bảo dài.
Lòng vua bao xiết vui vầy,
Kỳ này hẳn khác hai kỳ năm xưa.
Hẳn sinh Hoàng tử chẳng ngờ,
Không sao điềm tốt bây giờ thấy ra!
(145)- Thoi đưa tháng lại ngày qua,
Lại sinh Công chúa mặt hoa dời dời[15].
Đào trên mây,hạnh trên trời,
Cổ cao ba ngấn,miệng cười trăm hoa!
Vẻ thanh,trong ngọc trắng ngà,
(150)- Trăng tròn nét mặt,núi xa dáng mày!
Nắm xem cốt cách thanh kỳ,
Bụi trần chẳng có mảy may chút nào.
Sắc tuy rằng sóng sánh dào,
Nhưng mà đoan chính trông vào nghiêm trang!
(155)- Trẻ thơ mà đã khác thường,
Ai ai cũng kính tiên nương dưới trần!
Lòng vua sao một tần ngần,
Nghe sinh Công chúa mười phần chẳng tươi!
Phán rằng: “Tuổi ngọai năm mươi,
(160)- Chẳng được Hoàng tử lấy ai nổi vì?
Sinh ba con gái làm chi,
Sự bất đắc dĩ rồi thì làm sao?”
Triệu Chấn đặt gối tâu vào:
“Bởi trời định thế người nào có hay.
(165)- Nhưng xem trong sách xưa nay,
Vua Nghiêu nhường vị,Thuấn thay lấy quyển.
Thuấn trao cho Vũ người hiền,
Ấy truyện trong sách có truyền phải không?
Dám xin Thánh đế yên lòng,
(170)- Nuôi ba Công chúa để mong trưởng thành
Kén tài Phò mã anh hùng,
Thay quyền Thái tử nối dòng tổ tiên”.
Nghe thôi,vua giải lòng phiền,
Ban cho thị nữ giữ gìn chúa Ba.
Đoạn 4
Công chúa mộ Phật
(175)- Cõi trần mà có Thường Nga[16]
Khỏi vòng trứng nước,thoắt đà cả khôn.
Em nềm trong chốn Khuê môn,
Lạ thay tình tính,dung ngôn khácngười!
Không trang điểm,chẳng chơi bời,
(180)- Ăn chay,niệm Phật,nói lời từ bi.
Một mình nào có ai hay,
Thân này Trần thế, lòng này Phật Tiên.
Có hôm ra chốn xuân viên[17]
Theo cùng hai chị vui miền thưởng hoa.
(185)- Diệu Thanh Công chúa nói ra:
“Chúng ta đội đức mẹ cha dường này.
Thành nhàn vô sự vui thay!
Kẻ thường ví được thế này cho chăng?”
Diệu Âm Công chúa nói rằng:
(190)- “Một mai khôn lớn định chưng vợ chồng.
Bấy giờ cách trở tây đông,
Dễ ta hầu được ở cùng nhau chăng?”
Chúa Ba chẳng nói chằng rằng,
Trông hoa cười mỉm,tần ngần với hoa!
(195)- Thấy em chẳng nói chẳng hề,
Hai chị mới hỏi tỉ tê sự lòng.
Thưa rằng: “Sắc vẫn là Không,
Thử suy giấc mộng ngắm trong người đời.
Đua danh, đua lợi tơi bời,
(200)- Như đem trò rối làm chơi là thường.
Dù ba mươi sáu tàn vàng,
Tuổi ngoài ba vạn sáu ngàn ngày thôi!
Huống chi kẻ tục trần ai,
Lại có luân hồi mấy kiếp mà thương!
(205)- Phu thê là đạo cương thường
Trăm năm chung được chén vàng mãi du!
Nghĩ ra nên cũng buồn rầu,
Sao bằng mượn cảnh mà tu lấy mình.
May ra siêu thoát tử sinh,
(210)- Yên thân nước Phật,vui hình cõi Tiên.
Trên thì báo đức sinh nên[18]
Mai sau Ngài ở tòa Sen đời đời.
Giữa thì tế độ cho người,
Dưới những quỷ loài cứu lấy nơi nơi!”
Đoạn 5
Hai Công chúa lấy phải hai Phò mã chẳng hiền
(215)- Nói năng chưa kịp hết lời,
Đức vua có lệnh truyền đòi ba con.
Rằng : “Rày Công chúa lớn khôn,
Toan[19] bề gia thất,lại còn đợi chi?”
Bấy giờ hai chị tâu quỳ:
(220)- Vua cha định liệu vậy thì con vâng”.
Thấy con tâu vậy vui mừng,
Định hai Phò mã,kén chưng triều thần.
Trạng nguyên họ Triệu quan văn,
Gả bà chúa Nhất,giành phần truyền gia.
(225)- Lại có quan vũ họ Hà,
Hay nghề cung kiếm,gả bà chúa Hai.
Hai chàng tin dụng hôm mai,
Kẻ cung Đông,kẻ cung Đoài ở riêng.
Ra vào chầu chực mấy niên.
(230)- Đức Trang Vương đã tuổi liền sáu mươi.
Mặt rồng khi ấy tốt tươi,
Làm yến hạ thị, cho vời trăm quan.
Vua, tôi họp mặt đoàn loan,
Phò mã, Công chúa tả ban chầu gần.
(235)- Chén mừng, chén chúc mấy tuần,
Đức vua vui uống có phần quá say!
Ngự vào nằm nghỉ bấy chầy,
Trăm quan vái tạ chia tay lui về.
Giấc rồng tỉnh lại ban khuya,
(240)- Hỏi, hai Phò mã nay thì chầu đâu?
Ai ngờ về phủ đã lâu,
Giọt đồng hồ điểm ban đầu trống ba[20]
Lôi đình vua mới mắng la:
“Rằng cho quyền bính để mà cậy trông.
(245)- Hôm mai chầu chực đền rồng,
Bên tả bên hữu đề phòng chẳng ly[21]
Có đâu đêm hãy còn khuya,
Tao say chưa tỉnh bỏ về chẳng coi.
Giang sơn này phó có người,
(250)- Thứ ba Phò mã được tài, trẫm trao”.
Tức thì vời Hoàng hậu vào,
Sự con rể tiêu hao giãi bày.
Hoàng hậu nghe phán mới hay.
Tâu: “ Chúa Ba rày tuổi cũng đã nên.
(255)- Kén dùng may được rể hiền,
Để sau xem sóc cho yên nghiệp nhà”.
Đoạn 6
Trang Vương muốn gả Công chúa cố từ
Đức Trang truyền chỉ phán ra,
Dạy đòi Công chúa thứ ba vào chầu.
Chúa Ba vâng lệnh lên hầu,
(260)- Đức vua mới phán trước sau sự tình.
“Ba con tuổi đã trưởng thành,
Hai chị con đã yên bề thất gia.
Hiềm vì sự yến[22] hôm qua,
Việc nước, việc nhà đành để con xem.
(265)- Trong triều văn vũ hai bên,
Mặc lòng đẹp ý đâu nên cha dùng.
Quyền cao chức trọng cha phong,
Cũng như Hoàng tử để phòng mai sau”.
Chúa Ba đứng lặng giờ lâu,
(270)- Từ nghe cha dạu,lòng sầu xót xa!
Cúi đầu lạy trước thềm hoa,
Tâu rằng: “Con đội đức cha sinh thành.
Nói sao nghe vậy mới dành,
Lẽ đâu con dám trái tình mẹ cha.
(275)- Nhưng sao, tôi khác người ta,
Bẩm sinh từ thuở sinh ra đến rày.
Chỉ tin đạo Phật đêm ngày,
Thấy đường gia thất lòng rày dửng dưng!”
Vua nghe ,cả tiếng mắng rằng:
(280)- “Con đâu quái đản,nói năng lạ lùng.
Ta làm vua chúa đền rồng,
Rất tôn nghiêm cấm là trong lâu đài.
Con đâu mà để ra ngoài,
Đi theo sãi vãi dông dài xấu xa!”
(285)- Chúa Ba lạy lại, tâu vua:
“Lầu loan gác phượng,ai mà chẳng yêu.
Trân châu,ai cũng muốn nhiều,
Phu thê, ai cũng dập dìu đoàn viên.
Song,lòng con vốn tự nhiên,
(290)- Xuất gia chỉ dốc một niềm mà thôi.
Cũng vì tư bẩm tính trời,
Xin đừng ép uổng lòng tôi làm gì!”
Đức vua thêm giận một khi,
Như sấm như sét ai thì chẳng kinh!
(295)- Chúa Ba lại lạy lại trình:
“Xin xét tấm tình kẻo mệt thánh cung.
Cha thương dẫu có ép lòng,
Thì con xin lấy kẻ dòng lương y”.
Vua rằng: “Văn vũ thiết gì,
(300)- Minh châu vóc ngọc sánh chi kẻ thường?”
Tâu rằng : “Kẻ ấy tuy thường,
Có bề cứu thế, có đường độ dân”.
Vua nghe nổi giận trăm phần.
Bắt đem đày đọa ra chưng sau vườn.
Đoạn 7
Trang Vương đuổi ra vườn sau
Công chúa một lòng mộ Phật
(305)- Chúa Ba từ ấy cảm thương,
Nghĩ đem điều hiếu suy lường mà coi.
Thuận cha được một bề thôi,
Trăm năm đến lúc sau rồi nào hay!
Tưởng cha sát phạt đã đầy,
(310)- Mai sau vào kiếp luân hồi ai lo?
Mắt trần nào đã thấy cho,
Lòng trần báng bổ nói dù có tin.
Đành thân chịu khổ giữ bên chiền già.
(315)- Thân này thành Phật may ra,
Hộ[23]nước,hô nhà thì mới có phương.
Giữ chi hiếu nhỏ tầm thường,
Giữ điều hiếu lớn mới đường báo ân.
Càng xem nghiệp chướng cõi trần,
(320)- Càng say đạo Phật muôn phần chẳng khuây.
Sau vườn ở đó đêm ngày,
Trông sao,trông tuyết,trông mây một mình.
Một mình niệm Phật niệm kinh,
Gió thanh là quạt,trăng thanh là đèn.
(325)- Cũng mừng khỏi chốn trần duyên,
Ở đây càng được tinh chuyên kẻo còn.
Đêm ngày Hoàng hậu bồn chồn,
Nhớ con vắng vẻ,thương con câm thầm!
Truyền hai thị nữ ra thăm,
(330)- Nơi ăn, nơi ở,nơi nằm làm sao?
Hai người đến đó bước vào,
Khuyên dỗ đức Chúa thấp cao sự lòng:
“Phủ son,gác tía,lầu hồng,
Nhân sao chẳng ở,bạn cùng cỏ hoa?”
(335)- Chúa Ba tình thực nói ra:
“Tao ưa thanh vắng,chẳng ưa lâu đài.
Càng nhiều chầu chực gái trai,
Càng nhiều phiền não luân hồi khổ thân.
Chữ rằng,nhất nhật tu thân,[24]
(340)- Mấy kiếp phong trần giũ sạch như không.
Tao từ khỏi chốn bụi hồng,
Như khỏi địa ngục,lên vòng thiên cung.
Bạn cùng gió mát trăng trong,
Tự tại mặc lòng kẻo lụy trần ai”.
(345)- Nói thôi ngửa mặt lạy trời:
“Chứng minh xin chớ để sai lòng này”.
Thoắt thôi thị nữ lui về,
Tâu bà Hoàng hậu vân ri rạch ròi:
“Hai tôi dỗ đã hết lời,
(350)- Khăng khăng Chúa quyết say nơi đạo thiền,
Thưa đi,thưa lại cần quyền,[25]
Chúa chỉ một niềm kinh giáo say mê”.
Đoạn 8
Trang Vương khuyên trở về gả chồng
Công chúa xin ở lại tu hành
Hoàng hậu nét mặt ủ ê,
Thương con mà luống nằn nì cho con.
