Logo HHAD 2018 250
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
14,854,374
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Quyển Thứ Sáu

04 Tháng Mười Hai 201300:00(Xem: 5152)
Quyển Thứ Sáu


KINH BẢO TINH ÐÀ LA NI


Đại Chánh Tân Tu, Bộ Đại Tập, số 0402

Nguyên tác: [1] [2] [3] [4] [5] [6] [7] [8] [9] [10]

- Hán dịch: Thiên Trúc Tam Tạng Pháp Sư Ba La Pha Mật Ða La - Ðời Ðường

 - Việt dịch: Tuệ Khai cư sĩ - Phan Rang

Chứng nghĩa: Tỳ Kheo Thích Đỗng Minh

---o0o---


Quyển thứ sáu. 

 

PHẨM THỨ SÁU: ÐÀ LA NI 

I. - Lúc bấy giờ, ở địa phận phương Ðông đó, có thế giới tên là Khả Lạc, đức Phật hiệu là A Súc cùng với vô lượng vô số Ðại Bồ tát với sức thần thông, đủ thứ gia hộ của cảnh giới chư Phật, ở trong khoảnh khắc một sát na, từ cõi đó khởi phát đi đến trú xứ của đức Thích Ca Như Lai A La Ha Tam Miệu Tam Phật Ðà trong Tứ thiên hạ. Ðức Phật A Súc tự hóa ra tòa hoa sen mà ngồi. Các vị Ðại Bồ tát của đức Phật đó cũng dùng sức công đức thần thông của mình mà hóa pháp tòa hoa sen vi diệu, rồi ngồi ở trên đài hoa sen, hướng về đức Phật. Như vậy, ở phương Ðông các đức Phật Thế Tôn đứng đầu chúng của vô lượng vô số cõi Phật nhiều như vi trần hiện trụ thế nuôi dưỡng, ở trong khoảnh khắc sát na, mỗi một đức Như Lai cùng với vô lượng vô số Ðại Bồ tát trăm ngàn câu chỉ nadotha đại chúng Thanh văn, từ chỗ các ngài phát khởi đi đến trú xứ của đức Thích Ca Như Lai A La Ha Tam Miệu Tam Phật Ðà ở trong bốn thiên hạ này. Ðại chúng đi đến đó, bằng thần thông của mình, hóa làm tòa pháp hoa sen vi diệu, rồi ngồi ở trên đài hoa sen, hướng về đức Phật.

Lúc bấy giờ, ở địa phận phương Nam có đức Như Lai hiệu là Bảo Tinh... nói rộng cho đến... ngồi ở trên đài hoa sen, hướng về đức Phật. Bấy giờ, ở địa phận phương Tây có đức Phật hiệu là A Di Ðà... nói rộng cho đến... ngồi ở trên đài hoa sen, hướng về đức Phật. Như vậy ở phương Bắc có đức Phật hiệu là Cổ AÂm, hạ phương có đức Phật hiệu là Tỳ Lô Giá Na... cho đến... ở trên đài hoa sen đó... nói rộng như trước. Thượng phươngđức Như Lai hiệu là Trí Quang cùng vô lượng vô số trăm ngàn câu chỉ nadotha Ðại Bồ tát nhiều như vi trần của hằng hà sa số cõi Phật. Nhờ đủ thứ sự gia hộ của cảnh giới chư Phật, ở trong khoảnh khắc một sát na, các ngài từ cõi đó xuất phát đi đến trong cõi Phật ở bốn thiên hạ này, trú xứ của đức Thích Ca Như Lai A La Ha Tam Miệu Tam Phật Ðà. Ðức Phật Trí Quang đến rồi, tự hóa ra tòa hoa sen mà ngồi. Các vị Bồ tát Ma ha tát của cõi đó, khi đã đến đây rồi, mỗi mỗi đều bằng sức thần thông công đức vô lượng của mình, hóa làm pháp tòa hoa sen vi diệu, rồi ngồi ở đài hoa sen, hướng về đức Phật.

Các vị Bồ tátmười phương đến tập hội đó, hoặc có vị mưa xuống vàng Diêm phù đàn để làm phẩm vật cúng dường đức Thế Tôn. Cho đến tạo tác rộng như trước đã nói. Hoặc có vị nhiễu quanh về bên phải tất cả cõi Phật. Hoặc có vị khát ngưỡng chắp tay trước đức Phật như nghe pháp. Hoặc có vị dùng phần thiện căn thường làm của mình để tư duy mà trụ. Lúc bấy giờ, ngài đồng chơn Tu Bồ Ðề cung kính chắp tay, bằng thần thông của mình và thần lực của đức Phật hộ trì thêm nên pháp thanh đầy khắp ở tất cả cõi Phật, ngài nói kệ như vầy:

Tất cả nghi đoạn tan

Trăng Mâu Ni đến khắp

Ðây xưa chưa kiến văn (thấy nghe)

Mọi thành tựu đều hiện

Tất cả Phật đầy tràn

tịnh giới Bồ tát

Cõi Phật như miếu đường (tháp)

Tất cả đều lễ bái

Phật nay phi vô nhân

Phật nhật mâu ni đến

Cõi này năm ác bẩn

Làm ô uế chúng sinh

Ma nay phải hàng phục

Phá hoại bọn tối đen (hắc ám)

Nhiếp lấy các hạnh thiện

Vì thế nay nên sang.

Lắng nghe pháp tịch mịch

Ma chúng đều tiêu tan

Sinh khởi ý thanh tịnh

Tam Phật Ðà sẽ thành.

Tu hành Ðại thừa đạo

Giáp nhẫn ông mặc vào

Và vì hết bốn hoặc

Ông nghe Ðà la ni.

Tòa hoa sen đều ngồi

Ðạo sư đồng thanh thỉnh

Nói pháp ủng hộ này

Nhiếp trì tất cả pháp

Chẳng thoái Ðà la ni

Làm chánh pháp cữu trụ

Tất cả chướng tiêu trừ.

Lúc bấy giờ, vô lượng vô số Ðại Bồ tát được nhẫn đều cùng đồng thanh nói lên như vầy:

- Nguyện xin đức Thế Tôn ngồi tòa hoa sen! Hôm nay đấng Ðại Bi vì hun đúc Vô thượng Nhẫn đại từ nên y vào vô úy nói pháp nhiếp trì tất cả, diệt trừ những cửa kinh sợ (vô úy môn), qua khỏi các ma đạo, xô ngã ma tràng, kiến lập pháp tràng, diệt trừ các phiền não, hàng phục tất cả oán, cắt đứt tất cả nghi, nhập vào Nhất thiết trí, giải thoát kinh sợ, là tối thượng hộ (trì) ở trong các sự ủng hộ, có thể bày ra tất cả pháp của Bồ tát. Như là hoặc niệm, hoặc Tuệ, hoặc đạo, hoặc trì, hoặc chẳng quên, hoặc phương tiện khéo léo. Cho đến tất cả hạnh, an lạc, thành tựu, phước đức đã nương vào Gia hộ Tam ma đề, Sàn đề Ðà la ni vào minh trí khéo léo. Cho đến trì ba mươi bảy tâm pháp trợ đạo vì sự rỡ ràng vui vẻ của các chúng sinh, sức lực vang lừng, ưa trụ một mình, ưa biện, nói, niệm khiến cho tăng trưởng, nghe trì chẳng quên, tất cả oán địch lui, ngũ cốc thành thục, trì tịnh giới, niệm khí (khí cụ niệm) thành, hạnh thành tựu, đến Bồ đề. Ðức Thế Tôn hôm nay vì con nói pháp Ðà la ni này để cho chánh pháp theo nhiếp lấy mà trụ thế lâu dài, giống Tam Bảo chẳng đoạn, thị hiện đạo Vô thượng Bồ đề, chân tế Như như, hư không, không sai biệt. Tất cả tướng tối sáng đây đó, phân biệt, không phân biệt, chúng sinh, thọ mạng, dưỡng dục, ngã, nhân, không sai biệt. Chẳng sinh, chẳng khởi, chẳng diệt, tướng tất cả pháp không hình thể, chân tế Như Như không sai biệt. Ðất, nước, lửa, gió, hư không, thức, giới không sai biệt. Các đức Phật Thế Tôn nay vì con nói Ðà la ni Nhất Thiết Pháp Tính Xuất Sinh Ðạo Tràng này thì tức thời vô lượng vô số trăm ngàn câu chỉ nadotha chúng sinh được nghe pháp, vô lượng chúng sinh ở trong Tam bảo được niềm tin bất hoại, các chúng sinhthiện tri thức cùng nhau lợi íchvô lượng vô số chúng sinh sẽ phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, được Bất thoái chuyển mà được thọ ký.

