Logo HHAD 2018 250
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
14,867,310
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Quyển Thứ Ba

04 Tháng Mười Hai 201300:00(Xem: 5160)
Quyển Thứ Ba


KINH BẢO TINH ÐÀ LA NI


Đại Chánh Tân Tu, Bộ Đại Tập, số 0402

Nguyên tác: [1] [2] [3] [4] [5] [6] [7] [8] [9] [10]

- Hán dịch: Thiên Trúc Tam Tạng Pháp Sư Ba La Pha Mật Ða La - Ðời Ðường

 - Việt dịch: Tuệ Khai cư sĩ - Phan Rang

Chứng nghĩa: Tỳ Kheo Thích Đỗng Minh

---o0o---


Quyển thứ ba.

 

PHẨM THỨ BA: MA VƯƠNG QUI PHỤC 

Lúc bấy giờ, đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai khi nói Kinh Bảo Tinh Ðà la ni này, phóng ra ánh sáng lớn soi khắp hàng trăm câu chỉ xứ bốn thiên hạ của thế giới Ta Bà này, hết thảy đều rất sáng. Ngay tức thời, hàng trăm câu chỉ xứ của cõi này, các ma cõi Dục, do lực của đức Phật nên đều khởi dậy kinh động, đều nhìn thấy nhân duyên của sự hiện ánh sáng này. Họ đều tác khởi ý niệm rằng: “Nhất định đây là việc làm của ác ma kia. Ðối với bốn thiên hạ ông ấy có uy đức lớn, ông ấy đối với chúng ta có sức đại tự tại nên hiện ra ánh sáng này”. Khi khởi lên ý niệm đó, chúng quan sát thấy ác ma ngồi trong nhà ưu não sinh ra lo hận cùng cực. Bấy giờ, hàng câu chỉ ma của cõi này đều bỏ cung ma kéo đến chỗ vua ác ma của bốn thiên hạ này, nói lên lời như vầy: “Ngài là chủ cõi Dục có lực đại tự tại, phóng ra ánh sáng này soi khắp tất cả mà lại vì nhân duyên gì ngồi trong nhà ưu não?” Ma vương liền đáp cho khắp các ma sở hữu của hàng trăm câu chỉ xứ rằng: “Các người nên biết rằng, đây chính là Sa môn xuất thândòng họ Thích, một người dua nịnh huyễn hoặc số một, đã phóng ra ánh sáng này, soi đến thế giới, tất cả đều kinh động. Người minh tuệ có trong thế gian, các Phạm Thiên vương và các Long vương, Dạ xoa vương, A tu la vương, Ma hầu la già vương, Ca lâu la vương, Khẩn na la vương... cho đến những người, chẳng phải người còn lại ấy. Những bậc thông minh sáng suốt có trong số ấy, tất cả đều qui hướng cúng dường ông Thích Tử đó. Cho đến ông ấy trong sáu năm ngồi một mình không hai, thành tựu được lực huyễn lớn không tướng. Ta dùng sức mình thị hiện thần thông, nghiêm chỉnh xa giá, quân chúng ba mươi sáu câu chỉ người vây quanh giáp vòng, tất cả sức ma sử dụng cần lao lớn. Nhưng rốt cùng chẳng thể khiến cho thủ đà kia kinh sợ một sợi lông, huống gì lại có thể tạo ra chướng ngại khác, lay động pháp tòa của vị đó. Hôm nay Thủ đà này thành tựu pháp huyễn vô tướng như vậy, việc làm của ông ấy thị hiện lay động đại địa này đồng thời làm thoái lui quân của ta. Như cắt rễ cây đại thọ thì cành đều ngã, tất cả ma giới đều tối om còn ở chỗ ngồi ông ấy thành tựu ánh sáng lớn. Từ chỗ ngồi đứng dậy rồi, ông ấy vì các chúng sinh khai thị diễn nói. Những chúng sinh thông minh trí tuệ có trong bốn thiên hạ này cũng đều bị sự dẫn dắt của cái móc huyễn hóa đó. Ta cũng chẳng biết lòng của những người đó ở đâu? Về đâu? Khi nào chết? Sinh ở đâu? Nay sáu đường này đã qui y ông ấy. Ta còn chẳng có thể kinh động được một sợi lông, huống là lại có thể khiến cho động được tín tâm của họ. Năm trăm kỹ nữ vi diệu này của ta và hai vạn người con trai cùng các quyến thuộc đều qui y ông Sa môn Cù Ðàm đang ngồi ở trước đó. Ta, ngày hôm nay chẳng thể ngăn chặn chế ngự. Các ngươi, hôm nay, có sức, có phước, có trí tự tại phải giúp ta chặt đứt mạng sống của tên thủ đà la Thích tử đó. Như có chúng sinh qui y người đó thì đều khiến cho phá tan. Bè đảng đen tối của ông Sa môn dua nịnh huyễn hoặc đều khiến cho hàng phục phe đảng bạch tịnh ma chúng của chúng ta đều khiến cho minh hiển, từ đây về sau sẽ thọ lạc xúc.

Lúc bấy giờ, có ma tên là Quang Minh quan sát cõi Diêm phù này, thấy thân đức Như Lai ở trên pháp tọa, lại nghe Phạm âm mỹ diệu nói pháp. Thấy nghe như thế này rồi kinh sợ dựng tóc gáy, ma ấy hướng về Ma vương kia nói kệ như vầy:

Ở trong tất cả cõi

Sắc này thắng lạ thường

Công đứctrí tuệ

Lâu rồi thân sạch trong.

Giải thoát các phiền não

Lâu dài giỏi tương ưng

Giải thoát khỏi các hữu

Hết sạch mọi lo toan.

Ngài nay chớ sân giận

Tự tại đã chẳng dung

Chỗ này qui y tốt

Ba cõi số một nương.

Nếu ngài ở chỗ ấy

Dấy lên sát na sân

Do sự ngu si đó

Tự đắc vui hoại tan.

Lúc đó, trong chúng, lại có một ma tên là San Nhĩ Nhĩ Ca hướng về Ma vương kia nói kệ như vầy:

Lúc đại thần thông đó

Tướng công đức trên cùng

Tất cả không chỗ nương

Y ấy hướng giải thoát

Khổ hết không có còn

Hay nói đường khổ tận

Trăm ngàn ma không lường

Ðã chẳng thể não loạn.

Lúc đó Ma vương dùng kệ báo rằng:

Ta nay sở hữu người tự tại

Ðại tự tại đó đều qui tùng

Như vậy chẳng lâu cõi ta rỗng

Ta không thú xứ, được cũng không.

(Thú xứ: chỗ hướng về)

Lúc ấy, trong chúng lại có một ma tên là Tân Trần hướng về Ma vương đó nói kệ như vầy:

Thế lực số một ngài có trước

Sở tác ngài tự tại dũng cường

Ngài nay mất sức lại không thể

Nhất thiết trí không được sánh chung.