(355)- Hẹp chi gác tía lầu son,
Liễu đào thơ yếu,nước non dãi dầu.
Vừa than vừa thở giờ lâu,
Xảy nghe ngự giá lui chầu vào cung.
Lên chầu tâu trước ngai rồng,
(360)- Rằng: “Nay Cửu trùng sao sắc kém tươi?
Việc chi phán bảo chúng tôi,
Vâng biết mọi lời kẻo để lo âu?”
Rằng: “Đày Công chúa đã lâu,
Nhớ con trẫm những âu sầu chẳng yên!”
(365)- Hoàng hậu quỳ xuống tâu lên:
“Con thơ dại dột dám xin thứ tình”.
Bấy giờ xa giá phát hành,
Cùng bà Hoàng hậu dạo quanh sau vườn.
Chúa Ba đón liền xe loan,
(370)- Tâu rằng: “Con tội muôn vàn đã can”.
Đức vua phán rằng: “Tha giam,
Cho về cung cấm,chớ đam[26] tu hành”.
Chúa Ba từ tạ đinh ninh:
“Con xin tu hành ở chốn hậu viên”.
(375)- Hoàng hậu lăn khóc một bên:
“Thế thì lòng mẹ chẳng yên được nào!”
Chúa quỳ lén lén thưa vào:
“Lòng con chỉ một ước ao chiền già.
Nguyên vì cõi Phật lâu xa,
(380)- Trần gian sống mấy mươi mà chẳng tu!
tham danh lợi tranh đua,
Sau đến Minh đồ[27]biết thuở nào lên?”
Đức vua nhịn giận mà khuyên,
Rằng: “Con sao nỡ để phiền cho cha?
(385)- Công trình khó nhọc sinh ra,
Nuôi con mong để tuổi già cậy trông.
Bây giờ bỏ chốn lầu hồng,
Cha khuyên,mẹ dỗ,quyết lòng đi tu.
Hay chi sãi vãi ở chùa,
(390)- Rau dưa khổ hạnh bo bo tháng ngày.
Như con còn có thiếu chi,
Mà con lại phải làm điều ấy du?”
Thoắt thôi hai kiệu về lầu,
Lại thấy hai chị đến sau dỗ dành:
(395)- “Tự em đày đọa một mình,
Hai chị thảm thiết tâm tình lắm thay!
Em về chớ có ở đây,
Kẻo vua cha giết mất rày mà thương!”
Thưa rằng: “Sinh tử là thường,
(400)- Dẫu có nghìn vàng dễ đổi được vay.
Em xin tu ở chốn này,
Hai chị về rày chầu chực trong cung”.
Thấy em nói chẳng chuyển lòng,
Nặng lời thét mắng đùng đùng một khi.
(405)- Chúa thấy hai chị chẳng vì,
Thưa rằng: “Bớt giận,làm chi nhọc lòng.
Thân đồng nhưng bụng chẳng đồng[28]
Dám xin hai chị rộng dung mặc dầu”.
Bấy giờ hai chị về lâu,
(410)- Tâu với Hoàng hậu trước sau sự lòng.
Hoàng hậu lên tâu ngai rồng,
Lại sai thị nữ nội cung bắt về.
Đoạn 9
Thị nữ mưu bày một kế
Công chúa rời bỏ hậu viên
Thị nữ trình Chúa Ba hay:
“Chúng tôi vâng lệnh dỗ rày Chúa nghe.
(415)- Nhược bằng Chúa chỉ đam mê,
Chúng tôi mạn phép bắt về chẳng tha”.
Chúa Ba thất trực mắng la:
“Đã hay vâng phép vua cha cho đòi.
Dẫu sao cũng tử tế lời[29],
(420)- Chúng bây sao dám rẻ người bấy kia!
“Chẳng về thì bắt tôi về”,
Ấy tao tội gì,bâynói cho ra?
Tao nhân một sự xuất gia,
Ở đây vì có lệnh cha bắt đày”.
(425)- Thị nữ thấy ý không lay,
Đặt ra một chước,nói ngay một bài:
“Chốn này vắng vẻ hôm mai,
Tu hành dễ được lâu dài đấy du?!
Có chùa Bạch Tước cảnh mầu,
(430)- Năm năm tăng đạo bấy lâu trụ trì.
Vua phán Chúa Ba trở về,
Tu đấy có bề hơn chốn hậu viên[30]
Chúa Ba mới giải lòng phiền,
Hỏi: “Vua cha có phán truyền thế chăng?
(435)- Phỏng như lời có thực rằng,
Thế thì như nguyện cũng bằng lên Tiên!”
Thị nữ trở lại trong đền,
Tâu đức Hoàng hậu gửi liền Ngự hay.
“Chúng tôi khuyên dỗ cả ngày,
(440)- Chúa tôi cũng chẳng chút lay tấm lòng.
Chúng tôi đặt chước nói cùng,
Rằng: “lệnh đền rồng cho chúa đi tu.
Xin Chúa hãy trổ về lầu,
Để sang chùa Tước mà tu đông người.
(445)- Chúa tôi mới nói mới cười,
Rằng được như lời mời thỏa lòng xưa.
Ấy là chúng tôi chước lừa,
Phải đem sau trước trình thưa giãi bày”.
Đức vua mới phán rằng: “Bây,
(450)- Đặt chước ra rày phải dụng chước chăng?”
Truyền đòi chùa Tước chúng tăng,
Rằng: “Mai Công chúa đến chưng chùa mày.
Dỗ về cho được chớ chầy,
Không thì tao giết chúng mày chẳng tha!”
(455)- Nói thôi mói sai người ra,
Rước lấy Công chúa về tòa kim lâu[31]
Bước vào vọng bái khấu đầu,
Vua cha nhìn mặt giờ lâu mới truyền,
Rằng: “Con đã đắm đạo thiền,
(460)- Cho ra chùa Tước theo miền tăng ni”.
Đoạn 10
Công chúa cứ ở lại chùa tước
Chúng tăng bày ra kế khổ sai
Tạ từ Chúa mới ra đi,
Hai chị cầm lại một khi chẳng dời.
Các quan văn trong ngoài,
Cùng đưa đức Chúa mỗi người mỗi than!
(465)- Chúa từ văn vũ các quan,
Xin đem quân lại,chớ phiền quân đi.
Tạ lòng xin các quan về,
Chấp lấy nhân chính[32],phù trì thánh cung.
Trăm quan thưa một lời chung:
(470)- “Xin Chúa trở lại đành lòng thần dân.
Nhớ xưa lời dạy thánh nhân,
Thuận thân là đạo, nghịch thân là tà.
Lòng lành chẳng lo xuất gia,
Trong cung thờ phật cũng là chân tu.
(475- Ra ngoài những đứa phàm phu,
Lấy làm cợt giễu ô đồ khó nghe”.
Chúa rằng: “Mời các quan về,
Cõi trần nào dễ biết chi mà rằng”.
Nói thôi Chúa kíp dời chân,
(480)- Trông chùa Bạch Tước đến gần tự biên[33]
Lao xao tăng chúng mảng[34] tin,
Ấy bà Công chúa vua truyền ngày xưa
Nể người ta chẳng chối từ,
Vua bắt làm tội bây giờ chẳng dung,
(485)- Bèn vời đức Chúa vào trong,
Trình kể sự lòng sau trước Chúa hay:
“Chúng tôi khổ hạnh ở đây,
Ăn mày lộc Phật một ngày một lưng.
Chúa Ba quý giá ái bằng,
(490)- Làm cho sãi vãi danh xưng thế cười!”
Chúa Ba dạy lại mấy lời:
“Giàu sang mà chẳng luân hồi vậy vay?!”
Chúng tăng cứ thực trình bày:
“Đức vua có lệnh truyền rày chúng tôi,
(495)- Dỗ cho được Chúa kíp hồi[35],
Không vậy giết người,chùa đốt ra tro!”
Chúa rằng: “Chẳng phải phiền lo,
Tử sinh có mệnh biết hầu làm sao?”
Chúng tăng thấy nói chẳng vào[36],
(500)- Xá từ cắt việc cho nao [37] tấm lòng.
Hễ đà ở chốn trù phòng[38],
Muối dưa,gánh nước,mấy cùng nấu cơm.
Đốt hương,quét tước già lam,
Giã gạo,bổ củi,việc làm cả ngay.
(505)- Bữa ăn đủ năm trăm thầy,
Gióng chuông,rung trống không ngày nào dưng.
Chúa Ba thấy nói mừng rằng:
“Hữu thân hữu khổ, lẽ hằng thế gian;
Ta đà vào chốn thiền quan,
(510)- Chỉ mong đắc đạo há toan tiếc mình”.
Nói thôi vào trước tịnh đình,
Chắp tay lạy Phật,tụng kinh,tham thiền.
Bao nhiêu công việc chùa chiền,
Một mình gánh vác truân chuyên chẳng từ.
(515)- Lòng thành động đến trên trời,
Ngọc Hoàng phán lời Thái Bạch Kim Tinh.
Rằng : “Có Công chúa tu hành,
Một ngày trăm việc thấy hình mà thương!”
lệnh truyền thần tướng thần vương
(520)- Giúp việc Công chúa giữ giàng sớm khuya.
Rồng thì tuôn nước đến kề,
Hùm thì hái củi,chim thì nhặt rau.
Thổ địa thì quét trước sau,
Lục đinh thần tướng đứng đầu thiêu hương.
(525)- Quần Tiên oản,quả,trà,thang,
Kẻ chuông,người trống,mọi đường chia nhau.
Phép Trời giúp Chúa nhiệm mầu,
Trăm việc một khắc[39]ai hầu biết ra.
Cả chùa sư,vãi,trẻ già,
(530)- Tưởng rằng phép chúa,ai là chẳng kinh!
Rủ nhau vào tâu triều đình,
kẻo e rồi lụy đến mình khốn thay!
Đoạn
Công chúa không về
Trang Vương đốt chùa
Đức Trang thấy sự tâu bày,
Lôi đình thét mắng: “Chúng bay a tòng!”
(535)- Lệnh sai lực sĩ đùng đùng,
Đốt chùa,giết hết mọi phòng tăng ni.
Tăng ni lăn khóc như ri,
Bởi vì Chúa, đến nỗi này thảm thương!
Chúa Ba kêu lạy bốn phương:
(540)- Vì tôi để vạ cho vương đến người.
Mười phương Phật chín phương Trời,
Hoàng thiên,hậu thổ chứng lời cho không?!”
Cầm dao cắt máu ròng ròng.
Lạy Trời, đem máu rảy tung lên trời.
(545)- Tự nhiên chuyển động dời dời[40],
Sấm ran,mưa xuống khắp nơi chùa chiền.
Gió êm lửa tắt được liền,
Ai cũng khen Chúa phép Tiên lạ lùng!
Lực sĩ thấy sự hãi hùng,
(550)- Tâu về Trang chúa cửu trùng Ngự hay.
Phán rằng: “Bắt Chúa về đây,
Chẳng về thì bắt giết ngay chớ trì”.
Hoàng hậu xin khất một khi,
“Tôi xin đặt kế, họa thì phải nghe.
(555)- Đem ra kỹ nhạc trăm nghề,
Dỗ rằng: “Chẳng về hẳn giết chẳng chơi!”
Ai ngờ lòng sắt khôn dời
Tiệc bày mặc tiệc,tu thời lại tu.
Đoạn 12
Trang Vương giết hại chẳng tha
Thần Phật cùng đến bảo hộ
Bấy giờ có lệnh trên lầu,
(560)- Truyền bắt làm tội trọng tù giết ngay,
Pháp quan vâng lệnh dám chầy,
Đem ra trường pháp toan nay gia hình
Thấy tin Hoàng hậu bộ hành,
Ôm con lăn khóc vật mình đòi phen[41]
(565)- Một giây vua đã biết tin,
Lại phán chỉ truyền tha chết đi cho.