Những Bồ tát đắc Nhẫn thỉnh khắp tất cả các đức Phật Thế Tôn nói Ðại pháp. Các đức Phật đó mặc nhiên thọ thỉnh rồi, tức thời chánh thân ngồi ngay thẳng trên tòa hoa sen, liền vào tam muội Như Chư Phật Cảnh Giới Nhập Bình Ðẳng Nguyện. Vào tam muội rồi, chư Phật muốn khiến cho tất cả chúng sinh của những chúng đến hội ở bên trong tất cả cõi Phật, tất cả các khổ đều tiêu diệt, tất cả thiện căn đều được viên mãn và được tịnh tín, niệm giải thành tựu. Các đức Phật Thế Tôn liền thấy như vầy: Những ác kiến tham, sân, si.... những lỗi lầm kiêu mạn, say đắm, cao ngạo, thân kiến, nghi, thủ, hữu, ái, chìm đắm, thấp hèn... của những chúng sinh đến hội bên trong cõi Phật này, những tâm đen tối của họ đều tiêu diệt hết. Mỗi một chúng sinh đều lý giả như vầy: “Chỉ có một người là ta ở trước đức Như Lai, chính thân nghe pháp chẳng là ai khác. Chỉ có một người là ta mà đức Như Lai dùng tất cả suy nghĩ quan sát tất cả lòng của ta, tất cả nhiệt não đều được tiêu diệt. Lại không có người khác được nghe pháp nên thỉnh đức Như Lai nói pháp”.

Lúc bấy giờ, tất cả chúng sinh, những người khắp nơi đến hội có ở bên trong cõi Phật này, những kẻ căn tính mạnh mẽ sắc bén chắp tay đồng thanh bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Xin Ngài vì chúng con nói pháp! Thưa đại đức Thiện Thệ! Xin ngài vì chúng con nói pháp! Chúng con sẽ cùng chung thuận theo thành tựu pháp của đức Phật Thế Tôn!

Bấy giờ, đức Thích Ca Như Lai dùng hương trang nghiêm tối thượng thắng diệu vượt qua tất cả, đầy khắp tất cả các cõi Phật. Vì cúng dường các đức Phật Thế Tôn khác nên hương đó trụ ở trước các đức Phật. Và bên trong tất cả các cõi Phật, tất cả chúng sinh của những đại chúng đến hội lại dùng đủ thứ báu, đủ thứ hoa, đủ thứ vòng hoa cài tóc, đủ thứ hương, đủ thứ bảo cái, đủ thứ tràng, đủ thứ phan, đủ thứ đồ trang nghiêm bừng, mang đầy tay hiện ở trước các đức Phật, dùng làm cúng dường. Lúc bấy giờ, đức Thích Ca Như Lai nói lên như vầy:

- Các đức Phật Thế Tôn một lòng nghĩ đến ta! Mỗi một vị Thế Tôn hiện tại có trong thế giới mười phương và trong thế giới khác đều đến hỏi ta rằng, vào thuở xưa bổn nguyện ta như vầy: Ta ở thế giới ngũ trược, đủ thứ uế ác, được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Những chúng sinh đó mất chỗ y chỉ, mất đạo ba thừa, nhà tối vô minh, phiền não che tối, pháp bất thiện gom tụ, trí buộc tất cả, bỏ xa thiện pháp, hướng về ba đường ác, xa lìa tất cả người thông tuệ, làm các điều ác nghịch, bài báng chính pháp, báng huỷ thánh nhân, nương theo kẻ không từ bi... Ta vì từ bi thương xót những chúng sinh này nên phát Ðại Bi lực, Ðại Tinh Tấn lực. Ðối với nóng, lạnh, mệt nhọc, các khổ của họ, ta nhẫn thọ thay. Thành ấp, đất nước, đạo lộ, cung thất mà chân bước du hành vì ta muốn lợi ích cho các chúng sinh. Ăn uống thiếu thốn, thô ráp, ít vị. Ðồ ăn rất đáng chán ghét chẳng ưa. Vì chúng sinh trồng căn lành nên ta nhẫn thọ đủ thứ xúc chạm đắng cay thô ráp. Y phục Xá na kiếp bối thô ma, ta dùng áo phấn tảo như vậy mà mặc lấy. Hang núi, chầm rừng (lâm tẩu), nhà trống, nghĩa địa... ta nương những chỗ này mà trụ dừng. Cho đến ta thọ nhận cỏ, lá cây xá na thô ma thô ráp hôi thối khó chịu, các ngọa cụ xấu.... Dùng phương tiện khéo léo, ta mặc áo giáp đồng Ðại Bi Tinh Tấn. Vì các chúng sinh ta diễn nói, thị hiện đủ thứ. Ta vì vua Sát lợi giảng nói pháp tự tại, vì Bà la môn nói pháp Tỳ Ðà (Vệ Ðà) pháp luận về sao.v.v..., vì các đại thần nói về pháp dạy bảo, dẫn đường chúng sinh, vì các thầy thuốc nói pháp thích hợp của các dược tính, vì các thương nhân nói pháp mua bán, vì các nông phu nói pháp làm ruộng, vì các nữ nhân nói về pháp nghiêm sức, nuôi dưỡng tự tại không hành động theo người khác, vì các Sa môn nói nhẫn nhục nhu hòa, ngồi thiền, tụng kinh, khuyên làm mọi việc. Ta vì muốn thị hiện răn dạy, thành thục chúng sinh nên người chưa đến khiến cho đến, kẻ chưa chứng khiến cho chứng, người chưa thoát khiến cho thoát. Ta nhẫn thọ đủ thứ những việc khổ não để thành thục chúng sinh nên sống ở nhân gian.

Ta còn bị những chúng sinh này vì tật đố (ganh ghét) nên mắng chửi hủy báng, dùng pháp dâm dục báng hủy ta. Lại dùng lời nói ác bài báng ta, họ nói ta, lời nói lừa dối, công kích, gièm pha, giả trá, dua nịnh, huyễn ngụy, nói dối, thô ác... chung với các nữ nhân nói lời ái dục. Họ lại dùng việc ác gia hại ta. Ðất bụi dơ bẩn, dao độc, vòng lửa, chùy sắt, tên nhọn, búa sắt, đá lớn, binh khí.v.v... mưa xuống hại ta. Voi say, rắn độc, sư tử, cọp sói, trâu nước, trâu dữ, đại lực sĩ... đều cùng chung đánh, ném đến hại ta.

Phòng nhà, chỗ dừng nghỉ của Ta và Tăng già lam, bọn họ đem lại hôi thối, dơ bẩn, bất tịnh... đầy những nơi ấy. Khi các Thanh văn của Ta vào trong thành khất thực thì những chúng sinh phi pháp này dùng ca múa phi pháp khuyên mời Thanh văn làm việc phi pháp. Họ dùng vô lượng trăm ngàn phương tiện muốn hại đến Ta là vì muôn che giấu chánh pháp, muốn diệt đèn pháp, muốn phá thuyền pháp, muốn làm tan pháp hội của Ta, muốn làm ngã pháp tràng của Ta.

Lúc bấy giờ, đức Thi Ca Như Lai nói lên như vầy:

- Phải quan sát pháp thức của các đức Phật đời quá khứ. Như các đức Phật đó, ở đời uế ác năm trược ác này, tập họp lớn khắp nơi tạo tác diệu pháp thức là vì khiến cho diệu pháp trụ thế lâu dài. Ðối với cảnh giới ác của tất cả ma, chư Phật muốn khiến cho tan nát tiêu diệt, khiến cho giống Tam Bảo chẳng đoạn. Chư Phật vì các chúng sinh tăng trưởng căn lành, dùng pháp tiêu diệt, hàng phục ngôn luận của tất cả ngoại đạo. Vì chúng sinh, chư Phật tiêu diệt hết đói kém, hoang hóa, loạn lạc, đấu tụng, dịch bệnh, oán địch phương khác, cấm chế ràng buộc nói khen, lạnh chẳng đúng lúc, nóng chẳng đúng lúc, gió chẳng đúng lúc, mưa chẳng đúng lúc, những ác kiến lầm lỗi của nghiệp thân, miệng và ý...

