Logo Hanh Huong
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
13,766,673
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Tập Trung Tâm Thức Chúng Ta

02 Tháng Năm 201508:40(Xem: 4080)
Tập Trung Tâm Thức Chúng Ta

 Tập Trung Tâm Thức Chúng Ta

Hãy để những sự xao lãng tan rả như những đám mây biến mất trong bầu trời.

          -MILAREPA-

 

 

Tap trung Tam ThucTrong mọi lĩnh vực của tư tưởng, chúng ta cần phải có khả năng phân tích, và rồi thì, khi chúng ta đi đến một quyết định, chúng ta cần có phải có thể đặt để tâm trí chúng ta đến điều ấy mà không dao động.  Hai khả năng này – phân tích và duy trì tập trung (tuệ và định) – là cần yếu để thấy chúng ta thật sự như chúng ta là.  Trong tất cả mọi lĩnh vực phát triển tâm linh, không kể trình độ của chúng ta là gì, chúng ta cần cả sự phân tích và tập trung để đạt đến những thể trạng mà chúng ta tìm cầu, thứ tự từ việc tìm cầu một tương lai tốt đẹp hơn, đến việc phát triển niềm tin trong nguyên nhânhiệu quả của những hành động (nghiệp), đến việc phát triển một khuynh hướng thoát ly khỏi chu kỳ của khổ đau được gọi là vòng sinh tử luân hồi, đến việc trau dồi từ ái và bi mẫn, đến việc nhận ra tính tự nhiên thật sự của con người và sự vật.  Tất cả những sự cải thiện này được thực hiện trong tâm thức bằng sự thay đổi việc chúng ta suy nghĩ như thế nào, chuyển hóa quan điểm của chúng ta qua những sự phân tích và tập trung.  Tất cả những loại thiền tập này chiếm những đặc trưng phổ biến của quán và chỉ, hay thiền quánthiền định, hoặc liễu biệt thiền và tam muội thiền, cũng còn gọi là thiền tuệ giác nội quán và thiền nhất tâm bất loạn.

 

Nếu tâm thức chúng ta phân tán rải rác, nó hoàn toàn bất lực.  Xao lãng ở đây, đãng trí ở kia mở ra những lối mòn cho những cảm xúc chướng ngại ẩn tàng đưa đến nhiều loại rắc rối.  Không có sự tập trung vững vàng, trong sáng, tuệ giác nội quán không thể biết bàn chất tự nhiên của những hiện tượng trong toàn bộ năng lực của nó. Thí dụ, để thấy một bức họa trong bóng tối, chúng ta cần một cây đèn bàn thật sáng.  Ngay cả có một cây đèn như thế, nhưng nếu nó bập bùng hay lung linh chúng ta không thể thấy bức họa một cách rõ ràng với chi tiếtCũng thế, nếu cây đèn với ánh sáng ổn định nhưng yếu ớt chúng ta cũng không thể thấy rõ ràngChúng ta cần cả sự trong sángvững vàng rộng lớn của tâm thức, cả tuệ giác nội quán và sự tập trung (tuệ và định), như một cây đèn dầu không bị xao động bởi bất cứ làn gió nào.  Như Đức Phật nói, “Khi tâm thức của con được thiết lập trong thiền quán cân bằng [giữa tuệ và định], con có thể thấy thực tại một cách thực sự như nó là.”

 

Chúng ta không có gì ngoài tâm thức hiện tại của chúng ta để hoàn thành điều này, vì thế chúng ta phải thúc đẩy những khả năng này của tâm thức này hợp tác với nhau để tăng cường tâm thức.  Một thương vụ buôn bán từng tí một nhằm để tích lũy hàng khối tiền; những khả năng của tâm thức để lĩnh hội thấu đáo những sự kiện cần thiết để phối hợp với nhau và tập trung trong cùng cách như thế do vậy chân lý có thể được thân chứng trong toàn bộ sự trong sáng của nó.  Tuy nhiên, trong thể trạng thông thường, chúng ta bị xao lãng, giống như nước chảy khắp mọi nơi, tán mõng năng lực bẩm sinh của tâm thức trong những phương hướng phức tạp, làm cho chúng ta không thể nhận thức rõ ràng sự thật.  Khi tâm thức không được tập trung, ngay khi điều gì đấy xuất hiện, nó đánh cắp mất tâm tư chúng ta; chúng ta chạy trước chạy theo tư tưởng này và rồi chạy theo tư tưởng kia, dao động và không ổn định; bất lực trong việc tập trung trên những gì chúng ta muốn trước khi bị lôi đi qua những thứ khác, sẳn sàng tàn phá chính chúng taNhư học giả - hành giả du già Ấn Độ, Tịch Thiên nói: 

 

Một người tâm tư bị xao lãng

Sống giữa những nanh vuốt của những cảm xúc phiền não.