Đem về giam ở ngục u,
Lãnh cung chốn ấy thảm sầu bốn bên.
Giãn ra vua lại nài khuyên,
(570)- Đức Chúa càng phiền,quỳ lạy tâu qua:
“Đã hay đạo mẹ, đức cha,
Trời cao biển rộng báo đà xứng chưa?
Nhưng tôi khổ hạnh bây giờ,
Mai sau cha mẹ được nhờ độ siêu.
(575)- Kẻo e nghiệp chướng đã nhiều,
Chẳng tai bề khổ,cùng nghèo sông mê!”
Vua nghe càng giận đòi khi,
Lại truyền lực sĩ đem đi gia hình.
Bấy giờ Thổ điạ thần linh,
(580)- Ở lãnh cung tời thiên đình tâu lên.
Ngọc Hoàng thượng đế phán truyền,
Sai các thần xuống bốn bên hộ trì.
Rằng: “Là Bồ Tát xưa kia,
Thác sinh Hạ giới khi nay phải nàn.
(585)- Chư thần mau xuống chớ khoan,
Hễ thấy có giết kíp toan cứu người”.
Canh năm vừa mới rạng trời,
Lực sĩ áp điệu ra nơi pháp trường.
Chúa Ban nhan sắc như thường,
(590)- Nghĩ lòng lên được Thiên đường từ đây.
Quan quân gươm giáo sắp đầy,
Bỗng đâu cơn gió thổi ngay đùng đùng.
Tối tăm trời đất mịt mùng,
Hào quang sáng khắp cả trong trường hình
(595)- Gươm đao chẳng phạm được mình,
Pháp quan thấy thế tâu trình bề trên.
Vua Trang lại có lệnh truyền:
“Không trảm thì giảo[42],giết liền xem sao
Quan quân áp đến xôn xao,
(600)- Bỗng đâu mãnh hổ nhảy vào tha đi.
Các quan về tâu vua hay,
Vua rằng: “Trời đất dung gì kẻ gian!”
Đoạn 13
Hồn Công chúa dạo chơi địa phủ
Lòng từ bi cứu thoát ngục tù
Hổ tha vào tới rừng hoang,
Đức Chúa mơ màng như lúc chiêm bao.
(605)- Chẳng hay đây là nơi nào,
Biết ai mà hỏi lối vào đường ra?
Bàng hoàng phách nguyệt hồn hoa,
Thấy Thanh Y sứ đến mà hỏi han.
Tay cầm bảo cái cờ phan,
(610)- Hào quang sáng khắp mọi ngàn dưới trên.
Trình: “Có Diêm Vương lệnh truyền,
Dạy mời đức Chúa về đến Phong Đô”.
Qua mười tám cửa ngục tù,
Hỏi: “Đây là chốn ở đâu,tên gì?”
(615)- Thưa rằng: “Địa phủ Âm ty,
Chúa mới ngẫm lại một khi sự lòng:
Hẳn ta chẳng chịu lấy chồng,
Vua cha đem giết thác trong chốn này?”
Sứ rằng: “Chẳng phải vậy nay,
(620)- Mười vua Thập Điện rước Ngài xuống chơi.
Xin mời Ngài hãy tới nơi,
Lại về Dương thế rày ai chẳng trì”.
Chúa theo sứ giả liền đi,
Mười tám cửa ngục một khi tới gần.
(625)- Những quân canh ngục vui mừng
Đầu trâu đón rước,dăng dăng hai hàng.
Chúa trông vào chốn ngục đường,
Gió tanh,hơi thấu đến xương lạnh lùng!
Tối tăm ngày cũng mịt mùng,
(630)- Quân tù eo óc[43]đứa trong đứa ngoài.
Chúa mới hỏi sứ từng lời:
“Chẳng hay tội nghiệp những người làm sao?”
Thanh Y dẫn lại thấp cao:
“Tội chi cũng có xiết bao ngục tù.
(635)- Kia ngục đem ném vạc dầu,
Xác người sùng sục từ đầu đến chân.
Dưới thì lửa đốt cháy rần,
Dầu sôi người khóc muôn phần khổ thay!
Vì trên trần thế tội dày,
(640)- Trong lòng hiểm độc sâu cay quá chứng!
Bạo nghịch thiên địa,thánh thần,
Phật Tiên,tổ khảo,quân thân với thầy.
Kìa ngục huyết hồ gớm thay,
Hồ sâu những máu tanh hôi lạnh lùng!
(645)- Bắt đem nhấn đầu vào trong,
Thò lên rắn,rết,thuồng luồng cắn ngay.
Bởi vì trút bỏ bào thai,
Gian dâm bắt tội cả hai đứa cùng.
Kìa ngục nằm trên bàn chông,
(650)- Chông là chông sắt,lưng hông tồi tàn.
Ngục Kiếm Thụ,ngục Đao Sơn,
Gươm đao từng đống như ngàn núi cây.
Vật lên da thịt còn gì.
Bởi vì người ấy bất nghì,bất nhân.
(655)- Rủ rê, lừa lọc ngu dân,
Để cho đến nỗi mất thân mất nhà.
Chiết kiều kia ngục đầu hà,
Quỷ sứ đánh bắt cho sa xuống cầu.
Cầu cao, sa xuống sông sâu.
(660)- Chó đồng,rắn sắt căn đầu cắn hông.
Bởi vì lấp giếng ngăn sông,
Phá việc vợ chồng,hoại kẻ công danh.
Kìa bàn vá sắr quỷ binh,
Là ngục chửi chị, chửi anh,chửi chồng.
(665)- Phẫu tâm là ngục mổ lòng,
Những loài bất hiếu bất trung tiếc gì.
Ngục đâm cối,ngục dang tay,
phí của trời bỏ giấy chữ kinh.[44]
Cho nên cối đâm[45] sình sình,
(670)- Dang hai tay đóng những đinh sắt vào.
Kìa ngục Bạt Thiệt làm sao.
Cầm kìm lôi lưỡi máu trào mà kinh.
Bởi vì miệng lưỡi co quanh,
Đảo điên đơm đặt làm khuynh hãm người.
(675)- Kìa ngục hay nói dối đời,
Quỷ đứng rạch miệng,quỷ ngồi bẻ răng.
Nào ai dò lưới bắn săn,
Hay giết trâu lợn,hay ăn thịt cầy.
Có ngục ác thú một bầy,
(680)- Hổ lang, ưng khuyển cắn nhay ruột rà.
Xe lửa là ngục Hỏa Xa,
Quay đi quay lại,thịt da tan tành.
Bởi vì cậy thế cậy mình,
Hiếp kẻ cô quả[46],cướp tranh ruộng vườn.
(685)- Cột đồng là ngục đốt than,
Mấy tay chức dịch tham tàn phải ôm.
Kìa ngục rắn hổ,rắn giun,
Quấn người cắn máu lại phun mặt người.
Bởi vì bới móc chê bai,
(690)- Ghen tuông người nọ dông dài sự kia.
Còn như thân thích thời lìa
Thấy kẻ đói khát chút gì chẳng cho,
Tham tài giữ lợi bo bo,
Kẻ cùng,kẻ bệnh chẳng phù chẳng thương.
(695)- Xiết bao khoảnh độc thiên ương,
Những các người ấy phải mang ngục này.
Xẻ cưa dựng ngược gớm thay!
Đem đá ném xuống thân thây tan tành.
Ấy là các cửa ngục hình,
(700)- Đều vì thất đức tại mình biết sao?”
Lòng trần tưởng chẳng chi nào,
Ai hay quả báo khi vào Âm Ty!
Lại xem một ngục A Tỳ,
Mấy tầng chông sắt đen sì tối âm.
(705)- Ngục này thực tội tà dâm,
Biết mấy hình nặng dưới âm mà rằng!
Là người làm hại quân thân,
Làm hại thiên hạ muôn dân lắm người.
Với người sâu sắc nước đời,
(710)- Đã được hóa kiếp chẳng chừa ác tâm.
Cơ thâm[47] thì tội cũng thâm,
Ác hữu ác báo chẳng nhầm chút nao.
Dối người,dối được trời nào,
Giới Thần,Vua Táo soi vào con tim.
(715)- Dương gian chết có một phen,
Phép Âm bắt,mới chết liền sống ngay.
Làm cho thảm thiết đọa đày,
Cho bỏ lại ngày ác nghiệp Dương gian!”
Chúa Ba thấy nói thở than,
(720)- Chẳng đành con mắt,chẳng an trong lòng!
Ước sao tù ngục vắng không,
Bao nhiêu tội chúng sạch trong lầu lầu.
Bỗng thấy ba người đến sau,
Sụt sùi khóc lóc cúi đầu trình thưa:
(725)- “Bởi vì chùa Tước bữa xưa,
Can liên sự Chúa,bây giờ xuống đây!”
Chúa Ba thấy nói thương thay,
Gửi xin Diêm Phủ than gay ba người.
Ba người đã được lên đời,
(730)- Thanh Y dẫn Chúa chân dời giờ lâu.
Lại mời đến chỗ Kim Cầu,
Tràng phan,bảo cái,trước sau ngất đường.
Dưới,trên những phô phô trương,
Rồng vàng, mây đỏ bốn phương chầu vào.
(735)- Chúa nghe tiếng nhạc xôn xao,
Lại nghe tù khóc lào xào nơi xa.
Thanh Y dẫn lại trình qua:
“Có phúc đàn sáo sênh ca đãi đồng.
Vô phúc dẫn vào ngục trung,
(740)- Phủ việt,chùy đống khảo đánh giam tra!”
Chúa nghe lời nói xót xa!
Cảm thương trong bụng kêu ca thiên đình.
Khấn cầu chuyển chú niệm kinh,
Ngọc Hoàng cảm động chí thành tự nhiên.
(745)- Bảo hoa bay khắp bốn bên,
Hào quang sáng suốt dưới trên ngục thành.
Gông cùm rơi rụng tan tành,
Bao nhiêu tù rạc nhẹ mình tỉnh ra.
Thoắt chốc vua Thập Điện qua,
(750)- Chào hỏi: “Chúa Bà trần thế xuống đây?”
Chúa Ba rằng: “Giã ơn người,
Nhọc phiền Bệ hạ tới nơi làm gì!
Vua rằng: “Nghe đức từ bi,
Mở lòng thương xót độ trì chúng sinh.
(755)- Khắp mưới tám cửa ngục hình,
Một giờ đại siêu sinh từ rày”.
Thực là đắc đạo linh thay
Chuyển trong Địa ngục ra nay Thiên đường
Phán đem bảo cái tàn vàng
(760)- Hai mươi bốn cấp rỡ ràng bày ra.
Sáu tào đưa tiễn Chúa Ba,
Đến sông Nại Hà,rồi mới chia tay.
Đoạn 14
Công chúa trở về dương thế
Phật tở dẫn vào chùa Hương
Chúa Ba hồn phách tỉnh ngay,
Vẫn còn ngọc thể như ngày giáng sinh.
(765)- Trông ra rừng rú một mình,
Biết đâu có chốn am thanh nương nhờ.
Đương khi phảng phất bơ vơ,
Thấy một người lạ lẳng lơ đến gần.
Hỏi rằng: “Phải Công chúa chăng?
(770)- Ta kết phu phụ đạo hằng ở đây!”
Chúa rằng: “Sao nói thế thay!
Xuất gia đệ tử thân này xem không.
Mới rồi qua địa phủ cung,
Thấy sự hãi hùng quả báo ghê thay!
(775)- Thôi đừng nói sự làm vầy,
Đã quyết lòng này như sắt nấu nung”.
Chúa Ba lòng chỉ biết lòng,
Nào ngờ người ấy cũng không thường mà!
Ai hay là Phật Thích Ca,
(780)- Ướm xem lòng Chúa có đà kiên[48] chăng?