Chư Phật vì khiến cho tất cả trời rồng, dạ xoa, người, chẳng phải người.v.v... đều hồi hướng chánh chơn, tất cả nhà cửa, tụ lạc, thành ấp, đương đi, các xứ sở đều ủng hộ, tất cả dua nịnh, độc hại, thuốc hạ độc, hôn muộn (mờ tối), ác mộng, hình tướng tai ương... đều khiến cho hoại tan, tất cả ngũ sắc, dược thảo, hoa trái, thêm vị khiến trở thành vốn liếng nuôi dưỡng, Sát lợi, Bà la môn, Tỳ xá, Thủ đa thì răn bày hành động thiện, tâm Bồ đề khiến cho nhiều thêm, khuyên tu các Ba la mật. Chư Phật tạo tác diệu pháp thức là vì khiến cho các Ðại Bồ tát được tăng trưởng trí phương tiện khéo léo, niệm hành dũng mãnh, biện tài lạc thuyết... Rồi thọ chức vị Phật, an ủi nhập trí, qua bờ kia. Như đức Như Lai A La Ha Tam Miệu Tam Phật Ðà thuở xưa đó nói pháp môn Kim Cương Pháp Ðẳng Nhân Duyên Pháp Tam Kiến Lập Tồi Toái Ðà La Ni Ấn Cú Nhập Sai Biệt Ký này, diễn nói, thọ trì, hỗ tương tùy hỷ. Hay thay! Hay thay! Ðúng vậy! Ðúng vậy!

Hiện tại hôm nay, các đức Phật Thế Tôn trụ thế sinh sống có trong mười phương đều đi đến cõi Phật ngũ trược ác thế Ta Bà này để thăm hỏi ta đều ở tại tòa hoa sen. Các đức Phật đó đều ủng hộ các chúng sinh bên trong cõi Phật này nên ưng nói pháp môn Kim Cương Pháp Ðẳng Nhân Duyên Pháp Tâm Kiến Lập Tồi Toái Ðà La Ni Ấn Cú Nhập Sai Biệt Ký; diễn nói, thọ trì, hỗ tương tùy hỷ khiến cho diệu pháp trụ thế lâu dài, tất cả lực cảnh giới ác của ma khiến cho tiêu diệt... nói rộng như trước, cho đến trí không chướng ngại, qua bờ kia, thương xót nhiếp lấy và nhận lời thỉnh của ta, vì khiến bên trong cõi Phật này nói pháp môn vi diệu được trụ thế lâu dài, tất cả ngoại đạo chẳng thể qua được, được pháp chẳng hoại và giống Tam Bảo chẳng đoạn tuyệt, tất cả chúng sinh được thọ pháp vị.

Lúc bấy giờ, tất cả các đức Phật Thế Tôn đều nói như vầy:

- Ðúng vậy! Ðúng vậy! Chúng tôi quyết định làm việc như vậy! Ở cõi Phật này, chúng tôi hộ trì diệu pháp khiến cho pháp trụ thế lâu dài, tất cả lực cảnh giới ác của các ma khiến cho tiêu diệt tan nát... cho đến trí vô chướng ngại, qua bờ kia. Chúng tôi sẽ nói pháp môn đại trì “Kim Cương Pháp Ðẳng Nhân Duyên Pháp Tâm Kiến Lập Tồi Toái Ðà La Ni Ấn Cú Nhập Sai Biệt Ký” này. Ðại chúng các ông hôm nay phải lắng nghe.

Tất cả các đức Phật đại tập ở cõi này, nói chú như vầy:

Ða địa dã tha ương già la ương già la (1) Băng già la (2) Bát la băng ca la (3) Bà gia nhị ha nhị đá lam bà tư (4) A khê a khư môn bạt lợi độ mê (5) Ðồ mạn đế (6) Kê bạt tề kê du lợi (7) Tam ma ba ha nể (8) Tam mạn đa bạt đạt lợi (9) Ðạt mê đạt mê (10) Ðà ma kê (11) Xà phá lệ (12) Nhị đá la sửu phá lệ (13) Phá la bà đế (14) Già ni (15) Già nả bà lam đế (16) Sẩn lợi để lợi (17) Sẩn la sẩn la kê (18) Xà bà đế xà bà đế (19) Tra ca tư (20) Tra kiện đế (21) Tra ca bà lam (22) Ca nả bà mạc đế (23) Sấn xà đế (24) Thỉ xà đế (25) Tân đầu bà đế (26) Cù bà ê (27) Thọ ly (28) Nhị đa la thọ ly (29) Thọ lý (30) A già ly (31) A bà mê (32) Ta tả đa tha đương (33) Hô lô sẩn ly (34) Chiên thế lệ (35) Tam ma đạt mê (36) Ðà mê (37) Câu châu lô (38) Mộ châu lô (39) A chấp tra (4o) Chí li (41) Chí li (42) Già ba ha (43) Châu lô châu lô (44) Nhị đa la bà ha (45) Câu lô câu lô (46) Ta la ta la (47) Câu châu câu châu (48) Ma ha tát la (49) Ðô châu đô châu (50) Mahatát để gia ly đà gia bộ sáp tì (51) Tô bộ sáp tì (52) Ðộ ma bát ly ha lệ (53) A bà duệ (54) Lô chí nê (55) Ca nhạo si (56) A bà gia ma tát đô tỳ bà ha để lệ (57) Ma lệ ma lệ (58) Bát thấp phược khư (59) Thi thi la (60) Lô ca tỳ na gia ca (61) Bạt thì lệ (62) Bạt thì bạt thì la đạt ly (63) Bạt thì la bà đế (64) Bạt thì la đà đề (65) Chước khất la bạt thì lệ (66) Chước khất lệ (67) Già bà nê (68) Ðạt lệ đạt lệ (69) Bà lệ bà lệ (70) Bố lệ (71) Tra lệ (72) Hô hô lệ (73) Bàng già tần bà lệ (74) Xá lân xá (75) Chí ly (76) Châu ly (77) Mộ lệ (78) Mạn trà lệ (79) Mạn trà nê (80) Già gia ly (81) Mộ trà nê (82) Tát ba mộ trà nê (83) Ðịa địa la gia nê (84) Ma ê thấp phược la (85) La gia nê (86) Ly sân (tân) xà nê (87) Ðà bà bà chí (88) Chiên trà la tê mê (89) Tát bà tát tả ha địa sắt si đa (90) Sấc điện đô bà ha na ma nhị nê (91) Bà la la để (92) Ô xà ố già lệ (93) Tỳ chí nê (94) Bà già na la ha (95) Bồ lệ bồ lệ (96) Cù lô cù lô (97) Mộ lô mộ lô (98) Sẩn ly sẩn ly (99) Ha la ha la (100) Ca kiến trà ba ha (101) Sẩn sẩn đương (102) A dụ na kiến trà thì phược la bà tê (103) Yết đà nê (104) A đà a nê (105) Mạt già a tỳ lô ha nê (106) Phá la tát để duệ (107) A lô ha bà để (108) Tê ly tê ly (109) Gia đà ba xà gia tát phược ố già la (110) Già đà ba lan giả ly đà gia bà ha (111) Tát để gia bát ly bà bà (112) Mạt già tỵ lô ha nê (113) A già la bột đề (114) Ðà đà bát la già la (115) Ba già gia (116) Tân trà ly đà gia (117) Chiên đạt la già la nả (118) A già lệ (119) Luân đạt nê (120) Bát la khất ly để gia mạt già (121) Y la già ly lị (122) Bát la tệ (123) Ta la bột la đế (124) Tát bà si la si tha đa (125) Tát để gia a nô già đế (126) A na bà la na bột la đế (127) A la đa (128) Ương cù lệ (129) Xà di nê (130) Tỳ bột la ma bà dụ sẩn (131) A tê đa a bà la (132) Ni la bà gia bà (133) A chất la mạt già (134) A nan la cù tát lệ (135) Ðể ly la đa na bàng thế (136) Ðạt ma ca thì phược la chiên đạt lệ (137) Tam một đạt la bà để (138) Ma ha đà bộ đa tỳ gia (139) Tam một đạt la tỳ già bà để đà la ni một đạt lệ nả (140) Ma nể một đạt la tô la bát la để tam tỳ đà một đạt la (141) A bạt đa ni (142) Tam bạt đa ni (143) Tam mộ hạ tắc ca la (144) Tỳ tha dụ đa la tê na sí để một đạt ly đô hử (145) Duệ kê chất tất lợi địa tỳ bà ha (146) Bà bà bà ha ha ha (147) Kê tra ca bà tra (148) Thế la bát la để để ly duệ na một đạt ly đa (149) Ðà la ni (150) Ðà la đà la đà la (151) Ðàn địa la đàn địa la hô sắc (152) Ca tát bà ly đà gia một đạt ly đô hử (153) Xà trà xà bạt tra (154) Xà khư ta tra (155) Tô mạt để mạt để (156) Ma ha đà bộ đa một đạt ly đa (157) Duệ kê chất sát a gia đơn na ni thất ly đa bộ đa (158) Già ni nhị ni (159) Tác già ni (160) Cù sa tát già ni (161) Một đạt ly đa (162) Già ly gia a địa sắt đà na (163) Bà ca bát tha (164) Na a nịch tha (165) Ma ha bố ni (166) Một già gia a bà đa la (167) Ma ha ca lô nả gia (168) Một đạt ly đa (169) Tát bà tam miệu (170) Bát la để bát địa (171) Chí la la đa lam (172) Thì phược la đô (173) Ðạt ma nê để ly (174) Tát tỳ mô ni (175) Bột ly ta bà (176) Ma ha ca lô nả (177) Tam ma đề (178) Nhã na la bà hạt lệ na (179) Mai để ly (180) Ðể gia già a để tỳ ly gia bạt lệ na (181) A địa sắt si đa (182) Tát bà bộ đô (183) Ô ba già gia dã (184) Tát bà ha (185).