Bấy giờ, trong chúng lại có một ma tên là Ðao Nguyệt hướng về Ma vương nói kệ như vầy:

Từ bi chúng sinh không ý ác

Tự tại thanh tịnh không chỗ nương

Ba cõi giải thoát chỗ đi dạo

Không thể hại, không thú, không hành

(thú: nơi hướng đến)

Khi đó, Ma vương nói kệ báo rằng:

Chúng sinh sở hữu của cõi Dục

Ðắm các dục, say tình đảo điên

Với việc ta làm thường theo chuyển

Chẳng hại kia (Phật) sao ông đồng tình?

Bấy giờ, trong chúng, lại có một ma tên là Ðịa Thủy hướng về Ma vương kia nói kệ như vầy:

Các hữu như lửa huyễn chẳng bền

Hay biết các hữu đoạn các ái

Chẳng trước (chấp) các hữu như hư không

Sao với vị đó (Phật) hay bức (ép) não.

Lúc ấy, Ma vương nói kệ báo rằng:

Kia (Phật) tuy tự tạiba cõi

Ăn uống, áo mặc luôn tư dùng

Kia (Phật) đối ba thọ đã ưa trụ

Mà sao thần chết chẳng hại tan?

Bấy giờ, trong chúng lại có một ma tên là Xả Ái hướng về vua ma kia nói kệ như vầy:

Thần thông cảnh giớisở hữu

Ác ma, dạ xoa và trời rồng...

Ðủ thứ não hại không chạm Phật

Cái chết làm sao hại Thế Tôn?

Khi ấy, Ma vương nói kệ báo rằng:

Chúng ta ngày xưa đoạn Phật thực

Mưa đá lớn ở trong hư không

Mạ lị không lường trăm thứ tiếng

Với kia ta muốn động chỗ nương.

Bấy giờ, trong chúng lại có một ma tên là Tri Nhãn hướng về Ma vương nói kệ như vầy:

Khi ngài đối Phật tạo não loạn

Vả có thấy chút sân giận chăng?

Thư thái nhìn ngài chẳng xịu mặt

Lời êm dỗ dành không ác thanh.

Lúc đó, Ma vương nói kệ báo rằng:

(Phật) Kia có trí tuệ hay thường nhẫn

Hay đoạn ái si các lỗi lầm

Từ tâm với tất cả sinh chúng

Tụ tập hạnh, không gì chẳng gom.

Bấy giờ, trong chúng có một ma tên là Nan Hàng Phục hướng về vua ma đó nói kệ như vầy:

Ba kết nếu người hay trói buộc

Chúng con nên não loạn đó liền

Chướng si buộc này Phật mới diệt

Cái chết làm sao não Thế Tôn.

Lúc đó Ma vương nói kệ báo rằng:

Các ông trợ ngã lực (giúp sức ta)

(bộ dạng) Trang thúc chớ buông lung

Ta biến đất làm nước

Nối bốn núi làm vòng (vòng hoa cài tóc: man)

Hư không mưa đá lớn

Gom cát sắt rải tung

Nguyệt tiễn cong, đao thép 

Ném cho thân đó (Phật) tan (nát)

Phương tiện siêng như vậy

Tạo não loạn cực cùng

Các ông mà giúp đỡ

Thích tử thành tro tàn.

Lúc bấy giờ, các ma, mỗi mỗi đều nói kệ... cho đến hàng trăm câu chỉ các ma hiện có đã nói kệ hỏi đáp đều cũng như vậy.

Lúc ấy, tất cả các ma của chúng đó cùng lúc lên tiếng nói như vầy:

Như vậy, mỗi mỗi nên đi về cung của mình trang nghiêm giáp trụ (áo mũ đánh giặc), cùng các binh chúng đều trang bị giáp. Nếu sử dụng sức thần thông của chúng ta, tất cả cảnh giới bày ra khiến cho họ biết thì ông Sa môn Cù Ðàm tuy lại dõng mãnh nhưng há đương đầu được với mũi nhọn của quân chúng bọn ta.

Khi nói lời như vậy, trong khoảnh khắc một sát na, các ma sẳn có ở trăm câu chỉ xứ đều từ cung của mình giáp trụ trang nghiêm. Mỗi một quân ma gồm hàng ngàn câu chỉ chúng, mặc đủ thứ giáp, cầm đủ thứ binh khí, đều nghiêm chỉnh xa giá. Rồi nửa đêm, bọn họ xuống cõi Diêm phù đề, đến giữa nước Ma Già Ðà, đều trụ ở hư không lân cận với đức Phật. Cho đến trời, rồng, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già, Bệ lệ đa, Tỳ xá già, Cưu bàn trà... của bốn châu đều ở bên đức Phật sinh lòng bất tín, không ý cung kính, ở Pháp, Tăng cũng chẳng lòng tin. Tất cả ma đó đều sai khiến quân chúng với đủ thứ binh khí, mặc giáp trang nghiêm tập họp lớn ở chỗ đó muốn hại đức Như Lai. Có một vị tiên nhân tên là Quang Vị với đủ mười tám minh xứcảnh giới thần thông học nhiều không lường, mà thường vưng thờ Ma Ê Thủ La, cùng với năm trăm đồ chúng trụ ở bên núi Tuyết. Lúc bấy giờ, Ma vương liền tự biến thân thân làm hình dáng Ma Ê Thủ La, trụ ở trước tiên nhân nói kệ như vầy:

Họ Cù Ðàm sinh được

Bậc Ðại tiên nương thông

Trụ Ma Gia (nước), thông tuệ

Vương Xá (thành) đi xin.

Lòng ông phải kiên cố

Ðến với đủ luận bàn

Ông năm thông cùng cực

Quyết định tự tại liền.

Bấy giờ, Ma vương nói kệ này xong liền biến mất, trở về cung ma, từ chỗ quyến thuộc, nói kệ như vầy:

Các ông nay bên ta nghe rõ

Ta nghĩ được “biết không ai hơn”

Thích tử đã nhiếp, đã chung ngữ (lời nói)

Gia hộ kia đầy đủ thần thông.

Huyễn kia thị hiện cảnh giới ấy

Tim sức ma ta lớn vô cùng

Như mẹ hướng con lời êm dịu

Ðều khiến đệ tử sinh vui mừng

Hằng ngày buổi sớm vào thành ấp

Từ từ bước, uy nghi giữ gìn

Sở hạnh đệ tử đã đoạn dục

Ta bắt giữ từng đứa tự đương (đương đầu)

Hiện trước họ ca múa mỹ diệu

Khiến họ thấy nghe hoặc trước sinh

Ðệ tử thấy nghe đã hoặc trước

Nên não ý Thích Ca đại tiên.

Bấy giờ, trong chúng có một ma nói kệ rằng:

Con nay hóa hiện việc đáng sợ

Sư tử, trâu nước, cọp, voi điên...

Nhanh chóng đuổi chạy vào thành ấp

Hiện uy tiếng sấm động kinh hoàng.

Thần thông hóa hiện việc vô lượng

Binh khí bức họ lại hiện lên

Việc bỏ các dục của bọn họ

Hoặc khi mê loạn khiến mất quên.