Thấy Chúa một mực nói năng,
Ngài mới khen rằng: “Lòng đạo kiên thay!
Ta là Phật Tổ Như Lai,
Thấy kẻ có đạo ướm chơi biết tình”.
(785)- Chúa Ba vừa tạ vừa kinh,
Rằng : “Tôi nhục nhãn Ngài đành xá cho!”
Đức Phật mới chỉ đường tu,
Rằng: “Có một chùa ở Hương Tích Sơn.
Gần bể Nam Việt thanh nhà,
(790)- Sang tu chốn ấy kíp toan viên thành.
Chúa Ba lạy bạch chân tình,
Bụng đói miệng khát,bộ hành làm sao.
Đức Phật lại cho quả đào.
Dạy rằng: “Ăn vào, bất diệt bất sinh”.
(795)- Lạy từ Chúa mới hộ hành.
Xa xôi rừng rú một mình gian truân.
Thái Bạch lốt hổ đưa chân cho người.
Hổ vừa nhảy tót đến nơi,
(800)- Chúa mới lạy trời mà khấn nguyện ra:
“Như tôi ở có lòng tà,
Bội nghịch,bất hiếu xin sa miệng hùm”.
Hổ liền quỳ xuống trình rằng:
“Tôi chẳng phải hổ xin đừng ngại chi.
(805)- Tôi là thần núi Hương kia,
Vâng lời Thái Bạch sai đi dẫn đường”.
Chúa liền theo bước đi sang,
Trèo đèo qqua suối đến Hương Tích chùa.
Đoạn 15
Công chúa được tôn thành Phật
Kim đồng siêu thoát thân phàm
Núi cao,chân ngất[49]mịt mù,
(810)- Âm thanh,cảnh vắng,bốn mùa cỏ cây.
Trên thì ngũ sắc tầng mây.
Dưới thì bể nước xanh rì như gương.
Cá,chim chầu lại tịnh đường.
Hạc thường tiến quả,hươu thường dâng hoa.
(815)- Một mình một núi Phổ Đà,
Thân là thân Phật,cảnh là cảnh Tiên.
Tu hành đã được chín niên,
Bao nhiêu phép Phật,phép Tiên vào lòng.
Lúc giờ Tam Phủ [50] công đồng,
(820)- Hộ thành phúc quả phán trong lệnh truyền
Chư Phật Bồ Tát dưới trên,
Thần binh thần tướng thiên thiên vàn vàn.
Động Nguyên ,Hải Nhạc,Linh Quan,
Ngũ lôi,thần tướng thành hoàng xã ty.
(825)- Đều ra tới trước lạy quỳ,
Xin tôn đức Chúa lên vì tòa Sen.
Một thân hóa được ra nghìn muôn than.
Mắt soi khắp hết cõi trần,
(830)- Lắng tai nghe thấu xa gần bốn bên.
Chúa đà thành Phật thành Tiên,
Còn một chút hiềm, đồ đệ chưa ai!
Thổ thần trình: “ Có Thiện Tài,
Ở dưới Hạ giới,vốn người Duyện Châu.
(835)- Mẹ,cha khuất mặt đã lâu,
Trẻ có chí mầu,lánh tục xuất gia”.
Phật Bà dạy: “Đem nó ra!”.
Hỏi căn nguyên,hỏi kinh khoa một bài.
Bèn cho tạm ở mái ngoài,
(840)- Thử xem giới hạnh Thiện Tài làm sao?
Ngài đòi các tướng thần vào,
Dặn rằng: giả cách làm loài kiếp nhân[51].
Nửa đêm áp đến ngoài sân,
Ngài cũng giả cách ngã lăn hãi hùng.
(845)- Kêu rằng: “Có ai cứu không?”
Ngài chạy sa xuống nghìn trùng hang sâu.
Thiện Tài cũng chạy theo sau,
Thương thầy, đâm đầu gieo xuống dưới hang.
Phật Bà từ ấy tin thương.
(850)- Thoát cho xác cũ dẫn hồn phách lên,
Thiện Tài theo Phật về đền,
Phật hỏi: “Hang ấy, mày nhìn có ai?”
Thưa rằng: “Thấy một xác người.
Phật rằng: “Xác ấy phàm thai của mày.
(855)- Thoát cho, cho sạch trần ai,
Cho biến hóa được,cho dài lâu thân”.
Đoạn 16
Thủy thần báo tạ Phật ân
Ngọc nữ quy y Phật pháp
Này sự con vua Thủy thần,
Thái tử đi tuần, đội lốt Lý ngư[52].
Đi lầm mắc lưới vật vờ,
(860)- Phỏng chậm một giờ,dao thớt phải sa.
Phật Bà trông thấy nẻo xa,
Dạy Thiện Tài kíp đi ra chớ trì.
Hóa làm hình dáng nữ nhi.
Mua lấy cá ấy tức thì phóng sinh.
(865)- Thái tử về được Thủy đình,
Vua mừng lấy ngọc dạ minh báo người.
Con gái Thái tử lên mười,
Lòng mộ,xin nài mang ngọc ra đi.
Đến nơi bái tạ một khi,
(870)- Lại xin ở lại trụ trì tụng kinh.
Dạy rằng: “Thầy hỏi thực tình,
Tu thì khổ hạnh,có đành được chăng?”
Long Nữ quỳ xuống thưa rằng:
“Thầy tu ngày trước, trăm phần khó thay!
(875)- Vua cha làm đọa làm đày,
Mà thầy chịu được đắng cay nhiều bề.
Huống tôi nhờ có thầy đây,
Tuy rằng khổ hạnh, được rày cam tâm”.
Ngài liền dạy pháp thiền lâm.
(880)- Câu kinh câu kệ, miệng ngâm ngày ngày.
Tả Long Nữ,hữu Thiện Tài,
Cho làm huynh đệ,hôm mai đứng hầu.
Đoạn 17
Trang Vương đa sát bất nhân
Thượng đế giáng cho bệnh nặng
Đoạn này nói chuyện dưới đời,
Vua Trang từ thuở nỡ hoài[53] Chúa đi.
(885)- Đốt chùa hại đến tăng ni,
Long Thần lúc ấy tâu quỳ thượng thiên.
Thiên đình đòi sổ ra xem,
Truyền bắt hồn phách xuống miền Âm Ty.
Nam Tào mở sổ tâu quỳ:
(890)- “Hai mươi năm nữa đến kỳ sẽ hay”.
Phán rằng: “Số thọ còn chầy
Giáng cho bệnh nặng,thuốc gì chẳng yên”.
Ôn hoàng vâng lệnh xuống liền,
Bao nhiêu khí độc vào đền Trang Vương.
(895)- Vua Trang phát bệnh lạ thường,
Thân hình chốc lở, chiếu giường tanh hôi.
Đêm ngày thảm thiết bồi hồi,
Thuốc thang cần khẩn chẳng vơi chút nào.
Động lòng Chúa Phật lên cao,
(900)- Mắt Ngài trông thấu biết bao cõi trần.
Thấy vua cha phải gian truân.
Đòi Thiện Tài lại ân cần thở than:
“Ta nay phải xuống trần gian,
Giả làm Hòa thượng lo toan sự này”.
Đoạn 18
Trang Vương yết bảng tìm Thầy thuốc
Phật chúa giả làm Tăng cứu trị
(905)- Này đoạn Hoàng hậu khổ thay!
Thương con chưa giãn lại nay lo chồng.
Tâu vua định kẻ nối dòng,
Ngự truyền chàng rể phải dùng biết sao?
Sai quan đòi Phò mã vào,
(910)- Phò mã dở tiệc chén đào xướng ca.
Hai Phò mã say là đà,
Sai viên[54] đợi chẳng thấy ra trở về.
Vua nghe giận con bất nghì,
Thêm sầu, thêm bệnh hồn mê mơ màng.
(915)- Chinh cung lăn khóc bên giường,
Nghĩ Chúa Ba lại thêm càng đắng cay!
Con hiền mà nỡ phụ hoài
Hai giống phi loài còn để làm chi?
Thấy cha khốn khổ gian nguy,
(920)- Theo chồng hát xướng vui vầy cho yên!
Vua Trang bao xiết lòng phiền,
Mới phán lời truyền treo bảng văn lên:
“Ai mà chữa được trẫm yên,
Trẫm nhường thiên hạ thay quyền trị dân”.
(925)- Một chốc thấy ông lão Tăng,
Đến gần,xé lấy bảng văn vội vàng.
Quan quân thấy kẻ dữ dàng[55],
Bắt đem vào nộp triều đường vua hay.
Hòa thượng đặt gối tâu bày:
(930)- “Tôi dòng Dược tạng vốn thầy chính tông!”
Vua nghe tâu vậy,mừng lòng,
Phán rằng: “Chữa được thưởng công những gì?”
Tâu rằng: “Lời ấy khó nghe,
Bảng treo chữa được nhường vì ngôi cao.
(935)- Bây giờ trọng thưởng làm sao?
Nói đà chẳng thực, thuốc nào dám đưa!”
Đức Vua thét mắng một giờ,
Lại cho thăm bệnh thử chờ thuốc thang.
Lão tăng vâng đến long sàng,
(940)- Xem rồi,rằng: “Chứng lạ thường khó thay!
Thuốc phàm dễ chữa được vay!
Tiên nhân rày tu ở Hương Sơn.
Xin được tay,mắt làm hoàn[56],
Điều[57] vào với thuốc,mới toan chữa lành”.
(945)- Đức vua thấy nói trái tình,
Mắng rằng: “Vô lý! Chẳng đành vào tai!
Người ta hai mắt,hai tay,
Ai có thừa thãi mà thầy nói xin.
Tâu rằng: “Đừng giận,chớ phiền,
(950)- Lão tăng xin dẫn căn nguyên giải bày:
Hương Sơn là chốn thiêng thay,
Tiên nhân tu đó đã đầy chín niên.
Cứu người chỉ một tâm nguyền,
Tiếc thân,còn có làm duyên phúc gì!
(955)- Tiên nhân người chẳng quản chi,
Mong cho vua được yên vì trị dân”.
Đức vua thấy nói ân cần,
Hỏi: “Đem vàng bạc kim ngân lễ gì?”
Tâu rằng: “Vàng bạc làm chi,
(960)- Mâm trầm bạch này thanh khiết mà thôi.
Đường ba nghìn dặm đến nơi,
Tôi xin ở lại năm ngày nghỉ chân”.
Lòng vua nghĩ ngợi tần ngần,
Nửa phần tin lại nửa phần còn nghi!
(965)- Bèn sai Triệu Chấn ra đi,
Cứ lời[58] tăng dặn nẻo về Tích Sơn.
Lại truyền Tả Trấn môn quan.
Nuôi lão tăng ấy giữ giàng chớ tha.
Đợi đem được thuốc về nhà.
(970)- Xem lão tăng nói thực thà hay không?
Đoạn 19
Phò mã mưu bỏ thuốc độc
Phật chúa làm lộ mưu gian
Này chuyện Phò mã lạ lùng,
Họ Hà,họ Triệu đồng lòng mưu gian.
Nghe vua dùng thầy Tích Sơn,
Sợ khi chữa bệnh ắt toan nhường quyền.
(975)- Sai người gia thuộc đi đêm,
Vào nhà Tả Trấn giết liền Lão tăng.
Lại sai một người,dặn rằng:
“Cầm một phong thuốc vào dâng bệ tiền.
Nói dối rằng là thuốc tiên,
(980)- Đã đi lấy được ở miền Tích Sơn”.
Ấy là hai đứa mưu gian,
Nó dâng thuốc độc để toan cướp quyền.
Ai ngờ phép Phật thông huyền,
Chúa Ba biết trước Ngài liền hóa thân.
(985)- Giả thân là Lão tăng nhân,
Chân thân một khắc về chưng cảnh chùa.
