Logo HHAD 2018 250
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
14,710,025
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Thấy Pháp Tức Thấy Như Lai

18 Tháng Ba 201614:52(Xem: 3309)
Thấy Pháp Tức Thấy Như Lai

THẤY PHÁP TỨC THẤY NHƯ LAI

 Mãn Tự    

Thấy Pháp Tức Thấy Như Lai

       

         Trong hai hệ kinh điển Đạo Giác Ngộ mà người tu học đang thực hành theo: một là Nguyên Thủy, một là Đại Thừa; tuy nhiên dù là Đại Thừa hay Nguyên Thủy thì trong chúng ta ai cũng có niềm tin không lay động rằng: đó là những lời của Đấng Giác Ngộ Chánh Đẳng Chánh Giác Thế Tôn Như Lai để lại mà hiện giờ chúng ta gọi là Pháp.

        Tất cả tôn giáo trên hành tinh này, căn bản truyết thuyết giáo lý đều hướng ngoại giới, nên các vị Giáo Chủ dạy tín đồ thực hành tu tập theo để đến được các cõi hay cao hơn nữa là được hòa nhập vào một Đấng nào đó mà vị Giáo Chủ tưởng tượng ra… Thí dụ như Lão Giáo của Trung Hoa thì hòa vào cùng “Đạo”, còn Ấn Giáo thì tiểu ngã nhập vào Đại Ngã, Phạm Thiên, Tự Tại Thiên… Hay Thiên Chúa Giáo thì được về hầu bên Chúa, Thượng Đế, God… Chỉ có Đấng Đại Giác nói rằng “Thấy ‘Pháp’ tức thấy Như Lai”. Như Lai là một trong mười danh hiệu của Thế Tôn. Vậy thế nào là “Pháp” và tu học như thế nào để “thấy Pháp”.

        Các bộ kinh chúng tahiện giờ ‘NIKAYA’ thì gồm có: Tiểu A Hàm, Trung A HàmTrường A Hàm riêng của Nguyên Thủy; cộng thêm mười hai bộ kinh Phương Quảng Đại Thừa. Trường phái Nguyên Thủy thì không chấp nhận kinh Phương Quảng, còn Đại Thừa thì Phương Quảng hay NIKAYA cũng không có gì khác biệt. Tuy nhiên, một nghi tình to lớn đặt ra ở đây là! “Tất cả văn tự trong hai hệ kinh điển có phải là “Pháp” hay không? Nếu là “Pháp” thì những vị làu thông kinh điển tức đã thấy Như Lai? Còn nếu nói không phải “Pháp” tức mang nghiệp phỉ báng kinh.

        “Pháp” là một từ ngữ mà nghĩa thì vô cùng thâm diệu rất dễ lầm lẫn giữa cái thực và giả, giữa phương tiệncứu cánh, giữa cái hiện hữu và phi hiện hữu, nói chung là giữa hai mặt. Nói hai mặt là sự nhận thức lầm lẫn của nhân gian, nhận thức lầm lẫn như thế nào? Thí dụ câu công án “Khi chưa sinh ra ta là gì?”, với vị Giác Ngộ thì câu trả lời là “Chưa từng khác”. Tuy nhiên với nhận thức thì nó lại hiểu rằng “Chưa từng khác là giống”. Thật ra chưa từng khác thì chẳng liên quan gì tới chữ “giống” hết. Tự tánh hiểu biết của nhận thức là do đối đãi mà có, vì vậy những lời lẽ trong kinh mà hiểu theo nhận thức thì tức là từ ngữ, câu văn và nghĩa của đối đãi. Trí thức phát sinh hiểu “Pháp” theo nghĩa đối đãi tức phàm nhân, ngoại đạo, nhị thừacho đến Bồ Tát đệ thất Viễn Hành Địa.

        Cảnh giới người không- ta không, phi thiện ác, Liễu sanh tử thật không thể nào diễn tả bằng ngôn ngữ dù người đó có biện tài như thế nào đi nữa cũng không làm cho người nghe thâm nhập vào được, mà chỉ khiến cho sự hiểu càng thêm vạy vọ mà thôi; cũng như đem màu sắc để nói với người khiếm thị khi mới sinh ra.