 

TẬP TRUNG

 

Mặc dù sự kiện rằng xao lãnghiện trạng của chúng ta, những năng lực cho sự nhận biết mà tất cả chúng ta sở hữu có thể phối hợp với nhau và tập trung trên một đối tượng mà chúng ta muốn hiểu biết, khi chúng ta thực hiện trong lúc lắng nghe đến những chỉ dẫn quan  trọng.  Qua sự tập trung như thế, tất cả những sự thực tập – cho dù từ ái, bi mẫn, xu hướng vị tha để trở thành giác ngộ, hay tuệ giác thẩm thấu vào trong tự tính bản nhiên của chúng ta và những nhân duyên của tất cả mọi hiện tượng khác – được làm nổi bật một cách đột ngột, vì thế tiến trình của chúng ta nhanh chóng hơn và thậm thâm hơn nhiều.

 

Đạo Phật cung ứnng nhiều kỷ năng cho việc phát triển một  hình thức tập trung gọi là “tịch tĩnh bất biến” hay ‘nhất tâm bất loạn’.  Thể trạng hùng mạnh này của sự tập trung được mang danh xưng như thế là bởi vì trong nó tất cả những sự xao lãng, rối rắm đã được làm cho tĩnh lặngtâm thức chúng ta - sự phù hợp của chính nó – là bất loạn một cách tương tục, an lạc, và uyển chuyển trên đối tượng nội tại lựa chọn với khuynh hướng trong sáng và ổn định vững vàng.  Tại trình độ này của sự phát triền tinh thần, sự tập trung hoàn toàn không đòi hỏi bất cứ nổ lực nào nữa.

 

VƯỢT THẮNG GIẢI ĐẢI LƯỜI BIẾNG

 

Lười biếng hiện diện trong nhiều hình thức, tất cả đều đưa đến sự chần chừ, lần lựa sự thực tập đến một thời gian khác.  Đôi khi là một vấn đề thể hiện việc xao lãng đối với thiền quán bằng những hành vi đạo đức trung tính, may vá hay nghĩ đến việc làm thế nào lái xe từ nơi này đến  nơi khác, loại giải đải này có thể độc hại một cách đặc biệt bởi vì những tư tưởng và  hành vi này không được nhận thức như những vấn nạn.

 

Vào những lúc khác, lười biếng biểu hiện như sự xao lãng để suy nghĩ về những  hành động phi đạo đức, như một đối tượng của tham dục hay làm thế nào để trả thù.  Một loại khác của giải đải là cảm giác rằng chúng ta không tương xứng với nhiệm vụ thiền quán, cảm thấy thấp kémngã lòng:  “Làm thế nào một người như tôi có thể đạt được điều này!”  Trong trường hợp này chúng ta bị hụt hẩng quên nhận ra khả năng to lớn của tâm thức con ngườinăng lực của sự rèn luyện dần dần từng bước một.

 

Tất cả những sự giải đải này liên hệ đến việc không nhiệt tình với thiền tập.  Làm thế nào có thể vượt thắng chúng?  Sự quán chiếu về những thuận lợi của việc đạt đến tính linh động của tinh thầnthân thể sẽ phát sinh nhiệt tình cho thiền quán và làm mất tác dụng của lười biếng.  Một khi chúng ta đã đạt được niểm hỉ và lạc của thiền tập của sự linh động thân thểtinh thần chúng ta có thể trụ thiền lâu dài bao nhiều tùy ý chúng ta muốn.  Vào lúc ấy tâm thức chúng ta hoàn toàn được thuần hóa vì thế chúng ta có thể trực tiếp hướng nó đến bất cứ hành vi đạo đức nào; tất cả những tình trạng rối loạn chức năng của thân thểtâm thức sẽ bị xóa sạch.

 

NHỮNG ĐIỀU KIỆN ĐỂ THỰC HÀNH

 

Đối với những người mới bắt đầu, những nhân tố bên ngoài có thể xem như tác động đối với thiền quán bởi vì năng lực tinh thần nội tại không đặc biệt mạnh mẽ.  Điều này là tại sao giới hạn những hành vi ồn ào và có một nơi yên tĩnh để thiền tập là rất hữu ích.  Khi kinh nghiệm nội tại của chúng ta được phát triển thuận lợi, những điều kiện ngoại tại sẽ không ảnh hưởng nhiều.

 

Ở mức độ sơ khởi này của việc trau dồi tịch tĩnh bất biến - nhất tâm bất loạn hay thiền chỉ - chúng ta cần một nơi lành mạnh để thực tập, tránh xa những hành vi bận rộn và những người thúc đẩy tham dục hay sân hận.  Bên trong, chúng ta cần biết toại nguyện, không có những khát vọng mạnh mẽ vì thực phẩm, áo quần, và v.v… nhưng hài lòng với sự điều độChúng ta cần giới hạn những hành vi của chúng ta, từ bỏ bạo động hay chấn độngTình trạng bận rộn nên được bỏ lại sau lưng.  Điều quan trọng đặc biệtthái độ đạo đức, là điều mang đến sự thư thái, hòa bình, và chu toàn tận tình.  Tất cả những điều chuẩn bị sơ bộ này sẽ giúp chúng ta giảm thiểu những sự xao lãng thô thiển.