Đòi thần Du Lịch dặn dò,
Vào đền[59] hóa tướng,giữ vua đêm ngày.
Nửa đêm có thuốc dâng ngay,
(990)- Rằng : “Thuốc chùa Tích đưa thầy Lão tăng”.
Du Dịch quỳ xuống tâu rằng:
“Ấy thuốc Phò mã toan chưng hại người”.
Vua Trang nghe nói rụng rời,
Chớ khi trời sáng,sai người khám tra.
(995)- Cứ người dâng thuốc xưng ra,
Rằng: “Hai Phò mã lòng tà kế sâu.
Bởi lo Hòa thượng giúp vua,
Một mai thiên hạ nhường cho cầm quyền”.
Vua nghe vừa giận vừa phiền,
(1000)- Rằng: “Loài súc sản chẳng nên giống người!”
Truyền bắt Triệu,Hà hai ngươi,
Với đứa đem thuốc phó[60] nơi cực hình.
Đoạn 20
Hai Công chúa bị giam
Thần Thổ địa báo mộng
Hai bà Công chúa thất kinh,
Trốn vào hậu đình,kêu với Chính cung.
(1005)- Chính cung kêu lạy ngai rồng;
Hai con thơ dại xin dung thứ vầy.
Chúa Ba đã chết bấy chầy,
Con hai chút này có lẽ chẳng dung!”
Phán tha, đày vào lãnh cung,
(1010)- Thanh, Âm hai Chúa cực lòng khốn thay!
Nhớ xưa em nói lời này:
Bao nhiêu thế sự,phút rày như không!
Thà giết như em cho xong,
Chẳng thà hãm ở lãnh cung làm vầy!
(1015)- Thổ thần mộng báo cho hay:
Rằng: “Em còn sống ở rày Hương Sơn.
Nay mai trở lại Dương gian,
Trước độ Thánh hoàng,sau độ hai ngươi”.
Chiêm bao rõ biết mọi lời,
(1020)- Hai người từ ấy, ăn chay tu hành.
Đốt hương niệm Phật lòng thành,
Khấn nguyện xin được siêu sinh âm thầm.
Đoạn 21
Cắt tay,mặt trị bệnh vua cha
Trang Vương từ ngôi về hương tích
Này sự Triệu Chấn,Lưu Khâm,
Hai người lên chốn sơn lâm đền chùa.
(1025)- Tiền nhân vâng thấy Chiếu vua,
Tay,mắt bên tả dạy cho cắt về.
Lưu Khâm bước đến gần kề,
Cầm dao chẳng dám động hề tra tay[61].
Tiên nhân giục bảo chớ chầy,
(1030)- Kíp lấy về rày,kẻo để vua trông.
Cắt ra,máu chảy ròng ròng.
Hai người lễ tạ, đều cùng trở ra.
Triệu Chấn,về đến nước nhà,
Ôm tay, đem mắt vào toà dâng lên.
(1035)- Hoàng hậu cất tay,nhìn xem:
Giống Chúa Ba cũ như in lạ đời!
Hai hàng nước mắt tuôn rơi,
Vua rằng: “Thiên hạ thiếu người giống nhau!”
Hoàng hậu rằng: “Chẳng sai đâu,
(1040)- Tôi đã nhận dấu trước sau tỏ tường.
Nốt ruồi chính giữa hổ quan,
Thực con tôi đó,còn bàn rằng ai?!
Người dưng ai nỡ hoài tay,
Tình thâm cốt nhục nên rày hoại thân!”
(1045)- Thoắt thôi vua mới phán rằng:
“Phó trao tay,mắt thầy tăng kíp điều”.
Thuốc cao luyện được một liều,
Phán: “Đồ[62] bên tả,bệnh tiêu tức thì.
Bệnh bên hữu hãy còn y[63],
(1050)- Vua hỏi chước gì cho đã[64] liền ngay?
Thầy rằng: “Tả trị tả hay,
Hữu biên,phải dụng mắt,tay bên đoài”.
Vua rằng: “Tay,mắt của người,
Lẽ đâu xin được cả hai bên mà”.
(1055)- Thầy rằng: “Tuy thế xong mà,
Bệnh chi,thuốc nấy, ắt là mới hay!
Vả! Tiên nhân cũng từ bi,
Dẫu ta xin hết, người thì cũng trao.
Huống còn phần ấy, tiếc nào,
(1060)- Phúc làm cho trót quản bao đến mình”.
Lưu Khâm phụng mệnh tái hành,
Lại có lời Chiếu lên trình Tiên nhân.
Trong lời chiếu chỉ ân cần:
“Xin Tiên chữa cả mười phần cho yên.
(1065)- Rồi ra,cả nước lập đền,
Muôn năm cùng dưỡng,chúc nguyền tôn linh”.
Chúa đà nghe biết chân tình,
Dạy Thiên Tài hóa làm hình Tiên nhân.
Lưu Khâm cầm dao đến gần,
(1070)- Bảo rằng: “Kíp lấy băng chừng hồi gia”[65]
Cắt thôi,máu chảy chan hòa,
Tiên nhân chính sắc[66] nói ra làm vầy:
“Khen cho Hòa thượng thuốc thầy,
Chữa được ngọc thể,mệnh này để ai?!
(1075)- Lưu Khâm về nộp trước đài,
Vua mới dạy với Hòa thượng vào trong.
Thuốc thang điêu luyện vừa xong,
Tiến vào cửu trùng,linh nghiệm thiên thay!
Thần thông nào kịp trở tay,
(1080)- Mặt rồng tươi tốt hơn ngày xưa kia!
Triều đường cung cấm tư bề,
Yến mừng,tiệc hát,vui vầy xôn xao!
Luận tôn Hòa thượng quyền cao,
Trăm quan rước vào,tuyên Chiếu nhường ngôi.
(1085)- Hòa thượng lạy,giã từ lui,
“Tính quen non nước thú vui tháng ngày.
Dám khuyên bệ hạ từ rày,
lòng nhân đức,cho hay lấy mình.
Các quan văn vũ triều đình,
(1090)- Giúp vua, lo nước cho thành chữ trung.
Tiểu tăng đã thoát bụi hồng,
Cầu chi danh lợi trong ngôi nhường!”
Thoắt thôi từ tạ lên đường,
Trăm quan đưa tiễn vội vàng theo sau.
(1095)- Bỗng không thấy ở trên đầu,
Một tờ giấy kệ bốn câu giữa trời.
Kệ rằng:
Ngô nãi Tây phương Nhất Thế Tôn,
Đặc lai cứu nhĩ bệnh trừ côn.
Tòng kim chính đạo vô tà sắc,
Mạc sự linh chân nhiễm tục hồn.
(Diễn Nôm rằng);
Ta vốn Tây phương Nhất Thế Tôn,
Đến đây chữa bệnh diệt trừ căn
Từ nay chính đạo không tà sắc,
Chớ để linh chân nhiễm tục trần.
Đoạn 22
Trang Vương giữa đường gặp yêu
Giặc Hà tiếm ngôi trong nước
Trăm quan thấy giấy lệ rơi,
Đem vào tâu ngự xem lời làm sao?
Rằng: “Ta mệnh ở Nam Tào,
(1100)- Ngọc Hoàng thương đến mối trao kệ này.
Trẫm nhớ ơn Tiên nhân thay,
Tính sao trả nghĩa mới hay bằng lòng!”
Bèn đổi Triệu Chấn đến cùng,
Hỏi rằng: “Tiên nữ hình dung thế nào?”
(1115)- Chấn rằng: “Chẳng biết làm sao,
Giống Chúa Ba ấy,hao hao dáng hình!”
Vua rằng : “Sự ấy chưa minh,
Chờ khi lễ tạ sẽ đành hỏi thăm”.
Nào hay chúa Thanh,chúa Âm,
(1120)- Hai Chúa âm thầm ở chốn lãnh cung.
Từ nghe thần mộng lạ lùng,
Trông em mình chỉ một lòng đinh ninh.
Ai ngờ mắc phải yêu tinh,
Thanh Sư,Bạch Tượng biết tình hình ra.
(1125)- Giả làm hình dạng Chúa Ba,
Dỗ đem đi đến núi xa lạ lùng.
Hai yêu xưng ép làm chồng,
Hai bà khẳng khẳng[67] một lòng chẳng cho.
Thà chết,chẳng chịu gian ô,
(1130)- Nó hãm làm tù,lại quá lãnh cung!
Khi ấy,quân canh lãnh cung,
Không thấy hai Chúa,hãi hùng tâu lên.
Tức khắc vua sai người liền,
Người đón,người tìm khắp cả tây đông.
(1135)- Có con thị nữ Thuý Hồng,
Nghĩ đạo thầy tớ cố công thăm dò.
Yêu tinh thấy vậy nó lo,
Bắt giam thị nữ,làm cho đứt đường.
Quan quân tìm khắp mọi phương.
(1140)- Chẳng thấy tin tức ai tường căn nguyên.
Trăm quan thấy sự ngạc nhiên,
Tâu lên vua hỏi người tiên trên chùa.
Đức vua truyền sắm đủ đồ,
Kẻ theo kiệu ngọc,người phù xe loan.
(1145)- Phát hành chưa đến Hương Sơn,
Huyện Trừng-Tâm,lại mắc nàn yêu tinh.
Ma vương sợ lộ sự mình,
Nửa đêm hóa trận phong sinh[68] đùng đùng.
Vua Trang cùng với Chính cung.
(1150)- Nó bắt vào động, hãi hùng hồn mê.
Triệu Chấn vốn thuộc đường đi,
Tìm lên chùa Tích,toan bề hỏi tin.
Yêu tinh rình đón cả đêm,
Lại bắt Triệu Chấn,cũng đem giam liều.
(1155)- Vua Trang đã mắc con yêu,
Lại thêm một điều trong nước giặc pha[69].
Có còn Phò mã,họ Hà,
Giận vì ngày trước giết cha nó rày,
Trốn sanh Mâu quốc bấy chầy,
(1160)- Chiêu được binh mã đến ngoài ba muôn[70]
Nhân khi vua ngự chùa Hương,
Nó vào tiếm vị vua Trang hững hờ.
Đoạn 23
Phật chúa đương hội thiên đình
Thiện tài một mình trừ yêu quái
Vua Trang đương lúc vật vờ,
Chúa Ba bây giờ có nhớ hay quên!
(1165)- Chỉ vì có lệnh Hoàng Thiên,
Hội các chư Phật ở trên Dao Trì.
Phật Bà dở việc chưa về,
Cho nên trong nước lắm bề gian nan.
Thiện Tài thấy sự chẳng an,
(1170)- Bàn với Long Nữ lo toan việc này:
“Nước nhà sư phụ,khốn thay,
Phải con Hà Phượng tiếm rày còn chi!
Thầy còn vắng vẻ chưa về,
Hai ta phải xuống phù trì quốc vương”.
(1175)- Thổ thần lại bảo rõ ràng:
“Quốc vương đang mắc giữa đường yêu tinh”.
Bàn nhay chiêu tập thiên binh,
Thần quan,thần tướng lệnh hành kíp đi.
Đương niên,Thái Tuế cũng tùy,
(1180)- Hơn một trăm lẻ những vì thần vương.
Mặc áo sắt, đội mũ vàng,
Ngọn cờ chỉ núi Thanh Lương tức thì.
Thiên binh đến động Liễu Hoa,
Bày ra bốn mặt bủa vây trùng trùng.
(1185)- Yêu tinh hai đứa thi hùng,[71]
Thấy thiên binh đến động Liễu Hoa,
Nó thì hóa phép lạ thay,
Mình cai bốn trượng ,sáu tay,ba đầu.
Sài,lang,hổ ,báo như bâu,
(1190)- Nó đi như gió u u cả rừng!
Linh quan thiên tướng mắng rằng:
“Chúng bây loài súc[72],sao chăng nộp mình?”