Lúc bấy giờ, đại chúng ở trong tất cả các cõi Phật đến tậpï hội ở cõi Phật này đều đồng thanh nói lên như vầy:

- Nam mô nhất thiết chư Phật! Nam mô nhất thiết chư Phật (Cung kính tất cả các đức Phật)!

Họ đồng chung nói như vậy ba lần, rồi nói tiếp:

- Lạ thay! Chúng Mâu Ni tập hội rất hy hữu! Ðại Bồ tát tập hội rất hy hữu! Ðại Thanh văn tập hội rất hy hữu! Hy hữu như vậy quả thật chưa từng có! Từ xưa con chưa nghe pháp môn Kim Cương Pháp Ðẳng Nhân Duyên Pháp Tâm Kiến Lập Nhất Thiết Pháp Tồi Toái Ðà La Ni Ấn Cú Sai Biệt Ký này. Pháp môn mà tất cả giáo sư chánh pháp trụ trì, giống Tam Bảo chẳng đoạn tuyệt, có thể phá diệt lực cảnh giới ma, đoạn dứt trói buộc của ma, hàng phục ma oán, kiến lập pháp tràng, hộ trì pháp phận... cho đến có thể làm đầy cảnh giới chư Phật. Hôm nay tất cả các đức Phật Thế Tôn nói pháp môn Ðà la ni Ấn Cú Sai Biệt Ký này chính là tâm của tất cả chúng sinh in (ấn) hạnh rất hy hữu, điều phục sáu nhập... cho đến khiến cho tất cả chúng sinh được Niết bàn Vô thượng.

Khi chư Phật nói pháp Ðà la ni Ấn Ký này thì ba mươi lần cát sông Hằng các vị Ðại Bồ tát thành tựu Ðà la ni này và được tam muội nhẫn.

Lúc bấy giờ, đồng tử Nguyệt Quang liền đứng dậy, chắp tay quan sát khắp, nhờ sự gia hộ của đức Phật và sức thần thông của mình mà phát ra tiếng đại pháp, vang rền đều khắp bên trong cõi Phật này. Ðồng tử nói kệ như vầy:

Trăng Phật khó được gặp

Gặp chúng cũng khó khăn

Chúng thông tuệ khó được

Và hạnh Bồ tát lành.

Như vậy diệu pháp ấn

Nghe được khó tột cùng

Như Lai từ bi lớn

Chánh pháp hay giữ gìn.

Diệt tất cả ma đảng

Và lui oán địch liền

Tam Bảo mãi chẳng đoạn

Chư Phật nhận giữ gìn.

Hoại phá tất cả chướng

Nhẫn nhục nhu hòa tăng

chúng sinh hồi hướng

Hộ nước cùng quốc vương.

Ngăn những người làm ác

Các ác kiến đoạn luôn

An ủi các Bồ tát

Ðạo Bồ đề hiện lên

Tăng trưởng Ba la mật

Ðầy đủ hạnh thiện hiền

Ưa nói trí phương tiện.

Như vậy những lớn thêm

Ðều thọ trì lời Phật

Nhiếp trì pháp sạch trong (bạch pháp)

Ðà la ni ủng hộ

Ðạo Bồ đề tịnh minh

Rực sáng chứng thật pháp

Tất cả chúng, các ông

Lưới nghi đều sẽ đoạn

Ðà la ni vững tin

Ðây là đủ đầy đạo

Gọi là Bồ đề thành.

Chúng con lại muốn nói:

Ðà la ni, giữ gìn

Bảo vệ người nói pháp

Văn, tuệ càng lớn thêm.

Có ai cho, muốn pháp?

Bồ tát, danh vang lừng

Và được không chướng ngại

Hay khiến các chúng sanh

Tăng trưởng thêm lợi ích.

Lúc bấy giờ, đồng chơn Ðại Bồ tát nhiều như cát sông Hằng đều đồng thanh nói lên như vầy:

- Chúng con hôm nay cho người muốn thọ trì Ðà la ni này. Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân, Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di tắm rửa sạch sẽ, mặc áo quần thanh tịnh, dùng đủ thứ hoa trang nghiêm làm trướng, đốt đủ loại hương thơm, dọn đủ thứ đồ ăn, đủ thứ y phục đặt để xếp bày, trang hoàng tơ lụa ngũ sắc, dựng lên đủ thứ tràng phan vi diệu và những lọng hoa trang nghiêm đạo tràng, rồi thăng lên tòa sư tử êm ái vi diệu mà khai thị, phân biệt Ðà la ni này thì đối với người đó không có tâm loạn, bốn đại loạn, thân loạn, ý loạn, không có hơi thở độc chạm đến thân, không có thể khiến cho đau đầu, những bộ phận thân trong ngoài và tứ chi đều không bệnh não, không có thể khiến cho âm thanh lếu láo thô lỗ. Nếu pháp sư đó thuở xưa đã có nghiệp bất thiện, bốn đại loạn, âm thanh loạn mà pháp sư đó đọc Ðà la ni này thì tất cả nghiệp chướng diệt hết không còn, được trụ yên ổn. Có người đến nghe cũng không bốn đại loạn và âm thanh loạn. Nếu có người nghe được Ðà la ni này thì nghiệp bất thiện, bốn đại bệnh đã lâuâm thanh loạn của người đó, tất cả đều tiêu diệt.

Lúc đó, đồng tử Nguyệt Quang chiêm ngưỡng vô lượng hằng hà sa số những đức Phật Thế Tôn với các Ðại Bồ tát vây quanh. Ðồng tử Nguyệt Quang cúi mình chắp tay nói lên như vầy:

- Các đức Phật Thế Tôn từ bi nghĩ đến con, sẽ cho ý muốn! Hôm nay con sẽ nói chú Ðà la ni này, liền ở trước đức Phật nói chú Ðại Minh:

Ða địa dã tha sàn đế (1) A ta ma lộ tỳ (2) Di sỉ ly (3) Tô ma bà để (4) Ải hử na bà quân xà tỳ (5) Na bà quân xà na bà quân xà tỳ (6) Mậu la luận đà nê (7) Bà trà khư bà trà khư (8) Bà trà khư ma la bà (9) Sỉ tha đa bả lý xỉ đà (10) Bà bà bà pha pha pha ta ta ta (11) A mậu la (12) A giả ly (13) Ðà đà ba lá giả la (14) Tỳ địa ly (15) Ải ca na gia bạt lý xỉ đà (16) Chiên đà na chỉ lý ni (17) Bồ tát ly (18) Bồ tát la chỉ lý ni (19) Khư già tẩu la chỉ lý ni (20) Ta na bà tẩu la chỉ lý ni (21) Phục xỉ cú chỉ bỉ lý xỉ đà (22) Xà lả xà lả khư khư (23) Bà di xà lả khư (24) Na ma kha sa khứ (25) Ca ca khứ (26) Ha ha ha ha (27) Hổ hổ hổ (28) Ta ba lý xa tỳ đà na (29) Ba lý xỉ đà (30) A ma ma (31) Nhỉ dã ma ma (32) Khí dã ma ma (33) Ta mẫu đà la mẫu đà la bà khứ (34) Tăng tắc ca la nương bạt lý xỉ đà (35) Bồ đề tá khất sử chỉ tỳ ma (36) Ma ha tỳ ma (37) Bộ sỉ cú chỉ (38) A ca xá thỉ bà ta bạt lý xỉ đà (39) Ta bà ha (40).

Lúc bấy giờ, các đức Phật Thế Tôn, Ðại Bồ tát và Ðại Thanh văn, Ðế Thích, Phạm vương, trời hộ thế, rồng, dạ xoa, càn thát bà.v.v... các Ðại thần vương đại uy đức... của tất cả cõi Phật tha phương đều chung xưng tán: Hay thay! Hay thay! Và bạch các đức Phật rằng:

- Ðà la ni nay rất nhanh chóng có thế lực lớn, có thể ngăn chận tất cả oán địch, sợ hãi, bệnh hoạn... Các nạn, ác mộng, ác tướng đều giải thoát. Thậm chí nói Ðà la ni này là chỗ nương của trí vô chướng, trí vô thượng, trí đại phước gom tụ.