 

Khi tôi trở thành một vị tu sĩ, thệ nguyện hay giới luật của tôi đòi hỏi giới hạn những hành vi bên ngoài, mà nó đặt sự nhấn mạnh hơn trên sự phát triển tâm linh.  Sự thận trọng giản dị làm cho tôi tỉnh thức về thái độ và đưa tôi vào trong việc quan tâm đến những gì xãy ra trong tâm thức tôi nhằm để làm chắc chắn rằng tôi không bị lạc hướng với những thệ nguyện hay giới luật của tôi.  Điều này có nghĩa là ngay cả khi tôi không thực hiện một nổ lực có ý thức lúc thiền quán, tôi cũng thu thúc tâm thức của tôi không bị lang thang và vì thế liên tục đưa vào phương hướng của thiền quán nhất niệm nội tại.

 

Người ta đôi khi nhìn vào những thệ nguyện đạo đức (giới luật) như sự kềm hảm hay ngược đãi, nhưng điều đó hoàn toàn sai.   Giống như chúng ta thực hiện sự kiêng khem để cải thiện sức khỏe chúng ta và không phải hành hạ chính chúng ta, vì thế những quy tắcĐức Phật thiết lập có khuynh hướng để kiểm soát những thái độ chướng ngại ẩn tàng và chiến thắng những cảm xúc phiền não bởi vì những điều này là tai hạiVì lợi ích của chính chúng ta, chúng ta kiềm chế những động cơ và hành vi có thể sản sinh khổ đau.  Thí dụ, qua một vụ nhiễm trùng dạ dày mà tôi đã có một vài năm trước đây, bây giờ tôi tránh những thực phẩm chua và thức uống lạnh mà nếu không thì tôi sẽ thưởng thức chúng.  Chế độ dinh dưỡng như vậy cung ứng cho tôi một sự bảo vệ, chứ không phải là trừng phạt.

 

Đức Phật thiết lập những thể loại phong cách nhằm để cải thiện lợi ích của chúng ta, không phải trao cho chúng ta một hạn chế khó khăn.  Những quy luật tự chúng làm cho tâm thức có lợi cho tiến trình tâm linh.

 

TƯ THẾ

 

Tư thế thiền quán là quan trọng, vì nếu chúng ta làm thân thể chúng ta thẳng lên, những kinh mạch năng lượng trong thân thể cũng sẽ trở nên thẳng, cho phép năng lượng tuôn chảy trong những kinh mạch này cân bằng, là điều có chiều hướng sẽ giúp đở trong việc quân bình tâm thức chúng ta và đặt nó trong sự phục vụ chúng ta.  Mặc dù thiền quán có thể ngay cả tiến hành bằng cách nằm xuống, nhưng ngồi tréo chân với bảy đặc trưng sau đây là lợi ích

 

1-    Ngồi tréo chân (xếp bằng), với một chiếc gối riêng bên dưới.

2-    Tịch tĩnh bất biến (thiền chỉ hay nhất tâm bất loạn) được trau dồi bằng việc tập trung tâm thức không phải trên một đối tượng ngoại tại mà trên một đối tượng nội tại.  Với đôi mắt chúng ta không mở rộng cũng không khép kín lại mà hơi mở ra một tí, nhìn xuống phía trước đầu mũi nhưng không căng thẳng; nếu điều này không thoãi mái, hãy nhìn xuống sàn nhà phía trước chúng ta.  Để đôi mắt chúng ta mở ra nhẹ nhàng.  Tác dụng của cái nhìn sẽ không làm chán nãn tâm ý của chúng ta.  Sau này, nếu đôi mắt chúng ta nhắm lại theo ý muốn của chúng cũng không sao.

3-    Làm thẳng xương sống chúng ta, giống như một mũi tên hay một chồng tiền xu, mà không uốn cong lưng hay ưởn ra phía trước.

4-    Giữ đôi vai cân bằng, với những bàn tay bốn ngón bề ngang để ngang rốn, với bàn tay trái ngửa lên, và bàn tay phải ở phía bên trên nó, cũng ngửa lên, hai ngón cái giao nhau thành hình tam giác.

5-    Giữ đầu chúng ta cân bằng và thẳng, vì thế mũi chúng ta cùng đường thẳng với rốn, nhưng hơi cong cổ chúng ta, như một con công.

6-    Để đầu lưỡi chúng ta chạm đốc vọng gần răng cửa, sau này có thể cho phép chúng ta chịu đựng một thời gian dài trong thiền tập mà không chảy nước mũi.  Nó cũng sẽ giữ cho chúng ta khỏi thở quá mạnh, có thể làm khô miệng và cổ chúng ta.

7-    Thở vàothở ra yên tĩnh, nhẹ nhàng, và bằng thẳng.

 

THỰC TẬP HƠI THỞ ĐẶC BIỆT

 

Vào lúc bắt đầu buổi thực tập, thật hữu ích để loại trừ năng lượng của những luồng chướng ngại ẩn tàng, được gọi là “những luồng khí” hay “gió”, từ thân thể chúng ta.  Giống như vứt bỏ rác rưởi, đây là những chuỗi của chín hơi thở vào và  thở ra giúp chúng ta dọn sạch những thôi thúc đối với tham dục hay thù hận mà chúng ta có thể có trước buổi thực tập.