Lúc đó trong chúng lại có một ma nói kệ như vầy:

Ta nay ở ngã tư đường đó

Hóa lầu quan sáttrước tiên

Ðủ thứ hình lạ, mặt xấu xí

Ðủ thứ binh khí bức động thêm

Trong không tiếng lớn, mưa dao kiếm

Kinh động đáng sợ tiếng sấm vang

cảnh giới đó chẳng tự tại

Mau khiến tiêu diệt chẳng hiện tiền.

Lúc bấy giờ, Ma vương dùng sức thần thông, tất cả nghiêm chỉnh xa giá, tạo tác rộng rãi tất cả cảnh giới như trên. Sức uy đức đại từ của Như Lai cũng như ma thị hiện đủ thứ rộng rãi. Tức thời biến thế giới của Phật ở ba ngàn đại thiên thế giới, khiến cho tính chất đất giống như kim cương, tất cả ma lực chẳng thể chuyển đổi, cũng lại chẳng thể tạo ra ác thanh và cả núi lửa bốn phương cháy mạnh. Cũng chẳng thể tạo tác mây đen phi thời và hơi gió ác. Nhờ lực đức Phật hộ trì cho nên thậm chí không có một con rồng có thể vận động thân mình làm rơi xuống một giọt mưa.

Bấy giờ, lúc đầu ngày, bốn đại Thanh văn mặc áo, mang bát vào đại thành Vương Xá khất thực. Tôn giả Xá Lợi Phất, ở cửa Nam của thành gặp năm mươi đồng tử ma với tướng đại nhân đệ nhất đoan chánh diệu sắc trang nghiêm, đồng ở tại ngã tư đường vừa ca múa vừa đi. Từ xa thấy tôn giả Xá Lợi Phất đến, chúng liền chung nhau nắm lấy hai tay tôn giả trước và nói với tôn giả rằng:

- Này Sa môn! Ngài Ca! Này Sa môn! Ông múa!

Xá Lợi Phất nói với đồng tử rằng:

- Các ngươi hãy lắng nghe! Ðiều chưa nghe trước sẽ khiến cho các ngươi nghe!

Ngài liền vì các đồng tử nói kệ như vầy:

Các nhập, hoạn đáng chán 

Chỗ chết dối ta luôn

Ta nay đã chán hoạn

Bờ cõi nhập tận cùng

Các ấm, hoạn đáng chán

Chỗ chết dối ta luôn

Ta nay đã chán hoạn

Bờ cõi ấm tận cùng.

Bấy giờ, ngài Xá Lợi Phất vì các đồng tử ma nói kệ này rồi, liền nói chú rằng:

Ða điệt dã tha (1) Bà ha la (2) Bà ha la (3) Bà la (4) Ba la (5) Mạt lợi chi ba ha (6) Tát già bà ha (7) A ma bà ha (8) Tát bà ha (9).

Lúc ấy, ngài Xá Lợi Phất ở trong tiếng ca nói kệ và Ðà la ni như vậy thì đồng tử của Ma vương, gồm năm trăm người.v.v... nghe pháp âm đó đều được cái chưa từng có, hết sức vui mừng, tín tâm thanh tịnh, hướng về ngài Xá Lợi Phất nói kệ như vầy:

Chính đạo, chúng con nay sám hối

Thân thiện nói lên vì thế gian

Nói ấm đáng sợ dạy lìa bỏ

Khiến con ở đây chứng kiến luôn.

Ðồng tử ma nói kệ đó xong, rập đầu xuống đất làm lễ dưới chân tôn giả, liền ở giữa đường, ngồi chung nghe pháp. Lúc bấy giờ, tôn giả Ðại Mục Kiền Liên sắp vào đại thành Vương Xá khất thực, ở cửa hướng Ðông thành, thấy năm mươi đồng tử... cho đến ở trong ca âm, nói kệ như vầy:

Các giới, hoạn đáng chán 

Chỗ chết dối ta luôn

Ta nay đã chán hoạn

Bờ cõi giới tận cùng.

Các thọ hoạn đáng chán

Chỗ chết dối ta luôn

Ta nay đã chán hoạn

Bờ cõi thọ tận cùng.

Tư duy, hoạn đáng chán

Chỗ chết dối ta luôn

Tư duy ta đã chán

Cõi tư duy tận cùng

Các tưởng, hoạn đáng chán

Chỗ chết dối ta luôn

Ta nay đã chán hoạn

Bờ cõi tưởng tận cùng.

Ngài Ðại Mục Kiền Liên, ở trong tiếng ca, nói kệ đó rồi, lại nói chú rằng:

Ða điệt dã tha (1) A ma bà (2) A ma ba (3) A ma bà (4) A ma bà (5) A la xà (6) La nả xà ha (7) Xa miệu tha (8) Xa miệu tha (9) Xa miệu tha (10) Tha già na bà ma (11) Ta bà ha (12).

Lúc bấy giờ, trưởng lão đại Mục Kiền Liênđồng tử ma nói kệ và Ðà la ni như vậy thì năm mươi đồng tử vui mừng số một, sinh lòng tịnh tín, nói kệ như vầy:

Ðầy đủ mật thần thông

Con Mâu Ni Thánh Chủ

Qua hoạn đường tử sinh

Ðèn pháp chiếu bày khắp

Các lỗi ác đoạn tan

Nên con sinh tín lạc

Nay qui y Thế Tôn (Phật)

Cũng qui y tăng, pháp.

Khi ấy, năm mươi đồng tử ma, ở giữa hư không, liền làm lễ sát chân ngài Ðại Mục Liên rồi ngồi ở trước ngài chánh nghi dung mà nghe pháp.

Lúc bấy giờ, trưỡng lão Phú Lâu Na Di Ðà Ni Tử, từ ở cửa Bắc vào thành khất thực... cho đến giữa ngã tư đường, theo tiếng xướng ca của các đồng tử kia mà ở trong tiếng ca nói kệ như vầy:

Các xúc, hoạn đáng chán 

Chỗ chết dối ta luôn

Ta nay chán xúc đó

Nên cõi xúc tận cùng

Các căn chủ tăng thượng

Chỗ chết dối ta luôn

Ta nay chán tăng thượng

Biên tăng thượng tận cùng.

Hoặc nghiệp thường lưu chuyển

Chỗ chết dối ta luôn

Ta nay chán hoặc nghiệp

Biên hoặc nghiệp tận cùng.

Các hữu, hoạn đáng chán

Chỗ chết dối ta luôn

Ta nay chán các hữu

Bờ cõi hữu tận cùng.

