Logo Hanh Huong
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
14,271,226
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Kinh Tát Bát Đa Tô Lý Du Nại Đã

14 Tháng Mười Một 201300:00(Xem: 7331)
Kinh Tát Bát Đa Tô Lý Du Nại Đã


PHẬT NÓI KINH TÁT BÁT ÐA TÔ LÝ DU NẠI DÃ


Đại Chánh Tân Tu số 0030 - Nguyên tác Hán ngữ [1]

Hán dịch: Ðời Tống, Tây Thiên dịch kinh Tam tạng Triều Tán Ðại phu Thí Quang Lộc Khanh, Minh giáo đại sư Pháp Hiền phụng chiếu.

Việt dịch: Thích Chánh Lạc

--- o0o ---

Tôi nghe như vầy:

Một thời đức Phật ở tại tinh xá Lâu Các, giếng Viên Hầu, nước Tỳ Xá Ly. Bấy giờ đức Thế Tôn bảo các Bí sô:

–Các ngươi nay hãy lắng nghe cho kỹ: “Các hành là vô thường, là pháp sanh diệt, nó không chắc, không thật, không có rốt ráo, không thể gánh vác, không thể ưa thích”. Các ngươi nên biết, phải siêng năng tinh tấn để cầu giải thoát. Này Bí sô, thời gian không thể dừng lâu, nó thay đổi trong từng niệm.

Từ nay về sau, lúc kiếp sắp hết, trời không có mưa, nhân gian bị hạn hán; toàn cả đại địa, tất cả cây cối, rừng rú, trăm thứ lúa mạ, tất cả hoa quả đều bị khô rang, đều không thành tựu.

Này Bí sô, hãy nên biết rằng: “Các hành là vô thường, là pháp sanh diệt, nó không chắc, không thật, không rốt ráo, không thể gánh vác, không thể ưa thích”. Các ngươi hãy nên gia sức tinh tấn để cầu giải thoát.

Này Bí sô, lúc kiếp sắp hoại có hai mặt trời xuất hiện thiêu đốt thế gian, sức nóng càng ngày càng tăng, toàn cõi đại địa các thứ cây cối, rừng rú, rễ, cành, nhánh, lá tất cả đều bị hủy hoại chẳng còn gì cả. Này Bí sô, sự vô thường như vậy, không thể bảo tồn lâu dài được. Nay đây các ngươi phải nên ra sức tinh tấn để cầu giải thoát.

Lại nữa, này Bí sô lúc kiếp sắp hoại có ba mặt trời xuất hiện thiêu đốt thế gian, sức nóng dữ dội hơn trước, toàn cõi đại địa, các sông ngòi nhỏ, tất cả khe suối đều bị khô cạn không còn chút nước. Bí sô nên biết, sự vô thường là như vậy, ai mà thoát được? Cho nên nay ta ân cần khuyên bảo, các ngươi hãy mau cầu giải thoát.

Này Bí sô lúc kiếp sắp hoại có bốn mặt trời xuất hiện thiêu đốt thế gian, sức nóng dữ dội hơn trước, toàn cõi đại địa không có ao nước nào không bị nung nóng. Bốn dòng sông lớn: sông Hằng, sông Tín Ðộ, sông Tế Ða, sông Pha Sô, tất cả đều bị khô cạn, không còn chút nước. Các Bí sô nên biết, vô thường như vậy, ai mà thoát khỏi? Các ngươi hãy tự tư duy, không còn tâm giải đãi ngạo mạn nữa, để sớm cầu giải thoát.

Này Bí sô lúc kiếp sắp hoại có năm mặt trời xuất hiện thiêu đốt thế gian, sức nóng dữ dội hơn trước. Nước của biển lớn trong đại địa dần dần rút xuống một trăm do tuần, hai trăm do tuần, ba trăm do tuần, cho đến một ngàn do tuần. Lúc mặt trời đã thiêu đốt dữ dội, cả bầu trời gieo rắc sự tàn hại. Lại nữa, nước biển giảm xuống cho đến hai ngàn do tuần, ba ngàn do tuần, cho đến bảy ngàn do tuần, đã giảm như vậy rồi, các nguồn nước khác ở trong biển cũng chỉ còn bảy ngàn do tuần.