Lúc bấy giờ, vua đại phạm, chúa của Thế Tự Tại dùng lực Ðại Phạm cảnh giới trang nghiêm biến làm nữ nhân, ở trước đức Phật Vô Lượng Thọ, hiện sắc tướng đoan chính đệ nhất, viên mãn hơn cả các trời với đầy đủ y phục trang nghiêm đệ nhất, vòng hoa cài tóc, hương xoa đem dùng nghiêm sức. Vua trời Ðại Phạm Thế Tự Tại liền đứng dậy chắp tay cung kính nói như vầy:

- Thưa đức Thế Tôn! Ngài phải ủng hộ con diễn nói viên âm! Như vậy âm thanh đều có thể cùng khắp tất cả cõi Phật, khắp nơi được nghe biết mà không chướng ngại. Như con hôm nay, như câu chú này giỏi có thể hộ trì pháp sư nói pháp và người nghe pháp. Nếu lúc sau này, hoặc ma, hoặc quyến thuộc của ma, hoặc trời, hoặc con trai con gái của trời, hoặc rồng, con gái rồng, hoặc cha mẹ, quyến thuộc nam nữ của rồng... cho đến con gái của Tỳ xá già, cha mẹ quyến thuộc nam nữ lớn nhỏ của Tỳ xá già, người, chẳng phải người.v.v... mà đối với pháp sư và người nghe pháp dò tìm sở đoản của họ để thật làm oán gia hay giả làm thân hữu đối với thầy nói pháp và người nghe pháp thì thậm chí não hại tổn đến một sợi lông hoặc đoạt tinh khí, hoặc hà hơi độc, hoặc nhìn bằng ác tâm... cho đến trong khoảnh khắc một niệm, con đối với những người hay chẳng phải người đó.v.v... những bọn ma quỉ cấm chỉ đoạn trừ, khiến cho chúng hôn trược, cho lời thề cốt yếu ấy. Con sẽ ủng hộ viên âm diễn thuyết của các đức Phật Thế Tôn có thể dùng pháp thanh đầy các cõi Phật. Nguyện xin đức Thế Tôn sẽ nghĩ giúp con.

Ðức Phật Vô Lượng Thọ mặc nhiên thọ thỉnh. Trong đại chúng có một vị trời Ðế Thích tên là Trì Kế dùng mũ trời vàng thắng diệu quang minh trang nghiêm thân mình, ngồi ở trước đức Phật chẳng xa.

Lúc bấy giờ, trời Ðế Thích bảo Thế Tự Tại như vầy:

- Này chị em! Chớ dùng tâm nhiễm ô mà ngồi ở trước tòa của đức Như Lai Vô Lượng Thọ! Chớ làm phiền đức Thế Tôn! Vì sao vậy? Vì sự ưa hí luận chính là pháp của phàm phuđức Như Lai Thế Tôn vĩnh viễn không hý luận. Hữu vi tạm hiện chính là tướng diệt tận. Tất cả câu danh sắc sai biệt với Như Như. Nàng nếu như vậy là mê hoặc điên đảo đức Như Lai. Này chị em! Như Lai bình đẳng, không trái, không tranh, một vị Như Như ngang bằng cõi hư không. Hư không cũng cũng chẳng đặt để hư vọng. Tướng ba hạnh tận như hư không chẳng phân biệt, không phân biệt. Các hạnh như vậy, Như Lai như vậy, các dục công đức chẳng là hý luận, chẳng phân biệt, không chẳng phân biệt mà không chỗ trụ, chẳng thọ chẳng thủ. Như vậy không mạng, không sinh thì không dưỡng dục, không người, không ấm, giới, nhập, không thủ, không hí luận. Này chị em! Tại sao hôm nay nàng ở trước đức Như Lai mà tạo tác hí luận?

Lúc bấy giờ, đức Như Lai Vô Lượng Thọ bảo chúa trời rằng:

- Ông nên xét kỹ nhiên hậu mới phát ngôn! Chớ nói lời không đúng như pháp khiến cho ông bị tội, chịu quả báo chẳng ưa thích! Vị này chính là bậc đại thiện trượng phu được sự chú ý của vô lượng các đức Phật, đã ở chỗ các đức Phật gieo trồng các căn lành. Lại, ông Thiện trượng phu này vì muốn việc cúng dường Như Lai nên hiện tướng nữ nhân trang nghiêm diệu sức (trang sức). Ông chớ ở đây mà nói rằng là nữ!

Trời Ðế Thích Trì Kế bạch Phạm thiên Thế Tự Tại rằng:

- Thưa thiện nam tử! Ngài hãy khởi từ bi nhiếp thọ bố thí của tôi, sự hoan hỷ của tôi! Chớ khiến cho tôi hôm nay do lời nói thô lỗ này mà bị quả báo ác!

Bấy giờ, Bồ tát Hoài Lạc bạch đức Phật Vô Lượng Thọ rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Nếu trời Ðế Thích này chẳng hối lời nói này thì bị quả báo gì?

Ðức Phật Vô Lượng Thọ bảo Bồ tát Hoài Lạc rằng:

- Này thiện nam tử! Nay nếu trời Ðế thích này chẳng hối lỗi thì vào đời vị lai, trong tám muốn bốn ngàn lần sinh bị làm thân lừa ăn cỏ, bị người khác khinh miệt. Vậy nên, này các thiện nam tử! Các ông thương phải thận trọng ý nghĩ, giữ gìn khẩu nghiệp này!

Bấy giờ, đức Phật bảo Thế Tự Tại Phạm Thiên rằng:

- Này thiện nam tử! Ông hãy lạc thuyết (nói điều ưa thích) tùy ý! Ta đã ủng hộ lời nói của ông vậy!

Thế Tự Tại Phạm thiên đã nhờ được sự hộ niệm, hoan hỷ chắp tay, quan sát khắp mười phương, nói lên như vầy:

- Nguyện xin đức Thế Tôn một lòng nghĩ đến con! Nếu Phật, Bồ tát và chúng Thanh văn, trời, rồng, dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già... muốn khiến cho chánh pháp trụ thế lâu dài thì nguyện ở chỗ này đồng cho con ý muốn. Nếu pháp sưthính chúng muốn được tùy thuận tương ưng, không não loạn thì phải cho con ý muốn! Nếu ác ma, người, chẳng phải người.v.v... kia vào đời vị lai đối với người nói pháp và mọi loài chúng sinh mà làm não loạn thì con sẽ ngăn chận, cho họ lời yếu thệ, đoạn dứt lòng ác ấy.

Khi Thế Tự Tại Phạm thiên nói lên lời nói đó thì âm thanh phát ra đầy khắp tất cả thế giới chư Phật. Bấy giờ, tất cả các vua Phạm thiên nhất thời đồng thanh nói lên rằng:

- Chúng tôi cũng dùng Ðà la ni này đồng chung cho ý muốn. Sở dĩ vì sao? Vì chúng tôi về sau cũng sẽ thọ trì Ðà la ni này, cũng sẽ ủng hộ những vị Thiện trượng phu đời vị lai có khả năng khai thị diễn nói pháp môn như vậy và chúng nghe pháp. Chúng tôi sẽ khiến cho những người đó tùy thuận tương ưng, được như sở nguyện. Chúng tôi hôm nay ở trước đức Phật Thế Tôn, Ðại Bồ tát và chúng Ðại Thanh văn cho ý muốn Ðà la ni này.

Thế Tự Tại Phạm Thiên đó nói lên như vầy:

- Nguyện xin đức Thế TônBồ tát, Thanh văn, chúng đại đệ tử ủng hộ con!

Phạm thiên đó liền nói chú rằng:

Ða địa dã tha (1) A ma ly (2) Tỳ ma ly (3) Già nả sơn địa (4) Ha ly chiên địa (5) Chiên địa (6) Ma ha chiên địa (7) Già di (8) Ma ha già di (9) Tô di (10) Tát tha di (11) A bà ha (12) Tỳ bà ha (13) Ương già xà (14) Nê sỉ la kha tỳ (15) Mậu la ba lý xỉ đề (16) Dược xoa chiên trì (17) Tỳ xá già chiên trì (18) A bạt sỉ nê (19) Tam bạt sỉ nê (20) Tăng tắc ca la nê (21) Các ba nê (22) Mô ha nê (23) Ẩu Già tra nê (24) Ha ma ha (25) Ha ma ha ha ma ha (26) A quân già nê (27) Kha già xá bà (28) A ma la (29) A mậu la (30) Mâu la ba lý bạt để (31) A bà la kha bà (32) Ta bà ha (33).