Hai yêu nó chẳng giao binh[73]
Nó tung lửa độc,cháy xanh lè lè!
(1195)- Nó phun nước độc đen sì,
Phá vào chẳng được,giữ vây ở ngoài.
Long Nữ mới bảo Thiện Tài,
“Phải đi mượn lửa của Hồng Hài Nhi.
Mượn lửa Tam muội thần kỳ,
(1200)- Hai lửa ấy về,mới bắt được ma.
Tôi xin về dưới vua cha,
Lĩnh nước Thủy Phủ giang hà một khi”.
Hai người,hai nẻo đều đi,
Thiện Tài mượn được,Hài Nhi giúp cùng.
(1205)- Long Nữ về đến Thủy Cung,
Mượn được binh thủy đồng lòng đến ngay.
Nước dâng,lửa phóng tư bề,
Hai yêu lúc ấy, lực nguy,thế cùng.
Thanh sư ẩn vào động trung,[74]
(1210)- Bạch tượng cũng trốn vào trong thạch bàn.
Dẹp loài yêu quái đã an,
Thiên binh chủ khách họp hoan tản hồi[75].
Đoạn 24
Phật chúa tìm cứu Trang Vương
Kim Cương bắt loài yêu quái
Yêu tinh nọ đã dẹp rồi,
Vua Trang chưa biết ở nơi đâu là?
(1215)- Đến khi Chúa Phật về nhà,
Thiện Tài kể sự vua cha làm vầy.
Vội vàng lên núi trông mây,
Xem thấy phụ mẫu còn rày hang sâu.
Hai chị với một con hầu,
(1220)- Với quan Thừa tướn âu sầu thương thay!
Chúa lên bạch Phật Như Lai,
Kim Cương,Bát Bộ phụng sai [76] vội vàng.
Xuống tìm các động các hang,
Bắt con yêu ấy,tìm vua Trang rày.
(1225)- Vua Trang,Hoàng hậu thấy ngay,
Còn bốn người nữa nằm mê biết gì.
Chúa cho nước phép giải đi,
Tự nhiên tỉnh lại một khi lại lành.
Đứa Trang nhận rõ chân hình,
(1230)- Rằng: “Ai cứu mình, chẳng lại thầy tăng!
Ơn thầy, khôn xiết nói năng,
Xưa đà trị bệnh,nay chưng trị tà”.
Nói rồi,giọt ngọc tuôn sa,
Không thấy ai dễ yên nhà nước cho!
Đoạn 25
Trang Vương trở về triều
Lòng muốn thăm Hương tích
(1235)- Lão tăng từ tạ về chùa,
Vua với Thừa tướng lại lo việc triều.
Bao nhiêu quân sĩ đi theo,
Doanh kia,vệ nọ đã đều đến đông.
Thoắt thôi,ngự giá về cung,
(1240)- Giữa đường mới biết tin trong Kinh kỳ.
Rằng: “Con Phò mã tiếm vì,
Vua mới tức thì, chỉnh sắc quan,quân.
Quan quân đồng sức đồng lòng.
Tuốt gươm,nạp sung đùng đùng uy linh.
(1245)- Giặc Hà khi ấy bỏ thành,
Trốn về Mâu quốc,một mình nước xa.
Đức Trang chính ngự nước nhà,
Yến diên mở tiệc xướng ca đãi đồng.
Nhà yên,nước trị đã xong,
(1250)- Nhớ ơn Tiên nữ, tấm lòng cảm thay!
Bàn rằng: “Xây tháp,xây đài,
Để vua vọng bái hôm mai báo đền”.
Hoàng hậu nghe nói tâu liền:
Nguyện lòng ta muốn đi lên đến chùa.
(1225)- Ngày xưa bán lộ tái hồi,[77]
Ngày nay ta phải đến nơi mới đành”.
Phán rằng: “Trẫm cũng lòng thành,
Muốn cho đến chốn tạ tình Tiên Nga”.
Lệnh truyền xa giá bày ra,
(1260)- Lại lên Hương Tích đến tòa Tiên đô.
Đoạn 26
Trang Vương lại đến Hương sơn
Cả nhà nhận được Công chúa
Này sự Chúa Phật về chùa,
Cảm ơn thần tướng hộ phù vua cha.
Mới bày quý vật tiên gia,
Rau vàng,mang ngọc để mà tạ ân.
(1265)- Tạ xong các vị tướng thần,
Bỗng nghe ngự giá dần dần đến nơi.
Phật liền phán bản Thiện Tài,
Hóa làm thân người đón rước phân minh.
Phật lại ngồi lên ràng rành,
(1270)- Tiên nữa hóa hình không mắt không tay.
Trần gian chân, giả ai hay,
Dấu máu còn đầy ngọc thể chứa chan.
Đức vua đứng khấn ngoài màn:
“Giã ơn Tiên nữ muôn vàn tấm thương!
(1275)- Tuy rằng lễ vật tầm thường,
Xin cho soi xét tấc vuông lòng thành”.
Khấn thôi chẳng thấy động hình,
Chẳng thấy nói lại,biết tình làm sao
Trách cùng Hoàng hậu tiêu hao:
(1280)- “Trẫm là vua chúa ngôi cao làm vầy.
Đường xa chẳng ngại đến đây,
Tiên nhân lẳng lặng trẫm nay phiền lòng!
Hay là hiềm trẫm đàn ông,
Hoàng hậu thử đến gần trông thế nào?”
(1285)- Hoàng hậu mới bước chân vào,
Nhác trông chín thực mà đào Chúa Ba.
Khóc lên một tiếng,ngã ra,
Thanh, Âm hai Chúa đến mà nâng lên.
Vội vàng,vua hỏi sự duyên,
(1290)- Tính ra, Hoàng hậu tâu liền rằng vay:
“Thực là Chúa Ba chẳng sai!
Thảo nào ngày trước thấy tay tôi ngờ!”
Vua rằng: “Đem giết ngày xưa,
Hổ tha lên núi bây giờ,còn đâu?”
(1295)- Vua ngờ mới đến tận nơi,
Quả nhiên là Chúa,chẳng sai chút nào!
Dỗ con,nước mắt tuôn trào,
Hỏi rằng: “Đã thác mà sao lại còn?!
Bơ vơ đã chính năm tròn,
(1300)- Làm sao sống được,thì con nói cùng!”
Chúa Ba mới kể thủy chung,[78]
Rằng : “Con dốc lòng tu niệm Phật quy
Cho nên Thượng đế hộ trì,
Phán thần Địa kỳ hòa lốt hổ tinh.
(1305)- Đem vào đến giữa rừng xanh,
Gặp sứ Diêm Đình rước xuống Âm Ty.
Cứu cho tù ngục một khi,
Sự lại đưa về,con lại tái sinh.
Đức Như Lai thấy tu hành,
(1310)- Dẫn cho con đến tụng kinh chùa này.
Chân tu được chín năm chầy,
Chư Thánh tôn rày: Phật Chúa chùa Hương.
Thấy cha phải bệnh phi thường,[79]
Hóa làm Hòa thượng,tìm đường cứu cha.
(1315)- Chẳng ngờ lại gặp yêu ma,
Con lại phải hóa làm hòa thượng ngay.
Nhờ trên đức Phật Như Lai,
Sai tám tướng trời,phá động rước ra.
Nhân vì liều mạnh cứu cha,
(1320)- Khoét hai con mắt,cắt hoà hai tay.
Cho nên lẩn quất làm vầy,
Thấy cha đến rày,nào có biết đâu”.
Đức vua nghe nói thảm sầu,
Ước phép chi mầu cho đủ mắt tay!
(1325)- Tâu rằng: “Lời ước khó thay,
Nhưng người có bụng trời rày cũng tin.
Như cha muốn được con tuyền[80],
Thì cha khấn nguyện hối quá[81] từ đây.
Dốc niềm tu đức,Trời hay,
(1330)- Thì con ắt được mắt,tay lại truyền”.
Đức vua mừng vội khấn liền,
Phật Bà lại hóa tự nhiên tức thời.
Hai tay hai mắt vẹn người,
Hai thân[82],hai chị, đều vui vẻ lòng.
(1335)- Ấy là phép Phật lạ lùng,
Giả làm chước ấy để phòng cứu cha.
Kinh Lăng Nghiêm,Truyện Phật Bà,
Thiên biến vạn hóa, thực là kinh thay.
Cho nên chùa tạo tượng Ngài.
(1340)- Làm ra nghìn mắt,nghìn tay bởi vầy.
Nghìn tay nghìn mắt thiên thay,
Sắc Không Không Sắc,ai hay mà dò.
Thấy cha báng đạo, đốt chùa,
Phải làm thế ấy, để cho hết ngờ.
Đoạn 27
Trang Vương tỉnh ngộ cải hối quy thiền
Pháp Phật linh thông hóa độ yêu quỷ
(1345)- Đức vua đã được ơn nhờ,
Tu nhân từ ấy,lòng lo với lòng.
Chúa Ba lại tâu cửu,trùng:
“Dạy về lấy chồng hay để ở đây?”
Vua rằng: “Đừng nói làm vầy,
(1350)- Con có tu rày mới cứu được cha!”
Lại truyền tả hữu gần xa,
Ai cũng niệm đức Thích Ca trên đời.
Trẫm nay ơn Bụt, ơn Trời,
Trẫm ở chốn này,ai về mặc ai.
(1355)- Truyền đòi Thừa tướng nhường ngôi.
Các quan khóc tạ một thôi trở về.
Đức vua cùng bà Chính phi,
Với hai bà Chúa,trụ trì am tăng.
Phât Bà phán Thiện Tài rằng:
(1360)- “Làm cỗ chay để kính dâng thường ngày”.
Hóa ra lâu các đền đài,
Hai thân,hai chị yên nơi tu hành.
Bốn người đều một bụng thành,
Đức vua càng lại đinh ninh bội phần.
(1365)- Hồi tâm,hồi được quỷ thần,
Bao nhiêu nghiệp chướng nợ nần rửa thanh.
Lúc ấy, hai đứa yêu tinh,
Phật Tổ bắt được gia hình nặng thay!
Phật Bà trông thấy thương vay,
(1370)- Lại lên xin đức Như Lai lĩnh về.
Cũng dung[83] cho ở gần kề,
Dạy theo đạo Phật,quy y tháng ngày.
Pháp Ngài,kể nhiệm mầu thay,
Dỗ được người ác đến loài quỷ tinh.
Đoạn 28
Ngọc hoàng sắc phong lên ngôi Phật
Toàn gia chép nhập dòng Tiên
(1375)- Xảy nghe có sắc Thiên Đình,
Kim Tinh vâng mệnh phụng hành ban đi.
Khen rằng: “Đại từ Đại bi,
Cứu khổ cứu nạn, đức dày ơn xa!
Trần gian thiện ác chính tà,
(1380)- Lắng tai,liếc mắt thoắt đà thấu hay.
Nam mô linh cảm thiêng thay,
Liên hoa bảo tọa,chính vì thiền lâm!”
Sắc phong là Quan Thế Âm,
Phổ Đà Nham,cả bể Nam mình Ngài.
Sắc rằng:
Thượng đế sắc phong : Đại Từ Đại Bi
Cứu Khổ Cứu Nạn.Nam Mô Linh Cảm
Quán Thế Âm Bồ Tát,tứ dữ liên hoa
bảo tọa,nhất phó vĩnh tác Nam Hải Phổ Đà
Nham Đạo tràng chi chủ.
(Diễn Nôm):
Thượng đế sắc phong đức Chúa Bà là:
Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn,Nam Mô
Linh Cảm Quán Thế Âm Bồ tát,ban tặng
toà báu hoa Sen,trao phó vĩnh viễn làm chủ
Đạo tràng núi Phổ Đà biển Nam Hải.
(1385)- Chúa Thanh,Chúa Âm hai người,
Khi gặp yêu quái,chẳng rời lòng trinh.