Này Bí sô, như vậy nước biển từ bảy ngàn do tuần dần dần lại giảm xuống cho đến sáu ngàn do tuần, năm ngàn do tuần, bốn ngàn do tuần, cho đến còn có bảy trăm do tuần.

Này Bí sô, như vậy nước biển từ bảy trăm do tuần dần dần lại giảm xuống cho đến sáu trăm do tuần, năm trăm do tuần, bốn trăm do tuần, cho đến còn có bảy do tuần.

Này Bí sô, như vậy nước biển từ bảy do tuần dần dần lại giảm xuống cho đến sáu do tuần, năm do tuần, bốn do tuần, cho đến còn có bảy do tuần.

Này các Bí sô, như vậy nước biển từ bảy do tuần dần dần lại giảm xuống cho đến sáu do tuần, năm do tuần, bốn do tuần, cho đến còn có bảy câu lô xá.

Này các Bí sô, như vậy nước biển từ bảy câu lô xá dần dần lại giảm xuống cho đến sáu câu lô xá, năm câu lô xá, bốn câu lô xá, cho đến còn có bảy cây đa la.

Này các Bí sô, như vậy nước biển từ bảy cây đa la dần dần lại giảm xuống cho đến sáu cây đa la, năm cây đa la, bốn cây đa la, cho đến bằng bảy người đứng.

Này các Bí sô, như vậy nước biển từ bảy người đứng dần dần lại giảm xuống sáu người đứng, năm người đứng, bốn người đứng, cho đến còn một người đứng, rồi đến cổ người, đến hông người, đến rốn người, đến eo người, đến đầu gối, đến mắt cá người, cho đến còn một ngón chân tức thì đại địa khô cháy. Bấy giờ thế gian chỉ có đại địa, núi sông, ngoài ra thì chẳng còn gì nữa cả.

Ðức Phật dạy:

–Này Bí sô, các hành là vô thường, sanh diệt, không đứng yên, không thật, không bền chắc. Các ngươi đối với chúng nên sớm cầu giải thoát.

Này Bí sô lúc kiếp sắp hoại có sáu mặt trời xuất hiện, cả đại địa đốt cháy, núi đá tiêu chảy, núi chúa Tu Di bốc khói như nung gạch ngói có khói đen bốc lên cũng lại như vậy. Bấy giờ thế gian không thể nào quán sát được. Này Bí sô, vô thường sanh diệt, không trụ như vậy. Các ngươi nên gia tâm tinh tấn, bỏ tâm tham ái, mau cầu giải thoát.

Này Bí sô lúc kiếp sắp hoại có bảy mặt trời xuất hiện, sức nóng dữ dội, bỗng nhiên lửa cháy bừng bừng như đốt mười đống củi, trăm, ngàn, vạn đống củi, cho đến tiểu thiên thế giớichư thiên Lục dục đều thành một đám lửa, thiêu đốt dục giới rồi đến cõi Sơ thiền của Phạm Thế, ngọn lửa cũng tự bốc cháy thiêu đốt cung điện cao một trăm do tuần, hoặc hai trăm do tuần, ba trăm do tuần, cho đến bảy ngàn do tuần của khí thế giới. Cung điện như vậy đều thành một đám lửa, cho đến Nhị thiền. Các Phạm chúng mới sanh lên thấy ngọn lửa bừng bừng ở phía dưới, trong lòng hết sức kinh sợ hãi hùng, tìm cách tránh hỏa nạn. Khi ấy những vị trời sanh trước ở Nhị thiền bảo rằng:

-Các ngươi đã được thiện duyên đời trước mà sanh đến cung điện của ta, hãy tự an tâm, chớ sanh lòng khiếp sợ. Lửa của địa cầu dưới đây không bao lâu nữa sẽ tự tắt.

Nói như vậy xong, bỗng nổi gió lớn thổi tắt khói lửa, không còn tro than gì cả. Thí như có người ở trong hư không lấy dầu bơ đốt thành một ngọn đuốc, đuốc cháy hết rồi không còn khói đen và tro gì cả. Sau khi ngọn lửa diệt rồi cũng lại như vậy.