Lúc bấy giờ, ngài Phú Lâu Na ở trong tiếng ca vì đồng tử ma nói kệ này rồi, bảo các đồng tử rằng:

- Mạng người nhẹ, nhanh khó có thể bảo trụ giống như nước trên núi tuông xuống chảy nhanh. Mạng người rất nhanh hơn việc đó. Kẻ phàm phu ngu si đều chẳng hay biết. Lại nữa, này các đồng tử! Tất cả phàm phu bị say rượu sắc không hay biết, bị say rượu thanh không hay biết, bị say rượu hương không hay biết, bị say rượu vị không hay biết, bị say rượu xúc không hay biết. Lại nữa, này các đồng tử! Mạng người rất nhẹ, nhanh như nước trên núi chảy xuống kia. Kẻ phàm phu ngu si đều chẳng thấy biết, bị say rượu pháp không hay biết, bị say rượu ấm không hay biết, bị say rượu giới không hay biết, bị say đồ ăn nhiều không hay biết, bị say rượu lạc (vui) không hay biết, bị say rượu sanh không hay biết, bị say rượu dục không hay biết. Lại nữa, này đồng tử! Mạng người nhẹ, nhanh giống như nước trên núi tuông xuống chảy nhanh. Mạng người rất nhanh so với nước đó, kẻ phàm phu ngu si đều chẳng thấy biết... cho đến tất cả rượu tình thức, thủ trước làm cho mê say mà đều chẳng hay biết.

Ngài Phú Lâu Na liền vì các đồng tử nói chú rằng:

Ða điệt dã tha (1) Yết già bà (2) Yết già bà (3) Yết già bà (4) Môn trí ni (5) A phạt đa (6) Tỳ phạt đa (7) Khư phạt đa (8) Bạt la ma a la ha (9) Thù để phạt đa (10) Ta bà ha (11).

Bấy giờ, khi trưởng lão Phú Lâu Na ở trong tiếng ca, vì đồng tử ma nói kệ và câu Ðà la ni này thì năm mươi đồng tử đó hoan hỷ số một, sinh lòng tịnh tín, nói kệ như vầy:

Ngài nay dạy con đạo tịch diệt

Các cõi như huyễn kia cháy bừng

Thế gian chỉ sinh từ phân biệt

Nên thân con theo Tam Bảo nương.

Lúc ấy năm mươi đồng tử ma ở giữa ngã tư đường, liền làm lễ sát chân ngài Phú Lâu Na và ngồi ở trước ngài, chính nghi dung nghe pháp.

Lúc bấy giờ, trưởng lão Tu Bồ Ðề ở cửa Tây thành vào thành Vương Xá theo thứ lớp khất thực. Ở giữa ngã tư đường gặp gỡ năm mươi đồng tử của Ma vương, tuổi hoa đẹp đẽ, nhan sắc đoan chánh, dáng dừng trường nhã, tướng đại nhân tử, cùng nhau đùa giỡn ở ngã tư đường vừa ca múa vừa đi. Chúng thấy ngài Tu Bồ Ðề liền rảo bước đi đến đều cùng bắt lấy hai tay của tôn giả đó, nói lên như vầy:

- Nào Sa môn! Ông ca! Nào Sa môn! Ông múa!

Ngài Tu Bồ Ðề nói rằng:

- Này đồng tử! Hãy lắng nghe! Tiếng ca trước các ngươi đã chưa nghe thì ta sẽ làm cho các ngươi nghe! Các ngươi hãy lặng yên mà nghe tiếng ca của ta.

Ngài Tu Bồ Ðề liền vì các đồng tử nói bài kệ như vầy:

Tất cả hữu vi pháp

Tính động đều vô thường

Như huyễn, bọt, lửa đó

Tuy thấy, được thì không.

Pháp sinh diệt mau chóng

Chỉ người trí mới thông (biết)

Xúc thọ là khổ não

Người ngu đắm say cùng

Khổ hữu vi bức bách

Tất cả đều ngã không (vô ngã)

Lại không một hiểu biết

Khiến khổ giải thoát xong.

Như tin Bồ tát đạo

Tu nhất tướng thân gần

Gọi lìa các pháp tưởng

Vô ngã, chẳng sạch trong.

Tất cả hành tương ứng

Thật không, tánh tướng không

Các pháp không nuôi mạng

Người không, tạo tác không.

Người bỏ ý ma siểm (dua nịnh)

Phát giác tịnh tín sinh

Các thức nương gốc khởi

Như chớp nương hư không.

Xúc, thọ, tư không ngã

Quan sát không thật chân

Ngu si phàm phu tu

Ấm này lưu chuyển luôn

Tịnh tâm sinh phân biệt

Tác giả chẳng thể được

Chân tế tịch diệt không(trống rỗng)

Tất cả biên (bờ) lìa khỏi.

Pháp này không vô minh

Nên nói Bồ đề hạnh

Như bậc thầy lái thuyền

Chở đến Bồ đề đạo.

Bấy giờ, trưởng lão Tu Bồ Ðề vì đồng tử ma nói bài kệ này rồi liền đọc chú rằng:

Ða điệt dã tha (1) Tô văn đệ (2) Tỳ văn đệ (3) Văn đà (4) Xà ê (5) Tứ ly (6) Tứ ly (7) Tứ ly (8) A bà tứ ly (9) A bà ha tứ ly (10) Ða tha đa bà tứ ly (11) Bộ đa câu chỉ tứ ly (12) Ta bà ha (13).

Bấy giờ, khi trưởng lão Tu Bồ Ðề vì các đồng tử này, ở trong tiếng ca, nói lời bài kệ và câu Ðà la ni này thì năm mươi đồng tử đó vui mừng số một, sinh tâm tịnh tín, nói bài kệ như vầy:

Con nương ác tri thức

Pháp này nghe chưa từng

ngu si vô trí

Ác nghiệp này tạo nên.

Con nay phát lồ hối

Nguyện ngài chứng tri con!

Ngài sinh từ Thắng pháp

Con phát đại nguyện rằng:

Nguyện con được làm Phật

Ích lợi khắp thế gian.

Năm mươi đồng tử, ở giữa ngã tư đường, liền làm lễ sát dưới chân ngài Tu Bồ Ðề, rồi ở trước mặt ngài, ngồi chính nghi dung mà nghe pháp.

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn dùng sức thần thông vì họ mà thị hiện khiến cho ngã tư đường này rộng rãi hàng trăm do tuần. Ngài Xá Lợi Phất ngồi ở mặt Bắc, ngài Ðại Mục Kiền Liên ngồi ở mặt Tây, ngài Phú Lâu Na ngồi ở mặt Nam, ngài Tu Bồ Ðề ngồi ở mặt Ðông. Chỗ ngồi của bốn người cộng lại là nửa do tuần. Ngay tức thời trong đất ở chỗ ngồi của bốn vị Ðại Thanh văn hiện ra hoa sen lớn, ngang dọc bằng nhau độ năm mươi khuỷu tay. Cành hoa là vàng Diêm phù đàn, lá hoa là lưu ly xanh, tua hoa là thắng tạng bảo, nhị hoa là chân châu, mùi hoa thơm phức hơn cả hương của trời. Như vậy hoa sen này phát xuất từ căn lành của thế gian mọc ra. Từ hoa sen này phát ra ánh sáng lớn soi khắp ba ngàn đại thiên thế giới. Ở đường ngã tư đó, hoa ấy vọt lên cao chừng ba thân người để mà thị hiện. Cho đến trời Tứ thiên vương hoa này hiện ra, vì trời đó cao chừng năm do tuần mà vì thị hiện. Cho đến trời Ba mươi ba, hoa này hiện ra, do trời đó cao chừng một trăm do tuần mà vì thị hiện. Cho đến trời A Ca Ni Sấc, hoa này hiện ra, do trời đó cao chừng nửa do tuần mà vì thị hiện. Ở trong lá hoa sen tuyên bày đủ thứ câu nghĩa mỹ diệu. Chúng sinh đất này và chư thiên kia đều nghe trong hoa bài kệ tụng như thế này:

Sinh cõi này, chỉ Phật thanh tịnh

Làm lui quân chúng cùng Ma vương

Phật dũng mãnh chuyển bánh xe pháp

Nhân đây cõi thế không nghi nan

Những người thông tuệ giải nghĩa luận

Biết pháp, cầu pháp, cầu thoát liền

Tất cả thế gian người thông suốt

Ưu Ba Câu Lợi là trên cùng.