Thưa đức Thế Tôn! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân trái nghịch chẳng hành thần chú thánh chúng đại tập đã nói thì con ngươi của mắt rơi rớt, đỉnh đầu tan nát, chi tiết phân tán.

Vị Phạm thiên đó lại nói chú rằng:

Ða địa dã tha a giả giả (1) A bà ha giả giả (2) Chửu ca la xoa (3) Già gia tra (4) Kha già già (5) Na kha già giá già (6) Già già già già (7) Na già ha mậu la già già (8) Già mậu la (9) Già già ha ma mậu la già già (10) Ha mâu ha mâu (11) Bà trà bà ha (12) Ta bà ha (13).

Lúc bấy giờ, tất cả Phạm vương... cho đến vua Tỳ Xá Già nghe nói chú đó rồi đều xướng lên rằng: Hay thay! Rồi nói như vầy:

- Giả sử quỉ thầnuy lực lớn hùng mạnh nhanh chóng so với sức tiêu diệt tan nát ( Tồi toái) có thể hơn ngàn lần, chúng tôi dùng chương cú Ðà la ni này khiến cho trói buộc hết thì như vậy tất cả quỉ thần ác có thể cùng chúng sinh tạo tác điều bất lợi, đều khiến cho tạm tiêu diệt, không chỗ sống đào tẩu.

Tự Tại Phạm thiên lại nói rằng:

- Nếu có người trụ ác không lòng từ mẫn, chẳng biết ân đức, não hại chúng sinh thì hoặc quỉ hoặc ma và quyến thuộc của chúng thường đến theo dõi tìm vua Sát lợi thọ chức quán đảnh... hoặc dò tìm phi hậu, vương tử, vương nữ và thể nữ... cho đến tể tướng quan lại cùng những thứ dân khác mà những người này ở trong Phật pháp được niềm tin thanh tịnh. Hoặc nam, hoặc nữ, đồng nam, đồng nữ, Ưu bà tắc, Ưu bà di ưa nghe pháp. Tỳ kheo, Tỳ kheo ni thiền định, tụng niệm tinh tấn chẳng buông lung. Như vậy quỉ, ma, người, chẳng phải người dò tìm sở trường, sở đoản của họ thì tôi sẽ ủng hộ, cho đến có thể khiến cho trong khoảnh khắc một sát na, lòng ác cũng chẳng khởi lên, huống là đối với họ mà não hại được một sợi lông, hoặc khởi ác tâm não loạn, phá hoại, đoạt tinh khí, dùng độc thổi vào thân của họ. Những kẻ theo dò tìm kiếm lỗi lầm của họ thì do uy thần lực của Ðà la ni này nên ma, quyến thuộc, người, chẳng phải người.v.v... đầu vỡ làm bảy phần, con ngươi rơi rớt, máu tin khô cạn, bị bệnh hủi trắng (bạch lại), toàn thân thối rửa, mất bản thần thông, vùi lấp dưới đất. Chúng lại bị gió dữ thổi, ném đến chỗ không người trong bốn phương, thân đầy bụi đất, lòng mê cuồng, chạy rong hoảng loạn. Chỗ đi qua, đất đều bị phá nát, chúng rơi xuống trong chỗ ấy, sâu đến tám muôn bốn ngàn do tuần. Ở nơi đó mạng chung, nếu là ma trái ngược với chú này thì sinh vào loài sống ở dưới nước. Người đối với Thánh giáo được niềm tin thanh tịnh, siêng làm việc tăng thì làm Tỳ kheo, Tỳ kheo ni.v.v... những quỉ thần làm não loạn thì cũng bị quả báo ác như đã nói trên, đầu vỡ bảy phần và cả lúc mạng chung. Nếu là ma trường chẳng thoái, tùy chỗ sở tại của Ðà la ni, chúng tôi sẽ siêng gia hộ. Tất cả chúng sinh ưa pháp có ở đó, tôi sẽ siêng năng ngày đêm hết lòng thủ hộ. Và tất cả bọn ác độc dạ xoa, phú đơn na.v.v... tôi sẽ xua đuổi ra khỏi cảnh giới ấy. Nếu chỗ sở tại của Ðà la ni này là tất cả đất nước đấu tranh, đói kém, bị oán địch phương khác, gió mưa lạnh nóng chẳng phải lúc... dịch bệnh thì tôi sẽ đoạn trừ khiến cho không còn nữa, cũng khiến cho tất cả nhân dân của nước ấy căn lành thành tựu, tùy thuận hòa hợp, yên ổn, giàu có, khiến cho pháp sư và người nghe pháp danh vang xa rộng, không có bệnh khổ, cũng khuyến lệ bốn nhóm đàn việt cung cấp lợi dưỡng.

KINH BẢO TINH ÐÀ LA NI 

- Quyển thứ sáu - hết.

Phụ lục những bài chú trong bản của nhà Minh để đối chiếu với những bài chú ở trên.

Ða địa dã tha ương già la ương già là (1) Băng già la (2) Bát la bằng ca la (3) Bà gia nhị ha nhị si lam bà tư (4) A khê a khứ môn bạt lợi (5) Ðộ mê đồ mạn đế (6) Kê bạt tri kê du lợi (7) Tam mMa bà ha nễ (8) Tam mạn đa bạt đạt lợi (9) Ðạt mê đạt mê (10) Ðà ma kê (11) Xà phá kê (12) Nhị đa la nữu phá lê (13) Phá la bà đế (14) Già nị (15) Già nả bà lam đế (16) Sẩn lợi để lợi (17) Sẩn la sẩn la kê (18) Diệm bà đế bà đế (19) Tra ca tư tra kiến đế (20) Tra ca bà lam đế (21) Già nả bà hán đế (22) Sẩn lận đế (23) Thỉ lận đế (24) Tần đầu bà đế (25) Cù bả ế (26) Thọ ly nhị đa la thọ ly (27) Thọ lý a già ly (28) A bà mê (29) Ta tả đa tha đương (30) Hô lô sẩn ly (31) Chiên thế lệ tam ma đạt mê (32) Ðà mê (33) Câu châu lô (34) Mộ châu lô (35) A chất tra chí ly (36) Chí già bà ha (37) Châu lô châu lô (38) Nhị đa la bà ha (39) Câu lô câu lô (40) Ta la ta la (41) Câu châu câu châu (42) Ma ha tát la (43) Ðô châu đô châu (44) Ma ha tát để gia (45) Hê ly đà gia bổ số tỳ (46) Tô bổ số tỳ (47) Ðộ ma bát ly ha lệ (48) A bà di lô chi nê (49) Ca lạc si tỳ (50) A bà gia ma tát đố tỳ bà ha (51) Ðể đệ lệ (52) Ma ma lệ (53) Bát thấp phược khứ (54) Thi thi la (55) Lô ca tỳ na gia ca (56) Bạt thì lệ bạt thì la đạt lệ (57) Bạt thì la bà đế (58) Bạt thì la bà đề (59) Chước ca la bạt thì đề (60) Chước ca la bạt thì lệ (61) Chước ca lệ già bà nê (62) Ðạt lệ đạt lệ (63) Bà lệ bà lệ (64) Bố lệ (65) Tra lệ (66) Hô hô lệ (67) Bàng già tần bà lệ (68) Xá lị xá lị (69) Chí ly châu ly (70) Mộ lệ (71) Mạn trà lệ (72) Mạn trà nê (73) Già già la ni (74) Mộ trà nê (75) Tát ba mộ trà nê (76) Ðịa địa la gia nê (77) Ma ê thấp phược la la gia nê (78) Kê ly sân xà nê (79) Ðà bà bà chí (80) Chiên trà la tê mê (81) Tát bà tát tả a địa sắt sỉ đa (82) Sấc điện đô bà ha na (83) Ma nhị nê (84) Phá la la để (85) Ô xà già lệ (86) Tỳ chí nê (87) Bà na la ha (88) Bồ bồ lệ (89) Cù lô cù lô (90) Mộ lô mộ lô (91) Sẩn ly sẩn ly (92) Ha la ha la (93) Ca kiến trà bà ha (94) Sẩn sẩn sỉ (95) A dụ na kiến trà (96) Thì phược la bà tê (97) Yết đà nê (98) A đà ha nê (99) Mạt già tỳ lô ha nê (100) Phá la tát để (101) A lô sa bà để (102) Sẩn ly sẩn ly (103) Gia tha bà xà gia tát phược già la (104) Gia tha ba lan giả hê đề gia bà ha (105) Tát để gia bát lý bà bà (106) Mạt già tỳ lô ha nê (107) A già la bột đề (108) Ðà đà bát la già la (109) Ba già gia tân trà ly đà gia (110) Chiên đạt già la nả (111) A già lệ thâu đạt nê (112) Bát la ngật lý để mạt kỳ (113) Y la y ly ly (114) Bát la tỳ (115) Ta la bột la đế (116) Tát bà sỉ la sỉ tha da (117) Tát để gia nô già đế (118) A nan ta la na bột la đế (119) A la sỉ (120) Ương cù lệ (121) Xa trân nên (122) Bột la ma bà dụ sẩn ha a sẩn sỉ bà sẩn la (123) Ni la bà gia bà (124) A chỉ la mạt già (125) La na la cù tát lệ (126) Ðể lý la đa na bàng thế (127) Ðạt ma ca gia (128) Thì phược la chiên đạt lệ (129) Tát mẫu đạt la bà để (130) Ma ha bộ đà tỳ gia (131) Tát mẫu đạt la tỳ già bà để (132) Ðà la ni một đạt lệ (133) Ma sỉ một đạt la (134) Tô la bát la để tam tỳ đà một đạt la (135) A bạt sỉ ni (136) Tam phiệt sỉ ni (137) Tam mộ hạ tắc ca la (138) Tỳ địa dụ đa la tê na (139) Sí để một đạt ly đô tử (140) Duệ kê chất tất lị địa tỳ bà ha (141) Bà ha bà ha bà ha (142) Kê tra ca bà tra (143) Thế la bát la để để gia hê ly đa duệ na (144) Một đạt ly đa đà la ni (145) Ðà la đà la đà la (146) Ðàn địa la đàn địa la (147) Hô sắc ca tát bà hê đà gia (148) Ðạt ly đố tử (149) Xà trà xà ba tra (150) Xà khứ bà tra (151) Tô ma để ma để (152) Ma ha đà bộ sỉ đạt sỉ (153) Chất sát trà gia đan na ni thất ly đa bộ đa (154) Y ni nhị ni (155) Tát già nê (156) Cù sa tát già nê (157) Một đạt ly đa già ly gia a địa sắt sá na (158) Bạc bát tha na a nịch tha (159) Ma ha bố ni gia tam một già gia a bà đa la (160) Ma ha ca lô nả gia một đạt ly đa (161) Tát bà tam miệu ba la để bát chỉ la la sỉ lam (162) Thì phược la đố đạt ma nê để ly (163) Tát tỳ mộ ni bột ly sa bà ma ha ca lô nả tam ma đề (164) Nhã na la bà bạt lệ na (165) Mai để ly để gia già để (166) Tỳ ly gia bạt lệ na a địa sắt si đa (167) Tát bà bộ đô ô ba già gia dã (168) Tát bà ha (169).