Ðức Phật dạy:

–Này Bí sô, pháp của hữu vi thì sanh diệt, không trụ, là pháp điên đảo, không bền, không thật, không rốt ráo, không thể an vui. Hãy xa lìa tham ái, sớm cầu giải thoát. Nếu không tham ái thì nhân duyên gì mà đại địa chư thiên bị phá hoại không tồn tại?

Lại nữa, này Bí sô, như kiếp quá khứđức Phật ra đời hiệu là Diệu Nhãn Như Lai, có vô lượng vô biên chúng Thanh Văn và các Phạm thiên, chúng ngoại đạo ly dụcthần thông. Ðức Diệu Nhãn Như Lai vì các Thanh Văn nói pháp thanh tịnh phạm hạnh, ý nghĩa rốt ráo sâu xa. Bấy giờ các Bí sô... được tất cả giới pháp tròn đầy, tùy ý tu hành, hoặc thực hành pháp quán Tứ vô lượng, đoạn trừ dục nhiễm ô uế, sanh lên trời Phạm thiên. Hoặc có người thích sanh lên trời Tha Hóa Tự Tại, hoặc thích sanh lên trời Hóa Lạc, thích sanh lên trời Ðâu Suất, thích sanh lên trời Dạ Ma, thích sanh lên trời Ðao Lợi, thích sanh lên trời Tứ Thiên Vương, thích sanh vào nhà Sát Ðế Lợi, thích sanh vào nhà Bà la môn, thích sanh vào nhà trưởng giả, cư sĩ.

Bấy giờ đức Như Lai Diệu Nhãn suy nghĩ như thế này: “Nay ta hãy khiến cho các Thanh Văn chúng đồng hạnh nguyện, đồng thọ sanh, đồng một oai lực, nhập vào thiền định thứ hai của đức Từ Thị”. Nghĩ như vậy xong liền nhập vào thiền định thứ hai của đức Từ Thị. Bấy giờ có vô lượng trăm ngàn Thanh Văn, ngoại đạo v.v... đều tu định này, đều được sanh lên trên Phạm Thiên.

Ðức Phật nói:

–Này Bí sô, thuở trước đức Như Lai Diệu Nhãn thật ra chẳng phải đức Phật nào khác, chính là thân ta vậy. Các chúng sanh ấy tuy sanh ở Nhị thiền, thoát khỏi tai nạn lửa cháy ở dưới, nhưng chưa lìa chủng tử tham, sân, si cho nên không thể giải thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết.

Này Bí sô, Như Lai là bậc Ứng Chánh Ðẳng Giác, là thầy của trời, người, đã xa lìa tham, sân, si... tất cả phiền não, đã giải thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết, ưu bi khổ não; lại vì chúng Phạm thiên, Thanh Văn v.v... tùy theo căn cơtuyên thuyết pháp hạnh thanh tịnh. Mọi người nghe xong hoặc có người đoạn tận phân biệt dục và câu sanh, chứng quả A Na Hàm. Hoặc có người phân biệt và ba phẩm câu sanh, chứng quả Tư Ðà Hàm, hoặc có người tuy đoạn tận phân biệt nhưng chưa đoạn câu sanh, chứng quả Tu Ðà Hoàn, thọ quả báo nhân thiên, trải qua bảy lần sanh trở lại nữa mới thành A La Hán.

Ðức Phật dạy:

–Này Bí sô, xuất gia như vậy, Phạm hạnh như vậy, quả chứng như vậy, được thoát ly khỏi biên giới của khổ đau mà được giải thoát. Nay, các ngươi đem hết tâm chí xả ly tham ái, mong cầu con đường giác ngộ.

Bấy giờ đức Thế Tôn thuyết pháp này xong, các Bí sô nghe đức Phật thuyết, trong lòng hết sức hoan hỷ, tín thọ, phụng hành.