        Người không- ta không là cảnh giới tâm tịch tịnh, là thậm thâm tịch tịnh, là vi diệu tâm, là Mâu Ni. Tuy nhiên để viên thành Bồ Đề Chánh Đẳng Chánh Giác thì phải học Bồ Tát Hạnh cho đến khi Tâm thấy hai vô ngã, dứt hai chướng phiền nãosở tri lìa hai sanh tử phần đoạn và biến dịch, dứt hai chủng tử vô minh và ái nghiệp… đó là tri giác của Bậc Chánh Đẳng Giác. Trong các bộ kinh Phương Quảng thường có lời nguyện của các đại Bồ Tát như vầy: “Tất cả chúng sinh trong pháp giới, dù là sắc hay phi sắc, nếu còn một chúng sinh chưa được độ thì Tôi không lấy ngôi Vô Thượng Bồ Đề Chánh Đẳng Chánh Giác”. Thật ra Vô Thượng Bồ Đề không phải lấy hay không lấy, mà khi viên mãn Bồ Tát Hạnh thấy người không- ta không thì đó là Vô Thượng Bồ Đề, cũng như hết phiền não tức Niết bàn, thấy phiền não tức trí tuệ vậy.

        Người không- ta không, phi thiện ác, liễu sanh tửcảnh giới Vô Thượng Bồ Đề; vì vậy nếu nói rằng Đức Thế Tôn Như Laithuyết pháp để lại cho chúng sinh thì mắc ba lỗi. Thứ nhất! Nếu Thế Tôn Như Lai mà có thuyết pháp để lại cho chúng sinh mà bây giờ gọi là Phật Pháp thì Thế Tôn không phải Chánh Đẳng Chánh Giác vì còn ‘Ta’-‘Người’, có Ta thuyết pháp có Người thọ pháp. Thứ hai! Thuộc chủng tánh định kiến chỉ nhận âm thanh sắc tướng mà thôi. Thứ ba! Học vô ngã- vô nhân nhưng không học Bồ Tát Hạnh, chỉ biết được cái lý thô thiển nên không thâm nhập vào thật tướng người không- ta không.

         Như trên đã nói, nếu quyết định rằng Đức Thế Tônthuyết pháp có người nhận pháp là phỉ báng Chánh Đẳng Chánh Giác; còn lại cho rằng tất cả kinh điển từ Phương Quảng cho đến NIKAYA đều không phải là của Đức Thế Tôn thuyết thì phỉ báng Kinh. Vậy phải tu học như thế nào để không bị phỉ báng Chánh Đẳng Chánh Giác cùng Kinh điển.

        Bài kệ trong kinh Kim Cang “Lấy âm thanh sắc tướng để cầu thấy Như Lai, đó là sai đường, không thấy Như Lai thật”. Vậy phải tu học như thế nào để thấy Như Lai thật, mà muốn thấy thật Như Lai thì phải thấy Pháp, vậy gì gọi là Pháp và học Pháp ở đâu?

        Pháp là bao gồm những gì trong vũ trụ từ hữu hình cho đến vô hình, từ có tâm cho đến không tâm, từ có tướng cho đến không tướng…v.v. nói chung đều gọi là Pháp. Nếu nhận biết Pháp đó bằng sáu giác quan thì gọi là “Sở tri”, Pháp sở trihai mặt là “hữu vi- vô vi”. Hữu vi pháp là còn ô nhiễmtri thức hiểu biết của thế gian. Còn vô vi là đã thanh tịnh, là Pháp của các vị Thánh, là đã dày công tu tập loại trừ ô nhiễm, tuy nhiên cả hai đều còn trong vòng đối đãi nên không thể nào thấy “Thật Pháp” được.

        “Thật Pháp” thật ra cũng không ngoài Pháp hữu vi- vô vi, có tâm- không tâm, hữu hình- vô hình, ô nhiễm- thanh tịnh… Nói chung những gì trong Pháp giới từ vô lượng thời gian quá khứ, cho đến vô lượng thời gian vị lai và ngay trong hiện tại cũng là Thật Pháp là Như. Thật Pháp Như đó không thể lấy hay bỏ, không ô nhiễm cũng không thanh tịnh, không thể tu học hay không tu học mà được. Thật Pháp Như đó luôn luôn hiển hiện chưa bao giờ ẩn dấu. Nó không trẻ không già, không lớn không nhỏ, không đến không đi, không củ không mới, không nhất nguyên không nhị nguyên, không tâm không vật, không đối đãi…

        Thật Pháp đã là như vậy thì tại sao từ xưa đến giờ không có mấy người “Thấy biết”. Thật ra không một chúng sinh nào không thấy không biết, vì “chúng sinh chính là Thật Pháp là Như”. Trong kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa, khi Đức Như Lai giảng về Đại Như, Ngài Tu Bồ Đề nương thần lực của Như Lai ngộ ra liền trong Pháp hội đứng lên thưa bạch với Đức Thế Tôn rằng: “Bạch Thế Tôn theo lời giảng của Thế Tôn về Đại Như, con thấy ra rằng: Như Lai Như cùng Tu Bồ Đề Như không hai không khác”. Đức Thế Tôn tán thán rằng: Đúng vậy- Đúng vậy, lại này Tu Bồ Đề, bây giờ Như Lai hỏi Ông tùy theo thấy biết của Ông mà trả lời. Ông thấy rằng: “Như Lai Như cùng Tu Bồ Đề Như không hai không khác; vậy tất cả chúng sinh thì như thế nào”. Ngài Tu Bồ Đề bạch rằng: “Thưa Thế Tôn, Như Lai Như- Tu Bồ Đề Như cùng tất cả chúng sinh Như cũng không hai không khác”.