 

Đầu tiên, thở vào sâu qua lỗ mũi phải bằng việc ấn lên lỗ mũi trái để đóng nó lại với ngón tay cái trái của chúng ta; rồi thì mở lỗ mũi trái và ấn lên lỗ mũi phải  để đóng nó lại với ngón tay giữa trái, thở ra qua lỗ mũi trái.  Làm việc này ba lần.  Sau đấy, thở vào sâu qua lỗ mũi trái bằng việc tiếp tục ấn đóng lỗ mũi phải với ngón tay phải trái; rồi mở lỗ mũi phải và ấn đóng lỗ mũi trái với ngón tay cái trái, thở ra qua lỗ mũi phải.  Làm điều này ba lần.  Sau cùng, đặt lưng tay trái trong lòng chúng ta như được diễn tả trong mục trước và thở vào sau qua cả hai lỗ mũi, rồi thì thở ra qua hai lỗ mũi.  Làm điều này ba lần, trong tổng cộng chín hơi thở.  Khi thở vàothở ra, tập trung tất cả tư tưởng trên hơi thở vào và hơi thở ra, suy nghĩ, “thở vào” và “thở ra”, hay đếm mỗi cặp của hơi thở vào và thở ra từ một đến mười và rồi trở lại một.  Giữ sự tập trung trên hơi thở của chúng ta, và điều này tự nó sẽ làm cho tâm thức chúng ta trong sáng hơn và rộng rãi  hơn, tạm thời tự do khỏi bất cứ đối tượng nào của tham dục hay thù hận mà chúng ta có thể có, để cho tâm tư chúng ta tươi tắn khỏe khoắn.

 

Tại lúc này, hãy đem động cơ vị tha của chúng ta, niểm khát vọng hổ trợ người khát, đầy sức sống trong tâm thức; nếu chúng ta đã cố gắng đặt một quan điểm đạo đức trước đấy, trong khi dưới sự ảnh hưởng của tham dục hay thù hận, nó sẽ khó khăn, nhưng bây giờ nó dễ dàng hơn.   Sự thực tập hơi thở này giống như đang chuẩn bị một tấm vải để nhuộm; sau khi giặt, nó sẽ thấm thuốc nhuộm dễ dàng hơn.

 

Tập trung tất cả tâm tư chúng ta chỉ trên hơi thở, là điều mà chúng ta luôn luôn có với mình và không cần tưởng tượng điều gì mới mẻ, sẽ làm cho những tư tưởng trước đây hòa tan đi, làm cho sự tập hợp tư tưởng của chúng ta trong những bước tiếp theo dễ dàng hơn.

 

ĐỐI TƯỢNG

 

Bây giờ hãy để chúng ta lưu tâm đến đối tượng nào mà chúng ta nên tập trung trong khi thực tập tịch tĩnh bất động (tam muội thiền, nhất tâm hay thiền chỉ).  Vì hậu quả của những cảm xúc tàn phá trước đây có khuynh hướng nấn ná tiềm tàng trong tâm thức, cho nên bất cứ cố gắng nào đề tập trung tâm tư, chúng ta dễ dàng bị ngắt quảng bởi những năng lực này.   Nếu chúng ta đã tìm hiểu tính không của sự tồn tại cố hữu một cách mạnh mẽ, chúng ta có thể đem hình tượng của tính không như chủ đề tập trung của chúng ta, nhưng khởi đầu thật khó khăn để tập trung trên một đề mục sâu sắc như vậy.  Thông thường hơn, chúng ta cần một đối tượng đề chú ý mà nó sẽ làm yếu cảm xúc tàn phá trước đây của chúng ta, cho dù điều này là tham dục hay thù hận, mê muội, tự hào, hay tư tưởng thừa thãi.  Những điểm tập trung thường đối lập với những khuynh hướng này được gọi là “những tư tưởng cho việc tịnh hóa thái độ.”

 

Nếu cảm xúc tàn phá vượt trội của chúng tatham dục, chúng ta phải cân bằng một người hay một vật hấp dẫn tương tợ với sự tham muốn ngay lúc ấy.  Trong trường hợp này, chúng ta có thể thiền quán trên những cấu thành thân thể chúng ta từ đỉnh đầu đến bàn chân của chúng ta – da, thịt, máu, xương, tủy, nước tiểu, phân, và v.v… Hãy thấy một cách nông cạn, thân thể có thể xem như xinh đẹp, nhưng nếu chúng ta quan tâm một cách gần gũi những bộ phận của nó cho những mục tiêu của những bài tập  này, nó không quá đẹp.  Một tròng con mắt thôi có thể là dễ sợ.  Hãy lưu tâm đến mọi thứ từ tóc chúng ta đến móng tay và móng chân của chúng ta.

 

Một lần nọ, khi tôi đang viếng thăm Thái Lan, gần cổng của một tu viện có những tấm hình của một xác chết trãi qua ngày này đến ngày khác trong nhiều ngày.  Những giai đoạn của phân hủy là rõ ràng; những tấm hình thật sự rất hữu ích.  Thân thể chúng ta có thể dường như xinh đẹp, với sức khỏe tốt, chắc nịch và mềm mại để xúc chạm; tuy thế, khi nhìn những thành phần cấu thành nó một cách gần gũi và sự tan rã mà nó có thể phải chịu, chúng ta thấy bản chất tự nhiên của nó là khác biệt.