Ðây là đạo sư đã điều phục

Pháp đại diệu này nói giỏi giang

Tất cả thế gian dâng lên cúng

Cúng dường Mâu Ni giỏi tuyên dương.

Ðủ trí ba đời hay khéo nói

Sở học ba học mở bày thông

Người trời thế gian hay cứu độ

Khiến hiểu biết nghĩa pháp không lường.

Dạy làm thiện thế gian lợi ích

Ðèn trí phương tiện soi thế gian

Khéo nói diệu pháp đoạn ba cấu

Trí tuệ lợi ích, mệt mỏi không.

Cực khổ thế gian khiến giải thoát

Vô minh che tối cac chúng sinh

Hay cùng mắt pháp chẳng điên đảo

Tất cả đại chúng khắp hội xong.

Phật này chẳng lâu rống sư tử

Ðệ nhất nghĩa, Như Lai bày lên

Lực diệu sắc đủ nói đắp đổi

Thấy đời chìm biển khổ mênh mông.

Ðến ở thế gian, đánh trống pháp

Trong sáu căn hộ trụ hộ trên

Sáu tùy hành (?) này, sáu “thông” biết

Phật nói lục độ là thượng pháp.

Quyết định nói sáu chủng tử ấy

Ở thôn xóm, hay giết sáu căn

Ðã nghĩ đến sáu việc vô thượng.

Phật điều ngự chủ khiến kia nghĩ.

Ở trong hoa sen nói kệ đó rồi. Cho đến đối với chư thiên lục dục đó, tại trong hoa sen, lại vì chư thiên nói kệ như vầy:

Các ngươi sống hòa hợp

Các dục ưa trước tham

Mê say lòng phóng dật

Lọng ái đã che trùm

Ngu si ưa chấp trước

Rượu các dục say mèm

Do sự phóng dật đó

Thiện Thệ chẳng cúng dường

Các dục không thường, hoại

Như đáy nước vầng trăng

Tử sinh trói bền chắc

Chúng sinh thoát không xong.

Các ngươi không chỗ nương

Phóng dật trước các dục

Do ưa thích các dục

Mãi chẳng được Niết bàn.

Thường ở đất phóng dật

Cùng diệt chẳng tương ưng

Chẳng thấy việc làm trước

Sạch trong, chẳng sạch trong.

Vì nghiệp chịu già chết

Bố úy hằng vây quanh

Các ngươi vì buông lung

Nên hành đất ba ác.

Nhờ hành điều buộc lòng

Hằng tu chẳng phóng dật

Trước đã làm nghiệp lành

Nên phải siêng gìn giữ.

Bỏ dục chẳng sạch trong

Biên bờ sau khó được

Thiện Thệ ngươi về nương

Nghe kia nói đại nghĩa.

Các ngươi tu trí tuệ

Giải thoát tịch diệt nhân

Cùng diệu pháp tương ưng

Nghe đại nghĩa như vậy.

Như vậy, trong hoa sen nói kệ đó xong. Cho đến mười sáu trời cõi Sắc, ở trong hoa sen lại vì chư thiên nói kệ như thế này:

Phân biệt thiện pháp siêng tu tập

Lìa rối loạn một lòng ưa thiền

Tịch tịnh chẳng loạn cầu giải thoát

Tuệ đã ứng làm dứt giận sân.

Sở hữu ngã tướng mười ba thứ

Phân biệt vì nói tu nhẫn hơn

Do đây rốt cùng mau giải thoát

Ðược đến chỗ giải thoát tử sinh.

Ham thích sắc tụ nên phân biệt

Tính “Ngã” kiên cố thấy sáng bừng

Pháp sở sinh bọn đó chẳng giảm

Ðất đường ác do thấy chuyển vần.

Quan sát ba cõi thường vô ngã

Không tác, không rỗng, không thật chân

Tu nhẫn phân biệt tùy thuận đó

Ðược hết chỉ thú giải thoát liền.

Người đó chẳng già, chẳng bệnh chết

Lìa đường ác, oán ghét chẳng chung

Ngang bằng hư không tất cả pháp

Chẳng tu hai điều tu tương ưng.

Ðạo tịnh rốt ráo tối vô thượng

Ý không chấp trước tịnh các căn

Giống như Thích tử hàng ma chúng

Một pháp tính vô tướng tu hành.

Mọi tướng sở hữu đều lìa khỏi

Hai thứ đoạn (?) oai nghi thuận tùng

Ðạo này vì họ nói Tối thượng

Phân biệt tu tất cả pháp không.

Nếu hay phân biệt tu không ấy

Không chủ, không tác, thọ cũng không

Giải Bồ đề như tự tính rỗng

Tối Vô thượng xa lìa cầu mong.

Lúc bấy giờ, đức Như Lai ở trong đài hoa sen diệu sắc đó, khi phát ra tiếng lớn câu pháp nghĩa này thì trong thế giới này tất cả người, chẳng phải người.v.v.. sẵn đó đều đến giữa ngã tư đường đi quanh tòa hoa sen... cho đến vô lượng vô số trời A ca nị sấc đều xuống thiên cung, đi quanh tòa hoa sen, chiêm ngưỡng, thính pháp. Lúc đó, Ma vương nghe bài kệ này rồi, quan sát giáp vòng khắp đại thành Vương Xá, thấy hoa sen giữa đường ngã tư phát ra âm thanh pháp này và thấy vô lượng vô số trăm ngàn câu chỉ na do tha người vây quanh hoa sen, ngồi chung nghe pháp. Ma vương lại thấy chư thiên cõi Lục Dục nhiều vô lượng vô số trăm ngàn câu chỉ na do tha.v.v... Tất cả chư thiên đều bỏ cung điện, theo ngồi vây quanh hoa sennghe pháp. Nghe thấy thế rồi, Ma vương lại chuyển biến hơn trước, lòng thêm lo khổ lớn, hối não thêm trói buộc, run rẩy dựng tóc gáy, toàn thân toát mồ hôi, chạy trong hư không, dùng âm thanh lớn kêu gọi ma chúng còn lại mà nói kệ như vầy:

Các ông hãy nghe!