 

PHẬT NÓI KINH

TÁT BÁT ÐA TÔ LÝ DU NẠI DÃ

--- o0o ---

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 1313)
Đức Phật A Di Đà tự thân có ánh sáng vô lượng, chiếu khắp cả mười phương mà không có vật gì có thể ngăn che. Vì vậy nên Phật A Di Đà có nghĩa là Vô Lượng Quang Phật.
(Xem: 1359)
Nguyên tác Hán văn: Tì-kheo Linh Diệu, tông Thiên Thai soạn - Dịch sang tiếng Việt: Thích Thọ Phước
(Xem: 1517)
Ngài Buddhaghosa sanh ra và lớn lên nước Magadha, thuộc Trung Ấn Độ, vào thế kỷ thứ V trong ngôi làng Ghosa, gần địa danh nơi đức Phật thành đạo Bodhigaya
(Xem: 1444)
Nghiên Cứu Về Kinh A Hàm (Ãgama, Sanscrist)
(Xem: 2106)
Ai nói như sau, này các Tỷ-kheo: "Người này làm nghiệp như thế nào, như thế nào, người ấy cảm thọ như vậy, như vậy".
(Xem: 1833)
Đây là những điều tôi nghe hồi Bụt còn ở tại tu viện Cấp Cô Độc trong vườn cây Kỳ Đà ở thành Vương Xá.
(Xem: 1809)
Vào thời Đức Thích-ca-mâu-ni, không có hệ thống chữ viết được phổ biếnẤn Độ. Do đó, những thuyết giảng của Ngài được ghi nhớ và ...
(Xem: 2110)
"Lại nữa, lúc bấy giờ Mahāmati thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, ngài đã từng dạy rằng: từ lúc Như Lai chứng nghiệm giác ngộ cho đến...
(Xem: 2553)
Kinh Địa Tạng là một trong các kinh Đại thừa được phổ biến rộng rãi trong quần chúng Việt Nam từ hơn nửa thế kỷ nay song song với các kinh Kim Cương, Di Đà, Phổ Môn...
(Xem: 3120)
Nguyên tác: Tôn giả Thế Thân (Acarya Vasubandhu) - Hán dịch: Tam Tạng Pháp sư Huyền Tráng; Việt dịch: Tỳ khưu Tâm Hạnh
(Xem: 1986)
No. 1613 - Nguyên tác: Tôn giả An Huệ; Dịch Hán: Tam Tạng Pháp sư Địa-bà-ha-la; Dịch Việt: Tâm Hạnh
(Xem: 2838)
Duy thức nhị thập luận, do bồ tát Thế Thân soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường... được thu vào Đại chính tạng, tập 31, No.1590.
(Xem: 2678)
Bồ-tát Trần Na tạo luận. Tam tạng Pháp sư Huyền Trang phụng chiếu dịch. Việt dịch: Quảng Minh
(Xem: 4568)
Nghe như vầy, một thời Đức Phật ở nước Xá Vệ ở vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc cùng chúng đại Tỳ Kheo năm trăm vị. Bấy giờ các thầy Tỳ Kheo...
(Xem: 2895)
No. 699; Hán dịch: Đời Đại Đường, Trung Thiên Trúc, Tam tạng Pháp sư Địa bà ha la, Đường dịch là Nhật Chiếu
(Xem: 3201)
Đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni, bắt đầu chuyển pháp-luân, độ cho năm vị Tỳ-Khưu là Tôn-giả Kiều-Trần-Như v.v... Sau cùng, Ngài thuyết pháp độ cho ông Tu-bạt-đà-la.
(Xem: 2358)
Kinh Phạm Võng nằm trong Đại Chánh Tạng, tập 24, ký hiệu 1484, gọi đủ là Phạm võng kinh Lô xá na Phật thuyết bồ tát tâm địa giới phẩm đệ thập
(Xem: 2979)
Phật thuyết-giảng Kinh Phạm-Võng để dạy về giới-luật, và các pháp cao-siêu vượt thoát được sáu mươi hai kiến-chấp vốn là các tà-kiến đã...
(Xem: 2569)
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana, vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc). Ở đây,,,