 

Nếu cảm xúc tàn phá nổi bật của chúng ta theo thái độ quá khứ trãi qua nhiều kiếp sống là thù hận và thất vọng, có nghĩa là chúng ta nổi giận rất nhanh chóng, và ngay cả mất sự tự chủ  với người khác, chúng ta có thể trau dồi yêu thương qua nguyện ước rằng những người đánh mất hạnh phúc được ban cho hạnh phúc và những nguyên nhân hạnh phúc.

 

Nếu cảm xúc tàn phá nổi bật của chúng tasi mê và tăm tối, có lẽ, qua sự tin tưởng rằng mọi hiện tượng xãy ra không có nguyên nhânđiều kiện (không nhân duyên), hay rằng tự ngã hoạt động dưới năng lực của chính nó, chúng ta có thể thiền quán trên sự sinh khởi tương duyên của mọi hiện tượng (quán duyên sinh), sự tùy thuộc của chúng trên những nguyên nhânChúng ta cũng có thể quán chiếu tiến trình tái sinh trong vòng luân hồi , [mười hai nhân duyên], bắt đầu với vô minh si ámchấm dứt với già và chết.  Một trong hai thứ này sẽ xói mòn sự mê muội của những ý tưởng sai lầm cùng vô minh và làm tăng tiến sự thông minh.

 

Nếu cảm xúc nổi bật của chúng ta mang theo từ quá khứ là tự kiêu, chúng ta có thể thiền quán trên những đặc trưng của hiện tượng trong phức hệ thân – tâm.  Chú ý đến nhiều nhân tố này làm xói mòn cảm giác của một tự ngã riêng biệt với chúng.  Cũng thế, khi chúng ta lưu tâm những điều này trong chi tiết, chúng ta sẽ nhận thấy rằng có nhiều thứ mà chúng ta không biết, do vậy đánh thủng cảm giác phóng đại chồng lên của chúng ta về tự ngã.  Ngày nay, những nhà khoa học, chẳng hạn như những nhà vật lý, có những đặc trưng của họ về những hiện tượng, chẳng hạn như sáu loại vi lượng – ngữa, úp, hấp dẫn, kỳ lạ, đỉnh và đáy – và bốn năng lực - điện từ, lực hấp dẫn, hạt nhân mạnh, hạt nhân yếu – những thứ, mà nếu chúng ta nghĩ chúng ta biết tất cả, sẽ đánh thủng lòng tự kiêu khi chúng ta quan tâm về chúng.   Chúng ta sẽ chấm dứt sự suy nghĩ, “Tôi không biết gì cả.”

 

Nếu cảm xúc phiền não nổi bật của chúng ta là phát sinh quá nhiều tư tưởng, vì thế chúng ta quẩn quanh suy nghĩ về điều này và điều kia, chúng ta có thể thiền quán với hơi thở ra và hơi thở vào như được diễn tả trong phần trước.  Khi chúng ta tập trung tâm thức của chúng ta trên hơi thở, dòng suối dường như không ngừng của những tư tưởng rong ruỗi ở đây và ở kia sẽ lập tức giảm bớt.

 

Nếu chúng ta không có những tư tưởng tàn phá nổi bật, chúng ta có thể chọn bất cứ đề mục nào trên đây.

 

ĐỐI TƯỢNG ĐẶC BIỆT

 

Một đối tượng hữu ích của thiền quán cho tất cả mọi loại cá nhân là một hình tượng của Đức Phật, hay một biểu tượng tôn giáo nào khác, vì việc tập trung trên đấy sẽ thấm nhuần tâm thức chúng ta với những phẩm chất đạo đức.  Nếu bằng vào việc đưa biểu tượng này đến tâm thức chúng ta liên tục, chúng ta sẽ hình dung điều ấy một cách rõ ràng, nó sẽ duy trì với chúng ta trong suốt những hành vi  hằng ngày, giống như chúng ta ở trong sự hiện diện của một Đức Phật.  Khi chúng ta bệnh tật hay trong cơn đau đớn, chúng ta sẽ có thể đánh thức sự hiện diện diệu kỳ này.  Ngay cả khi chúng ta lâm chung, một Đức Phật sẽ xuất hiện liên tục trong tâm thức chúng ta, và tâm thức của kiếp sồng này sẽ kết thúc trong một thái độ sùng mộ sinh động.  Điều này sẽ hữu ích, có phải không?

 

Trong thiền quán của chúng ta, hình dung một Đức Phật thật sự, không phải là một bức hình hay một bức tượng cứng nhắc.  Đầu tiên chúng ta cần phải biết hình dáng của một vị Phật đặc thù rõ rệt qua nghe đến một Đức Phật được diễn tả hay nhìn vào một bức hình hay một bức tượng, làm cho trở nên quen thuộc với hình dáng ấy vì thế một hình tướng của Đức Phật có thể xuất hiện trong tâm thức chúng ta.  Đối với người mới bắt đầu, tâm ý dễ dàng bị rải rác nơi này và nơi  kia đến đủ loại đối tượng, nhưng chúng ta biết từ kinh nghiệm của chính chúng ta rằng nếu chúng ta nhìn chăm chăm vào một đối tượng như một bông hoa, sự lang thang này sẽ giảm bớt.  Trong cùng cách như thế, khi chúng ta nhìn chăm chăm vào một hình tượng Phật với đôi mắt của chúng ta, sự tán loạn sẽ nhỏ dần, và rồi dần dần chúng ta có thể làm cho hình tượng xuất hiện trong tâm thức chúng ta.