Khéo nhiếp ngoại ý

cảnh giới ta

Không lực tự tại

Ðây mới Thích Ca

Lực tối thượng thắng

Hành công đức rộng

Lưu bố thế gian

Khiến chúng sinh đó

Sở tác vững bền

Ở đài hoa sen

Phát ra tiếng pháp

Người, trời các con

Ðến hết không còn

Quyết định người tốt

Ðều khát, ngưỡng mong

Chuyên ý thiện thệ

Theo tịch diệt đạo

Công đức trên cùng

Ðệ nhất vô thượng.

Việc làm Sa môn

Ba cõi này huyễn

Tất cả mê lầm

Khiến không ý khác.

Ðại chúng thiên nhân

Vây quanh hoa sen

Mau buông mưa đá

Tạo tiếng khủng bố

Dùng chúng ma hung (dữ)

Ðến hoại diệt đó.

Lúc bấy giờ, những ma còn lại đối trước Ma vương kia, nói kệ rằng:

Ngài nghe lời chúng tôi

Lời này đem lợi ích!

Ngài biết những pháp gì?

Mà chẳng dừng ý ác!

Lực Như Lai thắng trì

Quân ma tiêu diệt hết

Thấy Thiện Thệ, chúng tôi

Lòng đều mê muội lớn.

Phật là Ðại Thuyền Sư

Quang nhan thắng viên mãn

Theo Phật khéo về nương

Lại không chỗ qui (về) thắng.

Lúc bấy giờ, lại có ma khác đối trước Ma vương kia cử động thân thể, mặt mày bí xị, buồn khóc, giận quá nói kệ như vầy:

Ngài mất thiện đạo, trụ ác đạo

Nên chẳng tự biết năng lực mình

Sánh đạo sư, ông không hổ thẹn

Ma lực bị Phật lực diệt tan

Chỗ hoa sen thế gian hòa hợp

Nghe pháp vui vẻ thân tâm tịnh

Chúng tôi thân bẩn mất tinh tấn

Chẳng đi, trong sát na tiêu tan.

Hôm nay tất cả đều về nương

Qui ý Nhân Ðà La Tịch Mặc (Mâu Ni).

Lúc ấy, lại có các ma đều chắp tay hướng về Ma vương mà nói kệ như vầy:

Ngài bỏ pháp hạnh, ưa làm ác

Phật làm chỗ dựa lợi thế gian

Ở trong các chúng, Phật chúng thắng

Phật nay đến đây ở tại thành

Chúng tôi phải dùng mắt thanh tịnh

Mau đến đó đem lòng vui mừng

Qui y đấng Chí Tôn ba cõi

Lương dược diệu của mọi chúng sinh.

Khi đó trong hư không lại có một ma tên là Trí Thanh, hướng về Ma vương kia, liền cao giọng nói kệ như vầy:

Chúng tôi hòa hợp nhờ tín lạc

Nghe lời tôi tất cả tương ưng

Phát y, ngôn, hành đoạn ác kiến

Cúi mình chắp tay bỏ giận sân.

Do lòng tỉnh ngộ sẽ tịnh tín

Nói tối thượng tùy hỉ Thế Tôn (Như Lai)

Ðối Phật qui ý, qui khó được

Tôi sẽ, hôm nay, tin cúng dường.

Lúc bấy giờ, các ma nhiều vô lượng vô biên, trong khoảnh khắc sát na, đều từ hư không hạ xuống, đến cửa thất bảo của đại thành Vương Xá. Chúng đều cầm đồ cúng dường trang nghiêm đi đến chỗ đức Phật, vì muốn cúng dường đức Thế Tôn. Hoặc có ma biến làm hình dáng vua Chuyển Luân. Hoặc có ma biến làm hình dáng vua Phạm Thiên. Hoặc có ma biến làm hình dáng Ma Ê Thủ La. Hoặc có ma biến làm hình dáng trời Tự Tại. Hoặc có ma biến làm hình dáng Na la diên. Hoặc có ma biến làm hình dáng trời Ðâu Suất Ðà. Hoặc có ma biến làm hình dáng trời Diệm Ma. Hoặc có ma biến làm Thích Ðề Hoàn Nhân. Hoặc có ma biến làm trời Ba Mươi Ba. Hoặc có ma biến làm hình dáng đồng tử. Hoặc có ma biến làm hình dáng Tỳ Sa môn. Hoặc có ma biến làm Tỳ lâu lặc xoa. Hoặc có ma biến làm Tỳ lâu bác xoa. Hoặc có ma biến làm Ðề Ðâu Lại Tra. Hoặc có ma biến làm hình dáng thần tá trời của Tứ Thiên Vương. Hoặc có ma biến làm hình dáng Thiên Tử Nhật. Hoặc có ma biến làm hình dáng thiên tử Nguyệt. Hoặc có ma biến làm hình dáng lớn nhỏ của thiên tử tinh tú. Hoặc có ma biến làm hình dáng A tu la. Hoặc có ma biến làm hình dáng Già lâu na. Hoặc có ma biến làm hình dáng Khẩn na la. Hoặc có ma biến làm hình dáng Ma hầu la già. Hoặc có ma biến làm hình dáng núi báu. Hoặc có ma biến làm hình dáng vàng tụ. Hoặc có ma biến làm hình dáng đủ thứ báu. Hoặc có ma biến làm hình cây báu. Hoặc có ma biến làm hình dáng Sát đế lợi. Hoặc có ma biến làm hình dáng ngoại đạo khác. Hoặc có ma biến làm hình Luân bảo. Hoặc có ma biến làm hình báu Ma ni. Hoặc có ma biến làm hình voi báu Y la bà trà. Hoặc có ma biến làm hình ngựa báu Bà La ha. Hoặc có ma biến làm hình dáng người con gái báu. Hoặc có ma biến làm Thần bảo chủ tàng. Hoặc có ma biến làm thần bảo chủ binh... Ðủ thứ hình dáng như vậy ma đều tự biến hóa, vì cúng dường nên trụ ở trước đức Phật. Hoặc có ma hiện ra màu xanh thân xanh, dùng đồ màu trắng trang nghiêm thân mình. Chúng đều cầm bảo cái tràng phan đỏ và chuỗi ngọc chơn châu, trụ ở trong hư không cao chừng một cây Ða la. Hoặc có ma hiện ra sắc trắng thân trắng, dùng đồ màu đỏ trang nghiêm thân mình. Chúng đều cầm bảo cái, tràng phan, chuỗi ngọc màu vàng trụ ở trong hư không. Hoặc có ma hiện ra sắc đỏ thân đỏ, dùng áo kim sắc trang nghiêm thân mình. Chúng đều cầm tràng phan bảo cái màu xanh đứng la liệt thành hàng lối. Hoặc có ma hiện lên màu hồng thân hồng, mưa xuống chân châu trắng. Hoặc có ma hiện ra màu trắng thân trắng, mưa xuống chân châu hồng. Hoặc có ma hiện làm sắc thiên tiên, trụ trong hư không, mưa xuống mưa hoa. Hoặc có ma biến làm hình tượng Thanh văn, vì cúng dường đức Phật nên ở trong hư không mưa xuống đủ thứ hương trời. Hoặc có ma hóa làm sắc Kiền thát bà, tấu lên kỹ nhạc trời. Hoặc có ma biến làm sắc thiên nữ, dùng đủ thứ bảo khí tưới nước thơm xuống đất. Hoặc có ma biến làm sắc vàng sạch đen đốt đủ thứ hương thơm. Hoặc có ma biến làm hình dạng các thiên tử ca xướng mừng múa. Hoặc có ma biến làm hình sắc đủ thứ chắp tay chiêm ngưỡng khen ngợi đức Như Lai. Hoặc có ma chúng tùy theo phương diện của đức Phậtnhất tâm chiêm ngưỡng, đều mang đủ thứ báu ma ni, cúng dường đức Thế Tôn. Hoặc có ma ở đường ngã tư, trên cửa sổ lớn nhỏ của nhà điện, lầu các, trên đài cửa khuyết, bên bốn thềm đường, trên tường cao, tường thấp, ô cửa, trên cây, trên bao lơn trùng các... đều tùy theo chỗ đứng mà chắp tay chiêm ngưỡng, cúng dường đức Như Lai.