( Hết bài 1 của phẩm thứ sáu).

 

Bài chú thứ hai của phẩm thứ sáu: 

Ða địa dã tha sàn đế (1) A ta ma lộ tỳ (2) Di đế lệ tô ma bà chỉ (3) Ải sẩn na bà quân xà tỳ (4) Na bà quân xà tỳ (5) Na bà quân xà tỳ (6) Mậu la thâu đà nê (7) Bà tra khứ (8) Bà trà khứ (9) Ma la bà sỉ tha đa (10) Bạt lý xỉ đà (11) Bà pha ta ba pha ta (12) A mậu la (13) A giả la (14) Ðà đà ba la giả la (15) Tỳ địa lệ (16) Ải ca na gia bạt lý xỉ đà (17) Chiên già na đê lý ni (18) Bồ tát ly (19) Bồ tát la đê lý ni (20) Khứ già tẩu la đê lý ni (21) Ta na bà tẩu la đê lý ni (22) Bộ đa cú chỉ bả lý xỉ đà (23) Xà la khứ la khứ (24) Ba duệ xà đê khứ (25) Na ma khứ xoa khử (26) Ca ca xỉ (27) Ha ha ha ha (28) Hổ hổ hổ hổ (29) Ta ba lý xa tỳ đà na ba lý xỉ đà (30) A ma ma nhỉ dã ma ma (31) Khí dã ma ma (32) Ta mẫu đà la mẫu đà la bà xỉ (33) Tăng tắc ca la nương bả lý xỉ đà (34) Bồ đề tá (35) Khất sử chỉ tỳ ma (36) Ma ha tỳ ma (37) Bổ sỉ câu chỉ (38) A ca xả thỉ bà ta bả lý xỉ đà (39) Ta bà ha (40).

 