 

Hãy tưởng tượng đối tượng tôn giáo ngang bằng với chân mày của chúng ta, khoảng năm hay sáu bộ (1,5m – 1,8m) phía trước chúng ta; cao khoảng một đến bốn inch (3cm – 10 cm).  Đối tượng càng nhỏ nó càng dễ tập trung trong tâm thức, nó phải rõ ràng và sáng rở, phát ra ánh sáng nhưng dày chặc.  Sự tỏa sáng của nó sẽ giúp chúng ta giữ mô thức tâm ý của nhận thức khỏi bị quá lõng lẽo; sự dày chặc của nó sẽ giúp chúng ta giữ tâm ý khỏi bị dàn trãi qua những đối tượng khác.

 

Nếu chúng ta quá cố gắng để làm cho đối tượng sáng rở và rõ ràng, điều này sẽ gây trở ngại, liên tục điều chỉnh độ sáng của nó sẽ ngăn trở việc ổn định đối với sự tiến bộVừa phảicần thiết.  Một khi đối tượng xuất hiện ngay cả lờ mờ, hãy bám nó.  Sau này, khi đối tượng ổn định rõ ràng, chúng ta có thể dần dần điều chỉnh ánh sáng và sự rõ ràng của nó mà không đánh mất hình tượng ban đầu.

 

Phản Chiếu Thiền Quán

 

1-    Hãy nhìn kỷ vào một hình tượng của Đức Phật, hay những tranh ảnh tôn giáo khác hay một biểu tượng, chú ý hình dáng, màu sắc, và những chi tiết.

2-    Hành động làm cho hình tượng này xuất hiện trong ý thức nội tại của chúng ta, tưởng tượng nó cùng mức độ ngang chân mày của chúng ta, khoảng năm hay sáu bộ  (1,5m – 1,8m) phía trước chúng ta, cao khoảng một đến bốn inch (3cm – 10 cm) – càng nhỏ càng tốt, và chói lọi rở ràng.

3-    Xem hình tượng là thật sự, được phú cho với những phẩm chất tuyệt diệu của thân thể, lời nói, và tâm ý.

 

 

Trích từ quyển How to See Yourself as You Really Are của Đức Đạt Lai Lạt Ma 
Tuệ Uyển chuyển ngữ