Lại hay mộ đạo tu hành,
Cho nên Trời chứng lòng thành phong cho.
Diệu Thanh phong là Văn Thù,
(1390)- Diệu Âm,cũng được phong cho Phổ Hiền.
Thoát trần nhơ, được cõi tiên,
Đại Thiện Bồ-tát, được liền cả đôi[84].
Thanh sư, Bạch Tượng hai yêu,
Cho ngồi lên đó dạy theo tính lành.
(1395)- Văn Thù cưỡi con sư xanh,
Phổ hiền tượng trắng,rành rành sắc ban.
Sắc rằng:
Thượng đế sắc phong:Diệu Thanh vi
Đại Thiện Văn Thù Bồ tát,tứ dữ Thanh
Sử,xuất nhập kị tọa.Diệu Âm vi Đại
Thiện Phổ Hiền Bồ-tát,tứ dữ Bạch
Tượng,xuất nhập kị tọa,Vĩnh tác Thanh
Lương sơn Đạo tràng chi chủ.
(Diễn Nôm):
Thượng đế sắc phong: Diệu Thanh Công chúa Đại Thiện Văn Thù Bồ -tát,ban tặng con Thanh Sư để cưỡi ngồi ra vào.Diệu Âm Công Chúa Đại Thiện Phổ Hiền Bồ-tát,ban tặng con Bạch tượng để cưỡi ngồi ra vào.Vĩnh viễn làm chủ đạo tràng núi Thanh Lương.
Vua Trang là Đô tiên quan,
Thiện Thắng Bồ-tát, được nhàn tâm thân.
Hoàng hậu là Đô phu nhân,
(1400)- Khuyến Thiện Bồ-tát muôn phần phúc chung.
Thiện Tài,Long Nữ có lòng,
Trời sắc Kim Đồng,Ngọc Nữ phong cho.
Một nhà vinh hiển thơm tho,
Thiên trường địa cửu phụng thờ lửa hương.
(1405)- Khắp ngoài bốn bể bốn phương,
Đâu đâu cũng cúng dàng kính tin.
Sở nguyền,cầu ắt như nguyền,
Cảm ứng liền liền, đội đức Chí Tôn.
Dẫu cho nước cạn đá mòn,
(1410)- Hương Sơn Nam Hải vẫn còn dấu thiêng!
Đoạn 29
Ca tụng công đức,khuyên răn người đời
Phật Bà,Ngài vốn tự nhiên,
Hóa thân biết mấy mươi nghìn ức du!
Nguyên là Bồ-tát thuở xưa,
Hiện làm Công chúa độ cho xa gần.
(1415)- Trên thì Hiếu báo người thân,
Dưới thì Nhân cứu cõi trần,cõi ma.
Có thân ngồi núi Phổ Đà,
Thân lên trên Phậ,thân qua dưới đời.
Thần thông nghìn mắt nghìn tay,
(1420)- Phổ môn hiện để độ loài ngu mông[85].
Vẫn là Sắc,vẫn là không,
Hóa thân chấp tướng đàn ông, đàn bà.
Bảo-đài-liên chín thức hoa.
Gió Nhân mưa Pháp khắp hòa chúng sinh.
(1425)- Lên trời xuống đất xoay quanh,
Bao nhiêu khổ nạn,tầm thanh hộ trì[86].
Cho nên Phật hiệu làm vầy.
Nghe tiếng người khấn ứng ngay cứu liền
Chỉn vì ngu tục chẳng tin,
(1430)- Tin mà thành ít thì duyên phúcnào.
Ai hay tin kính trông vào,
Chữ Nhân,chữ Hiếu chẳng nao tấm lòng
Dẫu khi có chút ngại ngùng,
Khấn cầu Ngài đã ứng trong khấn cầu.
(1435)- Trăm năm dẫu đến mai sau,
Có Ngài chứng quả,chẳng lo não phiền
Dẫu cho lên Phật lên Tiên,
Xiết bao là phúc là duyên muôn đời.
Nôm na xin diễn tích Ngài.
(1440)- Cho người ít chữ,nhớ lời kính tin.
(Thích Viên Thành sưu lục,NXB.KHXH 1996)
Sách tham khảo
1-Lĩnh Nam Chích Quái của Trần Thế Pháp,bản dịch của Lê Hữu Mục,Khai Trí xb tại SG năm 1961.
2-Kho tàng Truyện Cổ tích Việt Nam của Nguyễn Đổng Chi,KHXH xb tại HN năm 1974,tập I,II,III,IV,v.
3-Tiến cười Dân gian Việt Nam của Trương Chính và Phong Châu,KHXH xb tại HN năm 1979.
4-Việt Nam Văn học Toàn thư của Hoàng Trọng Miên ,do Văn Hữu Á Châu xb tại SG năm 1958.
5-Truyện Cổ Nước Nam của Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc,tập I.II do Thăng Long xb tại SG năm 1958.
6-Truyện Cổ Mường,Sưu tầm và biên soạn Hoàng Anh Nhân,Vương Anh,Bùi Thiện,VHDT xb tại HN,năm 1978.
7-Truyện Cổ Việt Nam,tập 4,Nxb.KHXH năm 1983.
8-Truyện Cười dân gian,Nxb.VH,1985.
9-Truyện Cổ Việt Nam,tập 1,2,Nxb.VH,1983.
10-Văn nghệ Dân gian,tập 2,Nxb.QNĐN,1984.
11-Truyện cổ tích Việt Nam,Nxb Đà Nẵng,2000.
12-Cổ tích và thắng cảnh Hà Nội của Doãn Kế Thiện,Nxb.Hà Nội,1999.
13-Chuyện đi Sứ,tiếp Sứ ngày xưa của Nguyễn Thế Long,Nxb.TT-VH,2001.
14-Thiền Uyển Tập Anh,Lê Mạnh Thát dịch,Nxb.Tp.HCM,1999.
15-Côn Sơn dự tích và truyền thuyết,Sở VHTT Hải Dương,2001.
16-Sự tích Trúc Lâm Tâm Tổ của Nguyễn Thi,Hội Văn nghệ Uông Bí tái bản lần 7.
17-Thức Biến của HT.Thích Thiện Siêu,Nxb.Tp.HCM,2002.
18-Nghìn năm bia miệng của HUỳnh Ngọc Trảng-Trương Ngọc Tường,Nxb.Tp.HCM,1993.
19-Điển tích Văn học,Mai ThụcĐỗ Đức Hiền,Nxb.GD.1966.
20-Sự tích Phật Nam Hải Quan Âm Diễn ca,Nxb.KHXH,1996.
21-Tục thờ thần ở Huế của Huyèn Đình Kiết,Nxb.Thuận Hoá 1998.
22-Việt Điện U Linh của Lý Tế Xuyên,Nxb.VH 2001.
23-Thánh Tông Dị Thảo Khuyết Danh,Nxb.VH 2001.
24-Vũ Trung Tùy Bút,Phạm Đình Hổ,Nxb.VH.2001.
25-Văn học Việt Nam, Đinh Gia Khánh,Nxb GD 2001.
26-Việt Nam Cổ văn học sử,Nguyễn Đổng Chi,1942,Hà Nội.

-------------


CHÚ THÍCH


[1] Theo Trúc Lâm Tịc Đặng,Nam Hải Quan Âm bản hành quốc ngữ (nôm),bản in năm Tự Đức thứ 3 (1850).
[2] Theo De Groot,những lễ lạc hàng năm cử hành ở E-mu-y (thuộc Phúc Kiến,Trung Quốc).
[3] Nguyễn Đổng Chi,KTTCTVN,tập 2,tr.138,NXB.GD,2000.
[4] Chỉn (từ cổ):chỉ,riêng.
[5] Trì: chậm,muộn màn.
[6] Tạ quá:xin nhận lỗi lầm.
[7] Hậu: nhiều, đầy đặn.
[8] Tồi tàn chẳng dung:hủy diệt tan nát không tha
[9] Nhụ gia:dân lành yếu đuối.
[10] Xung thiên: xông lên tận trời.
[11] Thi thị:nhà họ Thi.
[12] Sớ điệp:văn từ dâng lên Thượng đế.
[13] No ngày: đủ ngày.
[14] Dời dời:tươi tốt, đầy sức sống.
[15] Dời dời:tươi tốt, đầy sức sống.
[16] Nguyên chữ húy: Diệu Thiện. Ở đây tác giả so sánh chúa Ba xinh đẹp như Hằng Nga trên cung trăng.
[17] Xuân viên:vườn xuân,vườn hoa ngày xuân.
[18] Báo đức sinh nên: báo đền ân đức cha mẹ sinh ra mình.
[19] Toan: lo liệu,sắp đặt.
[20] Ban đầu trống ba: lúc tiếng đồng hồ cầm canh điểm vào đầu canh ba,lúc khoảng 12 giờ đêm.
[21] Ly: lìa, xa cách.
[22] Sự yến: việc mở yến tiệc,nói việc sau buổi tiệc hôm trước,hai Phò mã không chầu chực vua mà lại bỏ về phòng riêng,nên đức vua không còn tin dùng nữa.
[23] Hộ:gìn giữ,cứu giúp.
[24] Nhật nhật tu thân: Môt ngày tu thân tích đức.
[25] Cần quyền: chân thành,thực thà.
[26] Đam:ham mê,say đắm.
[27] Minh đồ: cõi âm ty, địa ngục
[28] Đồng: giống nhau. Ý nói,thân hình giống nhau nhưng suy nghĩ không giống nhau.
[29] Tử tế lời: nói lời tử tế, đúng mức.
[30] Hậu viên: vườn sau.
[31] Kim lâu:lầu vàng.
[32] Chấp lấy nhân chính:thi hành chính sự nhân đức phò vua giúp nước
[33] Tự biên: bên cạnh chùa.
[34] Mảng (từ cổ): nghe thấy.
[35] Kíp hồi:quay trở lại
[36] Nói chẳng vào:khuyên giải Chúa Ba không chịu nghe theo.
[37] Nao:nao núng,chán nản.
[38] Trù phòng:nhà bếp.
[39] Trăm việc một khắc:trong khoảnh khắc làm xong hằng trăm công việc.
[40] Dời dời (từ cổ): mạnh mẽ,tốt tươi.
[41] Đòi (từ cổ): nhiều.
[42] Không trảm thì giảo:không chém thì cắt cổ giết chết.
[43] Eo óc:kêu la.
[44] Bỏ giấy chữ kinh:hủy bỏ giấy tờ có in chữ kinh Phật.
[45] Cối đâm:bỏ vào cối,lấy chày giã cho đau đớn.
[46] Hiếp kẻ cô quả: ức hiếp người cô đơn,góa bụa.
[47] Cơ thâm: âm mưu hiểm độc.
[48] Kiên:bền vững.
[49] Chân ngất:cao chót vót.
[50] Tam phủ: Thiên phủ, Địa phủThủy phủ.
[51] Kiếp nhân:kẻ cướp.
[52] Lý ngư:cá chép.
[53] Nỡ hoài: nỡ giết hại mất
[54] Sai viên:viên quan nhận lệnh sai phái.
[55] Dữ dàng:liều lĩnh,bừa bãi.
[56] Làm hoàn: làm thành viên thuốc.
[57] Điều: hoà tiện.
[58] Cứ lời:nghe theo tôi.
[59] Vào đền: vào đền đài nơi vua ở.
[60] Phó:giao phó cho.
[61] Tra tay: tay cầm dao đưa đến cắt tay Chúa Ba.
[62] Đồ: bôi,xoa.
[63] Còn y: vẫn y nguyện như thế, ý nói chưa khỏi bệnh.
[64] Đã (từ cổ)khỏi bệnh.
[65] Băng chừng hồi gia: lập tức quay về.
[66] Chính sắc:nghiêm sắc mặt.
[67] Khẳng khẳng:chối từ.