KINH BẢO TINH ÐÀ LA NI

- Quyển thứ ba - hết.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 513)
Đại ý bài kinh này Đức Phật dạy chúng đệ tử không nên truy tìm quá khứ, không nên ước vọng tương lai vì quá khứ đã đoạn tận.
(Xem: 498)
Evaṃ me sutaṃ, “như vầy tôi nghe”, là lời Ngài Ananda bắt đầu mỗi bài kinh mà có lẽ không Phật tử nào là không biết.
(Xem: 8815)
Nếu tính từ thời điểm vua Lương Vũ Đế tổ chức trai hội Vu lan ở chùa Đồng Thái vào năm Đại Đồng thứ tư (538), thì lễ hội Vu lan của Phật giáo Bắc truyền đã có lịch sử hình thành gần 1.500 năm.
(Xem: 580)
Phật dạy giới này áp dụng chung cho tất cả các Phật tử tại gia, không phân biệt Phật tử này thuộc thành phần hay đẳng cấp xã hội nào.
(Xem: 506)
Sa-môn Thích Đàm Cảnh dịch từ Phạn văn ra Hán văn, tại Trung-quốc, vào thời Tiêu-Tề (479-502). Cư sĩ Hạnh Cơ dịch từ Hán văn ra Việt văn, tại Canada, năm 2018.
(Xem: 1848)
Đức Phật A Di Đà tự thân có ánh sáng vô lượng, chiếu khắp cả mười phương mà không có vật gì có thể ngăn che. Vì vậy nên Phật A Di Đà có nghĩa là Vô Lượng Quang Phật.
(Xem: 1894)
Nguyên tác Hán văn: Tì-kheo Linh Diệu, tông Thiên Thai soạn - Dịch sang tiếng Việt: Thích Thọ Phước
(Xem: 1911)
Ngài Buddhaghosa sanh ra và lớn lên nước Magadha, thuộc Trung Ấn Độ, vào thế kỷ thứ V trong ngôi làng Ghosa, gần địa danh nơi đức Phật thành đạo Bodhigaya
(Xem: 1976)
Nghiên Cứu Về Kinh A Hàm (Ãgama, Sanscrist)
(Xem: 2751)
Ai nói như sau, này các Tỷ-kheo: "Người này làm nghiệp như thế nào, như thế nào, người ấy cảm thọ như vậy, như vậy".
(Xem: 2178)
Đây là những điều tôi nghe hồi Bụt còn ở tại tu viện Cấp Cô Độc trong vườn cây Kỳ Đà ở thành Vương Xá.
(Xem: 2188)
Vào thời Đức Thích-ca-mâu-ni, không có hệ thống chữ viết được phổ biếnẤn Độ. Do đó, những thuyết giảng của Ngài được ghi nhớ và ...
(Xem: 2499)
"Lại nữa, lúc bấy giờ Mahāmati thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, ngài đã từng dạy rằng: từ lúc Như Lai chứng nghiệm giác ngộ cho đến...
(Xem: 3026)
Kinh Địa Tạng là một trong các kinh Đại thừa được phổ biến rộng rãi trong quần chúng Việt Nam từ hơn nửa thế kỷ nay song song với các kinh Kim Cương, Di Đà, Phổ Môn...
(Xem: 3554)
Nguyên tác: Tôn giả Thế Thân (Acarya Vasubandhu) - Hán dịch: Tam Tạng Pháp sư Huyền Tráng; Việt dịch: Tỳ khưu Tâm Hạnh
(Xem: 2300)
No. 1613 - Nguyên tác: Tôn giả An Huệ; Dịch Hán: Tam Tạng Pháp sư Địa-bà-ha-la; Dịch Việt: Tâm Hạnh
(Xem: 3200)
Duy thức nhị thập luận, do bồ tát Thế Thân soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường... được thu vào Đại chính tạng, tập 31, No.1590.
(Xem: 3102)
Bồ-tát Trần Na tạo luận. Tam tạng Pháp sư Huyền Trang phụng chiếu dịch. Việt dịch: Quảng Minh
(Xem: 5048)
Nghe như vầy, một thời Đức Phật ở nước Xá Vệ ở vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc cùng chúng đại Tỳ Kheo năm trăm vị. Bấy giờ các thầy Tỳ Kheo...
(Xem: 3300)
No. 699; Hán dịch: Đời Đại Đường, Trung Thiên Trúc, Tam tạng Pháp sư Địa bà ha la, Đường dịch là Nhật Chiếu
(Xem: 3587)
Đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni, bắt đầu chuyển pháp-luân, độ cho năm vị Tỳ-Khưu là Tôn-giả Kiều-Trần-Như v.v... Sau cùng, Ngài thuyết pháp độ cho ông Tu-bạt-đà-la.
(Xem: 2674)
Kinh Phạm Võng nằm trong Đại Chánh Tạng, tập 24, ký hiệu 1484, gọi đủ là Phạm võng kinh Lô xá na Phật thuyết bồ tát tâm địa giới phẩm đệ thập
(Xem: 3387)
Phật thuyết-giảng Kinh Phạm-Võng để dạy về giới-luật, và các pháp cao-siêu vượt thoát được sáu mươi hai kiến-chấp vốn là các tà-kiến đã...
(Xem: 2920)
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana, vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc). Ở đây,,,
(Xem: 3466)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Kinh Tập, Kinh số 0434; Dịch Phạn - Hán: Tam Tạng Cát-ca-dạ, Dịch Hán - Việt và chú: Tỳ-kheo Thích Hạnh Tuệ; Hiệu đính: HT Thích Như Điển
(Xem: 2661)
Đời Đường, Thận Thủy Sa Môn Huyền Giác Soạn; Thánh Tri dịch nghĩa Việt và viết bài học giải...
(Xem: 3042)
Phật giáo được khai sáng ở Ấn-độ vào năm 589 trước kỉ nguyên tây lịch (năm đức Thích Ca Mâu Ni thành đạo), và đã tồn tại liên tục, phát triển không ngừng trên ...
(Xem: 3392)
Trong truyền thống Phật giáo Bắc truyền, Dược Sư là một bản kinh thường được trì tụng nhằm mục đích giải trừ tật bệnh, cầu nguyện bình an...
(Xem: 3442)
Thích-ca là phiên âm của tiếng Phạn. Phiên âm Hán Việt là Năng Nhân. Tức là họ của đấng hóa Phật ở cõi Ta-bà...