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 65)
Phép luyện tập thiền định được hỗ trợ bởi sự thực thi các hành động vị tha, các hành động đó đồng thời cũng được thúc đẩy bởi tình thương yêu và lòng từ bi.
(Xem: 138)
Nếu đủ sức duy trì một cách đúng đắn sự nhận biết tâm thức thần bí nhất thì kết quả mang lại từ phép luyện tập đó sẽ trợ lực các bạn rất nhiều
(Xem: 223)
Thời-không vũ trụ chứa hàng triệu, tỉ, hàng ức cho đến không máy móc nào đếm hằng hà sa số hành tinh như trái đất mới biết con người là một sinh thể gần như bằng không.
(Xem: 280)
Trong các bài kinh thuộc hệ A Hàm hay kinh Đại Bát Niết Bàn v.v… Phật có nói đến địa ngục. Đề Bà Đạt Đa, Tì kheo Thiện Tinh, vua Lưu Ly v.v… đều đọa vào địa ngục ngay khi chết.
(Xem: 147)
Xét về niên đại, bản kinh có mặt ở thời Hậu Hán (23-220), xuất hiện trong Cao Tăng Truyện quahành trạng của ngài Nhiếp-ma-đằng (攝摩騰)[2].
(Xem: 178)
Thể dạng lắng sâu thường xuyên bên trong tâm thức thần bí nhất chỉ có thể thực hiện được với những người có một khả năng thật bén nhạy.
(Xem: 913)
Bài viết này sẽ khảo sát một số thắc mắc thường gặp về Thiền Tông, hy vọng sẽ tiện dụng cho một số độc giả còn nhiều nghi vấn.
(Xem: 616)
Thức Thứ Tám hay A Lại Ya là thức chủ trong 8 thức. Thức nầy có nhiều cách gọi khác nhau để chỉ về nhiệm vụ của mình. Tựu chung thức nầy có 3 việc chính là: Năng tàng, Sở tàng và Ngã ái chấp tàng.
(Xem: 623)
Khi còn vướng mắc trong sự tạo tác triền miên của khái niệm, chẳng hạn như suy nghĩ về cái đúng, cái sai, v.v. , thì các bạn sẽ không thể nào bước vào con đường tu tập về
(Xem: 544)
Học phái dịch thuật xưa của Phật giáo Tây Tạng đưa ra nhiều cách luyện tập dựa vào các phương pháp khác biệt nhau, gọi là các "cỗ xe"/thừa.
(Xem: 832)
Thần tài trong Phật giáo, cụ thểPhật giáo Bắc truyền đã vay mượn giữa hình ảnh Bố Đại hòa thượng và các truyền thuyết về thần tài Trung Hoa, để tổng hòa nên một vị thần tài có nguồn gốc ngoài Phật giáo.
(Xem: 1016)
Thời Đức Phật tại thế, Ấn Độít nhất mười sáu tiểu vương quốc, mỗi vương quốc đều có ngôn ngữ hay phương ngữ riêng, nhưng có lẽ người dân của mỗi nước đều có thể giao tiếp và hiểu nhau được.
(Xem: 545)
Trong các kinh sách thừa hưởng từ [Phật giáo] Ấn Độ thì nguyên tắc căn bản đó lúc thì được gọi là "tâm thức tự tại
(Xem: 921)
Kinh Hoa Nghiêm tiếng Sanskrit là Avatamsaka, tiếng Nhật là Kégon Kyo. Kinh nầy bằng tiếng Sanskrit do Bồ Tát Long Tho (Nagarjuna) soạn vào khoảng thế kỷ thứ 2 Tây Lịch.
(Xem: 582)
Con người muốn có cuộc sống an lạchạnh phúc, cần phải tu nhơn tạo phước, chứ không phải chỉ cầu nguyện...
(Xem: 555)
Phát huy sự chú tâm đúng đắn hướng vào một điểm nhằm mục đích gì? Việc luyện tập đó không nhất thiết là chỉ để giúp tâm thức đạt được một mức độ tập trung thật cao...
(Xem: 925)
Đức Đạt Lai Lạt Ma Nói Về Phật Giáo Ứng Dụng - Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma, Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 951)
A Dục, Asoka (Sanskrit). Khi đức Phật Thích ra đời, Vua A Dục là một đứa trẻ, trong lúc đang chơi đức Phật đi ngang qua, đứa trẻ đem cát mà coi như cơm cúng dường đức Phật...
(Xem: 1032)
Hàng ngày các Phật tử có thể “Xưng danh hiệu” hay “Niệm danh hiệu” của chư Phật, tức là đọc tên của chư Phật và tưởng nhớ đến các ngài.
(Xem: 700)
Trong Phật giáo, giải thoát hay thoát khỏi luân hồi là một đề tài vô cùng lớn lao. Ngay cả những người Phật tử đã học qua giáo lý, cũng mường tượng sự giải thoát như ...
(Xem: 588)
Như Lai có thể diễn tả những gì Ngài muốn bằng bất kỳ ngôn ngữ nào
(Xem: 951)
Thuật Ngữ nầy có liên hệ đến rất nhiều Thuật Ngữ khác trong Kinh Điển Phật Giáo như: Thủy Giác, Chân Như, Như Lai Tạng, Pháp Tánh, Pháp Giới, Niết Bàn, Pháp Thân, Phật Tánh, Giải Thoát Thực Chất, Toàn Giác v.v…
(Xem: 529)
Chánh pháp của Đức Phật hay Đạo Phật được tồn tại lâu dài, đem lại hạnh phúc an lạc cho chúng sanh, chư thiênloài người.
(Xem: 541)
“Đạo Phật nhấn mạnhtu tập giúp chúng ta loại bỏ những tà kiến, chứ không phải là nơi tập hợp các hí luận”.
(Xem: 552)
Kinh Niệm Xứ (satipaṭṭhānasutta) là kinh thu gọn của Kinh Đại Niệm Xứ (Mahāsatipaṭṭhānasutta). Kinh này là một kinh rất quan trọng trong việc giải thích cách thực hành bốn phép quán
(Xem: 1205)
Bài viết này sẽ phân tích Bát Nhã Tâm Kinh dưới cái nhìn bất nhị, hy vọng sẽ làm sáng tỏ bài kinh cốt tủy này như một lối đi của Thiền Tông
(Xem: 820)
Đọc “Chú Lăng Nghiêm-Kệ và giảng giải“ Của Hòa Thượng Tuyên Hóa, do TT Thích Minh Định dịch từ Hoa ngữ sang Việt ngữ
(Xem: 896)
Đa số Phật Tử cầu được cứu độ, giải thoát khỏi khổ đau, và giác ngộ nhưng vẫn mâu thuẫn, chấp luân hồi, luyến tiếc cõi trần nên nghiệp thức luôn luôn muốn trở lại cái cõi đời, chấp khổ đau rồi tính sau.