--- o0o ---

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 481)
Đại ý bài kinh này Đức Phật dạy chúng đệ tử không nên truy tìm quá khứ, không nên ước vọng tương lai vì quá khứ đã đoạn tận.
(Xem: 484)
Evaṃ me sutaṃ, “như vầy tôi nghe”, là lời Ngài Ananda bắt đầu mỗi bài kinh mà có lẽ không Phật tử nào là không biết.
(Xem: 8805)
Nếu tính từ thời điểm vua Lương Vũ Đế tổ chức trai hội Vu lan ở chùa Đồng Thái vào năm Đại Đồng thứ tư (538), thì lễ hội Vu lan của Phật giáo Bắc truyền đã có lịch sử hình thành gần 1.500 năm.
(Xem: 557)
Phật dạy giới này áp dụng chung cho tất cả các Phật tử tại gia, không phân biệt Phật tử này thuộc thành phần hay đẳng cấp xã hội nào.
(Xem: 491)
Sa-môn Thích Đàm Cảnh dịch từ Phạn văn ra Hán văn, tại Trung-quốc, vào thời Tiêu-Tề (479-502). Cư sĩ Hạnh Cơ dịch từ Hán văn ra Việt văn, tại Canada, năm 2018.
(Xem: 1836)
Đức Phật A Di Đà tự thân có ánh sáng vô lượng, chiếu khắp cả mười phương mà không có vật gì có thể ngăn che. Vì vậy nên Phật A Di Đà có nghĩa là Vô Lượng Quang Phật.
(Xem: 1881)
Nguyên tác Hán văn: Tì-kheo Linh Diệu, tông Thiên Thai soạn - Dịch sang tiếng Việt: Thích Thọ Phước
(Xem: 1903)
Ngài Buddhaghosa sanh ra và lớn lên nước Magadha, thuộc Trung Ấn Độ, vào thế kỷ thứ V trong ngôi làng Ghosa, gần địa danh nơi đức Phật thành đạo Bodhigaya
(Xem: 1963)
Nghiên Cứu Về Kinh A Hàm (Ãgama, Sanscrist)
(Xem: 2742)
Ai nói như sau, này các Tỷ-kheo: "Người này làm nghiệp như thế nào, như thế nào, người ấy cảm thọ như vậy, như vậy".
(Xem: 2174)
Đây là những điều tôi nghe hồi Bụt còn ở tại tu viện Cấp Cô Độc trong vườn cây Kỳ Đà ở thành Vương Xá.
(Xem: 2180)
Vào thời Đức Thích-ca-mâu-ni, không có hệ thống chữ viết được phổ biếnẤn Độ. Do đó, những thuyết giảng của Ngài được ghi nhớ và ...
(Xem: 2487)
"Lại nữa, lúc bấy giờ Mahāmati thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, ngài đã từng dạy rằng: từ lúc Như Lai chứng nghiệm giác ngộ cho đến...
(Xem: 3013)
Kinh Địa Tạng là một trong các kinh Đại thừa được phổ biến rộng rãi trong quần chúng Việt Nam từ hơn nửa thế kỷ nay song song với các kinh Kim Cương, Di Đà, Phổ Môn...
(Xem: 3539)
Nguyên tác: Tôn giả Thế Thân (Acarya Vasubandhu) - Hán dịch: Tam Tạng Pháp sư Huyền Tráng; Việt dịch: Tỳ khưu Tâm Hạnh
(Xem: 2292)
No. 1613 - Nguyên tác: Tôn giả An Huệ; Dịch Hán: Tam Tạng Pháp sư Địa-bà-ha-la; Dịch Việt: Tâm Hạnh
(Xem: 3191)
Duy thức nhị thập luận, do bồ tát Thế Thân soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường... được thu vào Đại chính tạng, tập 31, No.1590.
(Xem: 3093)
Bồ-tát Trần Na tạo luận. Tam tạng Pháp sư Huyền Trang phụng chiếu dịch. Việt dịch: Quảng Minh
(Xem: 5036)
Nghe như vầy, một thời Đức Phật ở nước Xá Vệ ở vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc cùng chúng đại Tỳ Kheo năm trăm vị. Bấy giờ các thầy Tỳ Kheo...
(Xem: 3297)
No. 699; Hán dịch: Đời Đại Đường, Trung Thiên Trúc, Tam tạng Pháp sư Địa bà ha la, Đường dịch là Nhật Chiếu
(Xem: 3578)
Đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni, bắt đầu chuyển pháp-luân, độ cho năm vị Tỳ-Khưu là Tôn-giả Kiều-Trần-Như v.v... Sau cùng, Ngài thuyết pháp độ cho ông Tu-bạt-đà-la.
(Xem: 2669)
Kinh Phạm Võng nằm trong Đại Chánh Tạng, tập 24, ký hiệu 1484, gọi đủ là Phạm võng kinh Lô xá na Phật thuyết bồ tát tâm địa giới phẩm đệ thập
(Xem: 3369)
Phật thuyết-giảng Kinh Phạm-Võng để dạy về giới-luật, và các pháp cao-siêu vượt thoát được sáu mươi hai kiến-chấp vốn là các tà-kiến đã...
(Xem: 2917)
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana, vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc). Ở đây,,,
(Xem: 3461)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Kinh Tập, Kinh số 0434; Dịch Phạn - Hán: Tam Tạng Cát-ca-dạ, Dịch Hán - Việt và chú: Tỳ-kheo Thích Hạnh Tuệ; Hiệu đính: HT Thích Như Điển
(Xem: 2652)
Đời Đường, Thận Thủy Sa Môn Huyền Giác Soạn; Thánh Tri dịch nghĩa Việt và viết bài học giải...
(Xem: 3036)
Phật giáo được khai sáng ở Ấn-độ vào năm 589 trước kỉ nguyên tây lịch (năm đức Thích Ca Mâu Ni thành đạo), và đã tồn tại liên tục, phát triển không ngừng trên ...
(Xem: 3386)
Trong truyền thống Phật giáo Bắc truyền, Dược Sư là một bản kinh thường được trì tụng nhằm mục đích giải trừ tật bệnh, cầu nguyện bình an...
(Xem: 3433)
Thích-ca là phiên âm của tiếng Phạn. Phiên âm Hán Việt là Năng Nhân. Tức là họ của đấng hóa Phật ở cõi Ta-bà...
(Xem: 4437)
Kinh chuyển Pháp luân là bài thuyết Pháp đầu tiên của Đức Phật Thích-ca sau khi Ngài đã đắc đạo.
(Xem: 3921)
Ba Ngàn Oai Nghi Của Vị Đại Tỳ Kheo - Được xếp vào tập T24 - Kinh số 1470 - Tổng cộng kinh này có 2 quyển
(Xem: 3896)
Những gì xảy ra trong thế giới này đều bị qui luật Nhân quả chi phối. Mọi thứ xuất hiện ở đời đều có nhân duyên. Hạnh phúcthế gian hay Niết bàn của người tu đạo không ra ngoài qui luật ấy.
(Xem: 4345)
Satipatthana Sutta là một bản kinh quan trọng làm nền tảng cho một phép thiền định chủ yếu trong Phật giáo là Vipassana...
(Xem: 3770)
Kinh Tứ Thập Nhị Chương là một bài Kinh được truyền bá khá rộng rải ở các Tồng Lâm Tự Viện của Trung QuốcViệt Nam từ xưa đến nay.
(Xem: 3343)
Bản dịch này được trích ra từ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh Vol. 48, No. 2010. Bởi vì lời dạy của Tổ Tăng Xán quá sâu sắc, súc tích, và bao hàm trong 584 chữ Hán,
(Xem: 4211)
Dịch từ Phạn sang Tạng: Kluḥi dbaṅ-po, Lhaḥi zla-ba; Dịch Tạng sang Việt: Phước Nguyên
(Xem: 5266)
Trí Phật là trí Kim – cang, Thân Phật là thân Kim – Sắc, cõi Phật là cõi Hoàng – kim, lời Phật tất nhiên là lời vàng.
(Xem: 3857)
Bấy giờ Hòa Thượng Vakkali nhìn thấy Đức Phật đang đi đến từ xa, và ông đã cố gắng ngồi dậy.
(Xem: 6767)
Xin dâng hết lên Tam Bảo chứng minh và xin Quý Ngài cũng như Quý Vị tùy nghi xử dụng in ấn tiếp tục hay trì tụng cũng như cho dịch ra những ngôn ngữ khác...
(Xem: 6467)
Niệm Phật Tâm Muội do HT Hư Vân soạn, Sa môn Hiển Chơn dịch; Tọa Thiền Dụng Tâm Ký do Viên Minh Quốc Sư soạn, HT Thích Thanh Từ dịch
(Xem: 4344)
Khi Bồ-tát Quán Tự Tại hành sâu Bát-nhã Ba-la-mật-đa, ngài soi thấy năm uẩn đều KHÔNG, liền qua hết thảy khổ ách.
(Xem: 20256)
Viết ra các bài Phật học thường thức này, chúng tôi không có tham vọng giới thiệu toàn bộ Phật pháp và chỉ cốt giúp cho các bạn sơ cơ hiểu được một cách đúng đắn, đạo lý năm thừa trong Phật giáo mà thôi.
(Xem: 3769)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, Kinh văn số 1675. Tác giả: Long Thọ Bồ Tát; Sa Môn Sắc Tử dịch Phạn sang Hán; HT Thích Như Điển dịch Việt
(Xem: 7241)
Thuở đó đức Phật đang ngự tại rừng Ta-la-song-thọ, ở ngoại ô thành Câu-thi-na, thuộc lãnh thổ trị vì của bộ tộc Lực-sĩ.
(Xem: 4727)
Đức Thế Tôn từ nơi cung trời Đâu-suất sinh xuống thành Ca-duy, chán đời sống dục lạc ở vương cung, thành tựu đạo chơn thường dưới cội cây...
(Xem: 4479)
Kinh Rong Chơi Trời Phương Ngoại là một phẩm của Kinh Pháp Cú Hán tạng có tên là Nê Hoàn Phẩm. Nê HoànNiết bàn (Nirvana, Nibbâna).
(Xem: 4030)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, quyển thứ 32, luận tập bộ toàn, kinh văn số 1637. HT Thích Như Điển dịch
(Xem: 4392)
Đây là kinh Pháp Quán Phạm Chí. Khung cảnh dựng lên cho kinh cũng giống như khung cảnh của kinh thứ mười một...
(Xem: 5962)
Đại Chánh Tân Tu đại tạng kinh, quyển thứ 32, kinh văn số 1680, luận tập bộ toàn. HT Thích Như Điển dịch Việt
(Xem: 4544)
Một thời, đức Bhagavat trú tại Vārāṇasi, nơi xứ Ṛṣipatana, trong rừng Mṛgadāva. Bấy giờ, đức Thế Tôn nói:
(Xem: 4261)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh quyển 32, luận tập bộ toàn, kinh văn 1671; HT Thích Như Điển dịch sang tiếng Việt.
(Xem: 4312)
Kinh Bát Đại Nhân Giác này của Đại Sư An Thế Cao từ nước An Tức sang Trung Quốc vào thời Hậu Hán (năm 132-167 sau công nguyên) soạn dịch.
(Xem: 4541)
Năm nay (2016) trong chương trình của tôi, không dự định đi sang Úc, nhưng ngày 23 tháng 6 năm 2016 vừa qua...
(Xem: 5203)
Tôi được nghe như vầy: một thuở nọ, Đức Thế Tôn đang ngụ tại vườn Nai, ở Isipatana gần Bénarès. Lúc bấy giờ...
(Xem: 3948)
Nay ở nơi chư Phật Chắp tay kính đảnh lễ Con sẽ như giáo nói Tư lương Bồ-đề Phật.
(Xem: 5340)
Lúc bấy giờ, ngài Vô-Tận-Ý Bồ-Tát (1) liền từ chỗ ngồi đứng dậy trịch áo bày vai hữu (2), chấp tay hướng Phật mà bạch rằng:
(Xem: 5186)
Bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (Taisho Shinshu Daijokyo) xuất xứ từ thời Vua Taisho (Đại Chánh) ở Nhật Bản từ đầu thế kỷ thứ 20.
(Xem: 6910)
Có lẽ Lăng Già là một trong những bộ kinh phân tích cái Tâm một cách chi li, khúc chiết nhất trong kinh điển Phật giáo.
(Xem: 5066)
Tôi nghe như vầy. Có một lúc, Đức Phật đã sống ở gần Xá Vệ (Savatthi) trong Khu Rừng Kỳ Đà (Jeta Wood) ở tu viện Cấp Cô Độc
(Xem: 5888)
Đại Chánh Tân Tu Đại tạng Kinh, quyển thứ 32 thuộc Luận Tập Bộ Toàn. Kinh văn số 1641. HT Thích Như Điển dịch
Quảng Cáo Bảo Trợ