[68] Phong sinh: gió nổi lên.
[69] Giặc pha: giặc giã chà đạp,phá phách.
[70] Muôn:vạn.
[71] Thi Hùng:ra oai,trổ tài.
[72] Loài súc:quân súc vật.
[73] Giao binh: đánh nhay giáp mặt.
[74] Động trung: trong động.
[75] Họp hoan tản hồi:họp mặt mừng vui chiến thắng rồi chia tay ra về.
[76] Phụng sai:vâng theo lệnh sai phái.
[77] Bán lộ tái hồi: đi được nửa đường lại quay trở về.
[78] Thủy chung: trước sau, đầu đuôi câu chuyện.
[79] Phi thường: khác với bình thường, ý nói mắc phải bệnh hiểm nghèo.
[80] Tuyền: trọn vẹn,hoàn toàn.
[81] Hối quá:sửa chữa lỗi lầm.
[82] Hai thân:cha mẹ.
[83] Dung:bao dung,dung thứ.
[84] Được liền cả đôi: ý nói cả hai Công chúa Diệu Thanh,Diệu Âm đều được thoát tục thành Tiên Phật.
[85] Ngu mông:tối tăm,u mê.
[86] Tầm thanh hộ trì:nghe tiếng chúng sinh kêu khổ bèn tìm đến.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 239)
Cảm Đức Từ Bi - tác giả Huỳnh Kim Quang
(Xem: 422)
Một bản dịch về Thiền Nhật Bản vừa ấn hành tuần này. Sách nhan đề “Thiền Lâm Tế Nhật Bản” của tác giả Matsubara Taidoo. Bản Việt dịch do Hòa Thượng Thích Như Điển thực hiện.
(Xem: 458)
Tuyển tập “Bát Cơm Hương Tích” của Thượng Tọa Thích Nguyên Tạng là một phần lớn của đời tác giả, ghi lại những gì Thầy mắt thấy tai nghe một thời và rồi nhớ lại...
(Xem: 1330)
Quyển sách "Hãy làm một cuộc cách mạng" trên đây của Đức Đạt-lai Lạt-ma khởi sự được thành hình từ một cuộc phỏng vấn mà Ngài đã dành riêng cho một đệ tử thân tín là bà Sofia Stril-Rever vào ngày 3 tháng giêng năm 2017.
(Xem: 1942)
THIỀN QUÁN VỀ SỐNG VÀ CHẾT - Cẩm Nang Hướng Dẫn Thực Hành - The Zen of Living and Dying A Practical and Spiritual Guide
(Xem: 1326)
Mùa An Cư Kiết Hạ năm 2016 nầy tôi bắt đầu viết tác phẩm thứ 67 để sang năm 2017 xuất bản với nhan đề là "Nước Mỹ bao lần đi và bao lần đến"
(Xem: 1643)
Người đứng mãi giữa lòng sông nhuộm nắng, Kể chuyện gì nơi ngày cũ xa xưa, Con bướm nhỏ đi về trong cánh mỏng, Nhưng về đâu một chiếc lá xa mùa (Tuệ Sỹ)
(Xem: 4600)
TĂNG GIÀ THỜI ĐỨC PHẬT Thích Chơn Thiện Nhà xuất bản Phương Đông
(Xem: 6622)
Người học Phật có được một tài liệu đầy đủ, chính xác, đáng tin cậy, dễ đọc, dễ hiểu, dễ nhớ và dễ tra cứu khi cần...
(Xem: 2120)
Tác phẩm nầy chỉ gởi đến những ai chưa một lần đến Mỹ; hoặc cho những ai đã ở Mỹ lâu năm; nhưng chưa một lần đến California...
(Xem: 2276)
Từ Mảnh Đất Tâm - Huỳnh Kim Quang
(Xem: 2236)
Một năm lại sắp trôi qua với những vết tích điêu tàn, khổ nạn để lại trên khắp trái đất. Nhìn lại, chúng ta không khỏi giật mình, và chạnh lòng thương tưởng
(Xem: 1834)
Chung trà cuối năm uống qua ngày đầu năm. Sương lạnh buổi sớm len vào cửa sổ. Trầm hương lãng đãng quyện nơi thư phòng..
(Xem: 2378)
Một năm lại sắp trôi qua với những vết tích điêu tàn, khổ nạn để lại trên khắp trái đất. Nhìn lại, chúng ta không khỏi giật mình, và chạnh lòng thương tưởng
(Xem: 2249)
Nước lũ từ thượng nguồn cuồn cuộn đổ về, lại thêm nước từ đập thủy điện ồ ạt xả ra. Dân không được báo trước.
(Xem: 2186)
Trải hơn 25 thế kỷ, Chánh Pháp của Phật vẫn được tuyên dươnglưu truyền bởi hàng đệ tử xuất gia lẫn tại gia, đem lại giải thoátgiác ngộ cho...
(Xem: 3146)
Là người mới bắt đầu học Phật hoặc đã học Phật nhưng chưa thấm nhuần Phật pháp chân chính, chúng tôi biên soạn...
(Xem: 2548)
Hôm nay là ngày 10 tháng 6 năm 2015, tại thư phòng chùa Viên Giác Hannover, Đức Quốc, tôi bắt đầu viết tác phẩm thứ 65 của mình...
(Xem: 2404)
Bắt đầu vào hạ, trời nóng bức suốt mấy ngày liền. Bãi biển đông người, nhộn nhịp già trẻ lớn bé. Những chiếc...
(Xem: 4168)
Phật giáo ra đời từ một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại - Ấn Độ - và nhanh chóng phổ biến tại các nước phương Đông...
(Xem: 9540)
Trong tập sách nhỏ này tôi đã bàn đến hầu hết những gì mọi người đều công nhậngiáo lý tinh yếu và căn bản của Đức Phật... Con Đường Thoát Khổ - Đại đức W. Rahula; Thích Nữ Trí Hải dịch
(Xem: 21185)
Tôi cảm động, vì sống trong đạo giải thoát tôi đã tiếp nhận được một thứ tình thiêng liêng, trong sáng; một thứ tình êm nhẹ thanh thoát đượm ngát hương vị lý tưởng...
(Xem: 8093)
Tập sách do Minh Thiện và Diệu Xuân biên soạn
(Xem: 10768)
Phật GiáoVũ Trụ Quan (PDF) - Tác giả: Lê Huy Trứ
(Xem: 6059)
Hạnh Mong Cầu (sách PDF) - Lê Huy Trứ
(Xem: 7470)
Đọc “Dấu Thời Gian” không phải là đọc sự tư duy sáng tạo mà là đọc những chứng tích lịch sử thời đại, chứng nhân cùng những tâm tình được khơi dậy trong lòng tác giả xuyên qua những chặng đường thời gian...
(Xem: 4362)
Báo Chánh Pháp Số 48 Tháng 11/2015
(Xem: 6434)
Nguyệt san Chánh Pháp Tháng 10 năm 2015
(Xem: 4251)
Báo Chánh Pháp Số 46 Tháng 9/2015 - Chuyên đề Vu Lan - Mùa Báo Hiếu
(Xem: 22060)
Phương Trời Cao Rộng - Truyện dài của Vĩnh Hảo, Chiêu Hà xuất bản tại California, Hoa Kỳ năm 1993, tái bản năm 1995
(Xem: 3957)
Tiếng nói của những người con Phật có tấm lòng từ bi và trí tuệ đi vào đời...
(Xem: 4944)
Báo Chánh Pháp - bộ mới Số 43, tháng 06 năm 2015
(Xem: 4689)
Hy hữu, vì biết lấy Phật giáo làm lý tưởng đời mình và chọn sự thực hành Phật Pháp như là sinh hoạt nền tảng hàng ngày
(Xem: 6578)
Nguời quân tử ra làm quan đi vào con đường hành chính, không những ngồi ung dung nơi miếu đường nói truyện văn nhã, để lấy tiếng là người có đức vọng...
(Xem: 3953)
Báo Chánh Pháp Số 41 Tháng 4/2015
(Xem: 4497)
Tuyển tập những bài viết về mùa Xuân trong nền văn hóa Phật giáo Việt Nam. Giai Phẩm Xuân Ất Mùi 2015...
(Xem: 8742)
Những ngữ cú của Sư được chép rải rác trong trứ tác của các nhà, nhưng chưa được gom tập. Cho nên vào niên hiệu Nguyên Văn, thiền sư Huyền Khế biên tập và đặt tên là Động Sơn Lục, tàng bản tại Bạch Hoa Lâm.
(Xem: 11205)
Thiền Lâm Bảo Huấn đây chính là phần Ngữ lục. Nội dung của sách Bảo Huấn được chia thành 4 quyển, gồm gần 300 thiên. Mỗi thiên đều là những lời vàng ngọc để răn dạy về cách tu tâm xử thế...
(Xem: 10082)
Quyển Luận này về hình lượng rất bé bỏng, nhưng về phẩm chất thật quí vô giá. Một hành giả nếu thâm đạt ý chí quyển Luận này là đã thấy lối vào Đạo.
(Xem: 8165)
Là một sách tự lực của tác giả người Mỹ Dale Carnegie, được viết vào năm 1948. Bản Việt Ngữ do Nguyễn Hiến Lê dịch năm 1955 tại Sài Gòn và đưa vào tủ sách Học làm người.
(Xem: 12568)
Để góp nhặt hết tất cả những ý niệm tác thành tập sách nhỏ “Tâm Nguyên Vô Đề” này là một lời sách tấn, khuyến khích của Thiện hữu tri thức để lưu dấu một cái gì. Cái uyên nguyên của Tâm... Nguyên Siêu
(Xem: 9545)
“Phật pháp trong đời sống” của cư sĩ Tâm Diệu là tuyển tập về mười hai chuyên đề Phật học gắn liền với đời sống của người tại gia.
(Xem: 9535)
Gió không từ đâu tới; gió cũng đã chẳng đi về đâu. Gió hiện hữu, rồi gió tan biến, xa lìa. Tử sinh cũng như thế. Tuy có đó, tuy mất đó
(Xem: 8263)
Đa số Phật tử Việt Nam thường chỉ học hỏi Phật pháp qua truyền thống Trung Hoa; ít ai để ý đến sự sai biệt căn để giữa khởi nguyên của Phật giáo từ Ấn Độ
(Xem: 15071)
Trăng bồng bềnh trên ngàn thông Và thềm đêm vắng lạnh, khi âm xưa trong veo từ các ngón tay anh đến. Giai điệu cổ luôn khiến người nghe rơi nước mắt, nhưng nhạc Thiền ở bên kia tình cảm.
(Xem: 6986)
Tay Bụt trong tay ta có nghĩa là ta được nắm tay Bụt mà đi. Cũng có nghĩa là trong tay ta đã có tay Bụt. Bụt và ta không còn là hai thực tại riêng biệt.
(Xem: 31345)
“Teachings from Ancient Vietnamese Zen Masters” là bản dịch tiếng Anh nhiều bài thơ, bài kệ và bài pháp của chư tôn thiền đức Phật Giáo Việt Nam từ ngài Khương Tăng Hội ở thế kỷ thứ 3 sau Tây Lịch...
(Xem: 9687)
Chư Phật cùng tất cả chúng sanh chỉ là một tâm, không có pháp riêng. Tâm nầy từ vô thủy đến nay không từng sanh không từng diệt...
(Xem: 5451)
Bộ Tịnh Độ Thánh Hiền Lục do cư sĩ Bành Tế Thanh cùng cháu là Hy Tốc, người đời Càn Long nhà Thanh sưu tập những truyện niệm Phật được vãng sanh soạn thành.
(Xem: 4971)
Tâm là nguồn sống vô tận và ánh sáng của tâm là ánh sáng vô tận. Tâm lắng yên phiền nãotâm bình đẳng và thanh tịnh vô tận.
Quảng Cáo Bảo Trợ