(Xem: 612)
Đạo Phật khai sinh ở Ấn Độ mà cũng hoàn toàn biến mất ở Ấn Độ; nhưng nhiệt tâm hoằng pháptruyền bá của thế hệ các tăng sĩ tiền bối...
(Xem: 947)
Bài viết này để nói thêm một số ý trong Bát Nhã Tâm Kinh, cũng có thể xem như nối tiếp bài “Suy Nghĩ Từ Bát Nhã Tâm Kinh”
(Xem: 813)
Nhân duyên là thực lý chi phối thế gian này. Không có một pháp nào hiện khởi hay mất đi mà không theo qui luật “Có nhân đủ duyên mới có quả”.
(Xem: 979)
Việc dịch lại Tâm Kinh của Thiền sư Nhất Hạnh tuy theo ý thầy là dành riêng cho các đệ tử của thầy trong Làng Mai khi thầy nói với “các con” của thầy...
(Xem: 790)
Sau khi Đức Phật tịch diệt được khoảng 150 năm thì giáo pháp của Ngài tách ra hai đường hướng:
(Xem: 743)
Giúp đỡ người nghèo khó là một phẩm tính cố hữu của con ngườixã hội loài người. Phẩm tính này vốn tồn tại từ thời xa xưa và vẫn được duy trì trong xã hội hiện đại.
(Xem: 1302)
Làm Thế Nào Có Được Trí Tuệ Lớn Để Đạt Đến Bờ Giải Thoát - Đó phải là quán chiếu, thực hành, tu tập theo giáo lý bát nhã
(Xem: 623)
Nhiều người trong chúng ta đã theo dõi sự phát triển về di truyền học mới đã tỉnh thức về sự băn khoăn lo lắng sâu xa của công luận đang tập họp chung quanh đề tài này.
(Xem: 689)
Trong các nước thuộc truyền thống Phật giáo Bắc truyền, có một vị Bồ-tát thường được gọi là Quan Âm hay Quán Âm.
(Xem: 686)
Theo kinh, luật quy định, chư Tăng thời Đức Phật không được nhận kim ngân bảo vật. Nói rõ hơn là không được nhận tiền bạc hoặc quý kim tương đương.
(Xem: 832)
Bấy giờ bỗng nhiên đức Thế Tôn yên lặng. Một lát sau, Ngài lại nói: “Thôi đủ rồi, Xá-lợi-phất, không cần nói nữa. Vì sao ?
(Xem: 651)
Trong Phật giáo cũng có giới luật do Đức Phật chế định. Nhưng những luật này không bắt buộc mọi người phải tuân theo mà nó ...
(Xem: 684)
Trong kinh Tăng nhất A-hàm Đức Phật nhận định: “Ta không thấy một pháp nào tối thắng, tối diệu, nó huyền hoặc người đời khiến không đi đến nơi vĩnh viễn tịch tĩnh
(Xem: 564)
Nguyên lý làm tư tưởng nền tảng cho lập trường Pháp hoa chính là cở sở lý tính duyên khởigiáo nghĩa Phật tính thường trú, được biểu hiện qua...
(Xem: 683)
Trong sự trổi dậy của khoa học về thức và sự khảo sát về tâm cùng những thể thức đa dạng của nó, Phật giáo và khoa học nhận thức có những sự tiếp cận khác nhau.
(Xem: 901)
Đối với mọi người nói chung thì lúc chết là khoảng thời gian quan trọng nhất.
(Xem: 598)
Nếu nói về việc học, việc tu của chư Tăng Ni Phật Giáo thì tự ngàn xưa Đức Phật đã là một bậc Thầy vĩ đại đảm trách làm một Hướng đạo sư cho mọi người quy về.
(Xem: 796)
Bài viết này ghi lại một số suy nghĩ về Bát Nhã Tâm Kinh, một bản kinh phổ biến trong Phật giáo nhiều nước Châu Á, trong đó có Việt Nam.
(Xem: 651)
Dharma tức Giáo Huấn của Đức Phật cho chúng ta biết rằng tất cả mọi thứ đều tương liên và tương tác với nhau
(Xem: 694)
Kinh Pháp Hoa nói: “Pháp hy hữu khó hiểu đệ nhất mà Phật thành tựu, chỉ Phật cùng Phật mới có thể thấu suốt thật tướng của các pháp.
(Xem: 880)
Tất cả những điều này rất kỳ diệu không những đối với người Phật Tử mà còn cho những người của các tôn giáo khác nữa.
(Xem: 987)
Là người sống ở thế gian, có ai tránh khỏi một đôi lần gặp bất trắc, tai ương lớn hay nhỏ.
(Xem: 635)
Nguyên tác: Toward a Science of Consciousness, Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma, Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 852)
Con đường thực nghiệm tâm linh dẫn đến đời sống giải thoátgiác ngộ đã được đức Phật giảng dạy ở trong các kinh điển...
(Xem: 980)
Vấn đề [tâm] thức đã hấp dẫn nhiều sự chú ý tuyệt mỹ trong lịch sử dài lâu của tư tưởng triết lý Phật giáo.
(Xem: 1111)
Đối nghịch với khoa học, trong Phật giáo không có sự thảo luận triết lý trọng yếu về vấn đề những sinh vật sống xuất hiện từ vật chất vô tri giác...
(Xem: 1238)
Nguyên tác: The Big Bang and The Buddhist Beginningless Universe; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 1044)
Âm nhạc fanbei (việc tụng niệm các bài kinh dịch âm từ tiếng Phạn) đã ảnh hưởng và góp phần tạo ra gia tài văn hóa của Trung Quốc qua nhiều đế quốc và triều đại
(Xem: 764)
Trong vô lượng pháp môn tu theo đạo Phật, không pháp môn nào không nhằm “mục đích ban vui cứu khổ cho hết thảy chúng sanh”.
(Xem: 728)
Trong lịch sử nhân loại, tùy theo ảnh hưởng của tư tưởng, văn hóa… mà các thể thức tang nghi cũng như phương cách xứ lý xác thân sau khi chết, được thực hiện với nhiều phương cách đặc thù.
(Xem: 941)
Người xuất gia đích thực thì không khác gì người cày ruộng, gieo trồng, bón phân để thu hoạch thốc lúa.
(Xem: 908)
Quan Âm Truyền Thuyết (Tuyển Tập) Diệu Hạnh Giao Trinh Chuyển Ngữ
Quảng Cáo Bảo Trợ