(Xem: 4446)
Kinh chuyển Pháp luân là bài thuyết Pháp đầu tiên của Đức Phật Thích-ca sau khi Ngài đã đắc đạo.
(Xem: 3932)
Ba Ngàn Oai Nghi Của Vị Đại Tỳ Kheo - Được xếp vào tập T24 - Kinh số 1470 - Tổng cộng kinh này có 2 quyển
(Xem: 3900)
Những gì xảy ra trong thế giới này đều bị qui luật Nhân quả chi phối. Mọi thứ xuất hiện ở đời đều có nhân duyên. Hạnh phúcthế gian hay Niết bàn của người tu đạo không ra ngoài qui luật ấy.
(Xem: 4354)
Satipatthana Sutta là một bản kinh quan trọng làm nền tảng cho một phép thiền định chủ yếu trong Phật giáo là Vipassana...
(Xem: 3783)
Kinh Tứ Thập Nhị Chương là một bài Kinh được truyền bá khá rộng rải ở các Tồng Lâm Tự Viện của Trung QuốcViệt Nam từ xưa đến nay.
(Xem: 3349)
Bản dịch này được trích ra từ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh Vol. 48, No. 2010. Bởi vì lời dạy của Tổ Tăng Xán quá sâu sắc, súc tích, và bao hàm trong 584 chữ Hán,
(Xem: 4222)
Dịch từ Phạn sang Tạng: Kluḥi dbaṅ-po, Lhaḥi zla-ba; Dịch Tạng sang Việt: Phước Nguyên
(Xem: 5289)
Trí Phật là trí Kim – cang, Thân Phật là thân Kim – Sắc, cõi Phật là cõi Hoàng – kim, lời Phật tất nhiên là lời vàng.
(Xem: 3866)
Bấy giờ Hòa Thượng Vakkali nhìn thấy Đức Phật đang đi đến từ xa, và ông đã cố gắng ngồi dậy.
(Xem: 6779)
Xin dâng hết lên Tam Bảo chứng minh và xin Quý Ngài cũng như Quý Vị tùy nghi xử dụng in ấn tiếp tục hay trì tụng cũng như cho dịch ra những ngôn ngữ khác...
(Xem: 6479)
Niệm Phật Tâm Muội do HT Hư Vân soạn, Sa môn Hiển Chơn dịch; Tọa Thiền Dụng Tâm Ký do Viên Minh Quốc Sư soạn, HT Thích Thanh Từ dịch
(Xem: 4346)
Khi Bồ-tát Quán Tự Tại hành sâu Bát-nhã Ba-la-mật-đa, ngài soi thấy năm uẩn đều KHÔNG, liền qua hết thảy khổ ách.
(Xem: 20258)
Viết ra các bài Phật học thường thức này, chúng tôi không có tham vọng giới thiệu toàn bộ Phật pháp và chỉ cốt giúp cho các bạn sơ cơ hiểu được một cách đúng đắn, đạo lý năm thừa trong Phật giáo mà thôi.
(Xem: 3775)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, Kinh văn số 1675. Tác giả: Long Thọ Bồ Tát; Sa Môn Sắc Tử dịch Phạn sang Hán; HT Thích Như Điển dịch Việt
(Xem: 7248)
Thuở đó đức Phật đang ngự tại rừng Ta-la-song-thọ, ở ngoại ô thành Câu-thi-na, thuộc lãnh thổ trị vì của bộ tộc Lực-sĩ.
(Xem: 4729)
Đức Thế Tôn từ nơi cung trời Đâu-suất sinh xuống thành Ca-duy, chán đời sống dục lạc ở vương cung, thành tựu đạo chơn thường dưới cội cây...
(Xem: 4491)
Kinh Rong Chơi Trời Phương Ngoại là một phẩm của Kinh Pháp Cú Hán tạng có tên là Nê Hoàn Phẩm. Nê HoànNiết bàn (Nirvana, Nibbâna).
(Xem: 4033)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, quyển thứ 32, luận tập bộ toàn, kinh văn số 1637. HT Thích Như Điển dịch
(Xem: 4401)
Đây là kinh Pháp Quán Phạm Chí. Khung cảnh dựng lên cho kinh cũng giống như khung cảnh của kinh thứ mười một...
(Xem: 5969)
Đại Chánh Tân Tu đại tạng kinh, quyển thứ 32, kinh văn số 1680, luận tập bộ toàn. HT Thích Như Điển dịch Việt
(Xem: 4550)
Một thời, đức Bhagavat trú tại Vārāṇasi, nơi xứ Ṛṣipatana, trong rừng Mṛgadāva. Bấy giờ, đức Thế Tôn nói:
(Xem: 4265)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh quyển 32, luận tập bộ toàn, kinh văn 1671; HT Thích Như Điển dịch sang tiếng Việt.
(Xem: 4320)
Kinh Bát Đại Nhân Giác này của Đại Sư An Thế Cao từ nước An Tức sang Trung Quốc vào thời Hậu Hán (năm 132-167 sau công nguyên) soạn dịch.
(Xem: 4548)
Năm nay (2016) trong chương trình của tôi, không dự định đi sang Úc, nhưng ngày 23 tháng 6 năm 2016 vừa qua...
(Xem: 5208)
Tôi được nghe như vầy: một thuở nọ, Đức Thế Tôn đang ngụ tại vườn Nai, ở Isipatana gần Bénarès. Lúc bấy giờ...
(Xem: 3953)
Nay ở nơi chư Phật Chắp tay kính đảnh lễ Con sẽ như giáo nói Tư lương Bồ-đề Phật.
(Xem: 5348)
Lúc bấy giờ, ngài Vô-Tận-Ý Bồ-Tát (1) liền từ chỗ ngồi đứng dậy trịch áo bày vai hữu (2), chấp tay hướng Phật mà bạch rằng:
(Xem: 5194)
Bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (Taisho Shinshu Daijokyo) xuất xứ từ thời Vua Taisho (Đại Chánh) ở Nhật Bản từ đầu thế kỷ thứ 20.
(Xem: 6917)
Có lẽ Lăng Già là một trong những bộ kinh phân tích cái Tâm một cách chi li, khúc chiết nhất trong kinh điển Phật giáo.
(Xem: 5075)
Tôi nghe như vầy. Có một lúc, Đức Phật đã sống ở gần Xá Vệ (Savatthi) trong Khu Rừng Kỳ Đà (Jeta Wood) ở tu viện Cấp Cô Độc
(Xem: 5893)
Đại Chánh Tân Tu Đại tạng Kinh, quyển thứ 32 thuộc Luận Tập Bộ Toàn. Kinh văn số 1641. HT Thích Như Điển dịch
Quảng Cáo Bảo Trợ