(Xem: 3127)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Kinh Tập, Kinh số 0434; Dịch Phạn - Hán: Tam Tạng Cát-ca-dạ, Dịch Hán - Việt và chú: Tỳ-kheo Thích Hạnh Tuệ; Hiệu đính: HT Thích Như Điển
(Xem: 2362)
Đời Đường, Thận Thủy Sa Môn Huyền Giác Soạn; Thánh Tri dịch nghĩa Việt và viết bài học giải...
(Xem: 2725)
Phật giáo được khai sáng ở Ấn-độ vào năm 589 trước kỉ nguyên tây lịch (năm đức Thích Ca Mâu Ni thành đạo), và đã tồn tại liên tục, phát triển không ngừng trên ...
(Xem: 3063)
Trong truyền thống Phật giáo Bắc truyền, Dược Sư là một bản kinh thường được trì tụng nhằm mục đích giải trừ tật bệnh, cầu nguyện bình an...
(Xem: 3101)
Thích-ca là phiên âm của tiếng Phạn. Phiên âm Hán Việt là Năng Nhân. Tức là họ của đấng hóa Phật ở cõi Ta-bà...
(Xem: 3989)
Kinh chuyển Pháp luân là bài thuyết Pháp đầu tiên của Đức Phật Thích-ca sau khi Ngài đã đắc đạo.
(Xem: 3524)
Ba Ngàn Oai Nghi Của Vị Đại Tỳ Kheo - Được xếp vào tập T24 - Kinh số 1470 - Tổng cộng kinh này có 2 quyển
(Xem: 3509)
Những gì xảy ra trong thế giới này đều bị qui luật Nhân quả chi phối. Mọi thứ xuất hiện ở đời đều có nhân duyên. Hạnh phúcthế gian hay Niết bàn của người tu đạo không ra ngoài qui luật ấy.
(Xem: 4028)
Satipatthana Sutta là một bản kinh quan trọng làm nền tảng cho một phép thiền định chủ yếu trong Phật giáo là Vipassana...
(Xem: 3401)
Kinh Tứ Thập Nhị Chương là một bài Kinh được truyền bá khá rộng rải ở các Tồng Lâm Tự Viện của Trung QuốcViệt Nam từ xưa đến nay.
(Xem: 3025)
Bản dịch này được trích ra từ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh Vol. 48, No. 2010. Bởi vì lời dạy của Tổ Tăng Xán quá sâu sắc, súc tích, và bao hàm trong 584 chữ Hán,
(Xem: 3903)
Dịch từ Phạn sang Tạng: Kluḥi dbaṅ-po, Lhaḥi zla-ba; Dịch Tạng sang Việt: Phước Nguyên
(Xem: 4605)
Trí Phật là trí Kim – cang, Thân Phật là thân Kim – Sắc, cõi Phật là cõi Hoàng – kim, lời Phật tất nhiên là lời vàng.
(Xem: 3548)
Bấy giờ Hòa Thượng Vakkali nhìn thấy Đức Phật đang đi đến từ xa, và ông đã cố gắng ngồi dậy.
(Xem: 5941)
Xin dâng hết lên Tam Bảo chứng minh và xin Quý Ngài cũng như Quý Vị tùy nghi xử dụng in ấn tiếp tục hay trì tụng cũng như cho dịch ra những ngôn ngữ khác...
(Xem: 5880)
Niệm Phật Tâm Muội do HT Hư Vân soạn, Sa môn Hiển Chơn dịch; Tọa Thiền Dụng Tâm Ký do Viên Minh Quốc Sư soạn, HT Thích Thanh Từ dịch
(Xem: 4020)
Khi Bồ-tát Quán Tự Tại hành sâu Bát-nhã Ba-la-mật-đa, ngài soi thấy năm uẩn đều KHÔNG, liền qua hết thảy khổ ách.
(Xem: 19948)
Viết ra các bài Phật học thường thức này, chúng tôi không có tham vọng giới thiệu toàn bộ Phật pháp và chỉ cốt giúp cho các bạn sơ cơ hiểu được một cách đúng đắn, đạo lý năm thừa trong Phật giáo mà thôi.
(Xem: 3439)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, Kinh văn số 1675. Tác giả: Long Thọ Bồ Tát; Sa Môn Sắc Tử dịch Phạn sang Hán; HT Thích Như Điển dịch Việt
(Xem: 6823)
Thuở đó đức Phật đang ngự tại rừng Ta-la-song-thọ, ở ngoại ô thành Câu-thi-na, thuộc lãnh thổ trị vì của bộ tộc Lực-sĩ.
(Xem: 4320)
Đức Thế Tôn từ nơi cung trời Đâu-suất sinh xuống thành Ca-duy, chán đời sống dục lạc ở vương cung, thành tựu đạo chơn thường dưới cội cây...
(Xem: 4176)
Kinh Rong Chơi Trời Phương Ngoại là một phẩm của Kinh Pháp Cú Hán tạng có tên là Nê Hoàn Phẩm. Nê HoànNiết bàn (Nirvana, Nibbâna).
(Xem: 3740)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, quyển thứ 32, luận tập bộ toàn, kinh văn số 1637. HT Thích Như Điển dịch
(Xem: 4058)
Đây là kinh Pháp Quán Phạm Chí. Khung cảnh dựng lên cho kinh cũng giống như khung cảnh của kinh thứ mười một...
(Xem: 5507)
Đại Chánh Tân Tu đại tạng kinh, quyển thứ 32, kinh văn số 1680, luận tập bộ toàn. HT Thích Như Điển dịch Việt
(Xem: 4268)
Một thời, đức Bhagavat trú tại Vārāṇasi, nơi xứ Ṛṣipatana, trong rừng Mṛgadāva. Bấy giờ, đức Thế Tôn nói:
(Xem: 3925)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh quyển 32, luận tập bộ toàn, kinh văn 1671; HT Thích Như Điển dịch sang tiếng Việt.
(Xem: 3994)
Kinh Bát Đại Nhân Giác này của Đại Sư An Thế Cao từ nước An Tức sang Trung Quốc vào thời Hậu Hán (năm 132-167 sau công nguyên) soạn dịch.
(Xem: 4091)
Năm nay (2016) trong chương trình của tôi, không dự định đi sang Úc, nhưng ngày 23 tháng 6 năm 2016 vừa qua...
(Xem: 4822)
Tôi được nghe như vầy: một thuở nọ, Đức Thế Tôn đang ngụ tại vườn Nai, ở Isipatana gần Bénarès. Lúc bấy giờ...
(Xem: 3610)
Nay ở nơi chư Phật Chắp tay kính đảnh lễ Con sẽ như giáo nói Tư lương Bồ-đề Phật.
(Xem: 4904)
Lúc bấy giờ, ngài Vô-Tận-Ý Bồ-Tát (1) liền từ chỗ ngồi đứng dậy trịch áo bày vai hữu (2), chấp tay hướng Phật mà bạch rằng:
(Xem: 4871)
Bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (Taisho Shinshu Daijokyo) xuất xứ từ thời Vua Taisho (Đại Chánh) ở Nhật Bản từ đầu thế kỷ thứ 20.
(Xem: 6509)
Có lẽ Lăng Già là một trong những bộ kinh phân tích cái Tâm một cách chi li, khúc chiết nhất trong kinh điển Phật giáo.
(Xem: 4711)
Tôi nghe như vầy. Có một lúc, Đức Phật đã sống ở gần Xá Vệ (Savatthi) trong Khu Rừng Kỳ Đà (Jeta Wood) ở tu viện Cấp Cô Độc
(Xem: 5550)
Đại Chánh Tân Tu Đại tạng Kinh, quyển thứ 32 thuộc Luận Tập Bộ Toàn. Kinh văn số 1641. HT Thích Như Điển dịch
(Xem: 4420)
Thưa Tôn giả Gotama, những ngày về trước, những ngày về trước nữa, rất nhiều Sa-môn, Bà-la-môn là du sĩ ngoại đạo ngồi...
(Xem: 4780)
Lời dạy của Đức Phật được kiết tập thành kinh điển và bảo lưu trong nhiều truyền thốngbộ phái Phật giáo.
(Xem: 16768)
Toàn bộ Đại Tạng Kinh tiếng Việt trên 203 tập đã dịch và in xong...
(Xem: 5361)
Như vầy tôi nghe: Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, ngôi vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ...
(Xem: 5610)
Nếu thấy thân người nữ Cùng với vẻ diễm kiều Người ngu không biết rõ Vọng sinh ý dâm nhiễm.
Quảng Cáo Bảo Trợ