        Vậy thấy Pháp tức thấy Như Lai thì phải học như thế nào; trong kinh Kim Cang: “Đừng vướng vào dù là nhất thiết pháp đó là Chân Tâm”. Nhất thiết pháp là: Sắc- Thanh- Hương- Vị- Xúc và Pháp. Tuy sáu mà một, tuy một mà sáu vì chưa từng rời nhau; trong sắc thì luôn luôn có thanh hương vị xúc pháp, trong pháp thì cũng có luôn sắc thanh hương vị xúc; còn ba cái hương vị xúc cũng vậy.

        Vướng vào mà không nhận ra như thế nào? Đây là cảnh giới sắp khai mở thật trí thấy chân tâm, tuy nhiên không dễ vượt qua được; ở đây gồm có ba bậc: Thứ nhất là các vị ngoại đạo, tiên nhântrí tuệđịnh lực thâm sâu; Thứ hai là Thinh văn đệ tử của Đức Thế Tôn đã chứng đắc Tứ Thánh đế; Thứ ba là Duyên Giác đã chứng đắc Thập nhị nhân duyên. Ba bậc này vướng vào mà không nhận ra, vì vậy không thấy thật Pháp, mà không thấy thật Pháp thì không thấy Như Lai.

        Thứ nhất! Vì sao các vị ngoại đạo tiên nhântrí tuệđịnh lực thâm sâu mà không nhận ra mình vướng vào? Thế giới Ta bà mà ta đang sống đây là cõi ngũ trược; đó là Kiến trược, kiếp trược, phiền não trược, mạng trượcchúng sanh trược. Vì vậy khi chúng sinh xuất hiệncõi Ta bà thì cũng không ngoài ngũ trược mà có. Tuy nhiên, cõi ngũ trược là đồng mà ngũ trược của chúng sinh là dị; thí dụ như chén, dĩa, nồi, ấm, bình … tuy tên khác nhau nhưng tựu trung cũng làm ra từ đất. Ngũ trược của chúng sinh là: Sắc- thọ- tưởng- hành và thức.

        Cõi nước và chúng sinh tuy thấy dị mà đồng, do đó sắc của chúng sinh thì đồng với kiến trược của cõi nước, thọ thì đồng với kiếp trược, tưởng thì đồng với phiền não trược, hành thì đồng với mạng trược và thức thì đồng với chúng sinh trược của cõi nước. Các vị ngoại đạo tiên nhântrí tuệđịnh lực thâm sâu, còn có cả ngũ thần thông nên các vị đó vượt qua được kiến trược, kiếp trược, phiền não trược của cõi nước, tức là tương ưng với sắc- thọ- tưởng của chúng sinh, còn hai trược sau cùng của cõi nước là mạng trượcchúng sinh trược tức tương ưng với hành và thức của chúng sinh thì không thể đi qua, vì hai trược đó vô cùng thậm thâm vi diệu, tất cả học thuyết Vệ đà cũng từ đó mà phát sinh. Các hành giả đi đến đó bị ‘vướng’ vào mà không biết, cứ nghĩ là đã đến tột cùng và đã chứng nhất thiết trí.

        Hành và Thức thời đại bây giờ nôm na giống như phần mềm và phần cứng của máy tính. Tích chứa vận hành bên trong gọi là hành, hiển hiện ra ngoài cho sáu quan năng nhận biết thì là thức. Các vị ngoại đạo tiên nhân tu hànhđịnh lực thâm sâu nên phiền não không hiện hành, thức phân biệt đi vào vi tế nhỏ nhiệm. Trong định lực đó các hành giả vượt qua nhiều cảnh giới thấy được nhiều cõi thượng diệu. Cũng trong định lực đó hành giả khởi tâm muốn tìm hiểu tận cùng sự vận hành của mạng trược, do sự phân biệt nên bị lạc vào cảnh giới Thần Ngã hay Đại Ngã hay mười triết thuyếtThế Tôn phân tích chỉ dạy trong kinh Lăng Nghiêm.

        Còn chúng sinh trược tức thứa uẩn cũng vậy, các vị đó chỉ loay hoay trong thức thứ bảy tức mạt-na thức trông lên thức thứ tám là A-lại-da lấy đó làm cứu cánh rồi tự cho mình chứng đắc này nọ…v.v. Tu hành đến cảnh giới đó thì đã siêu việt nhân gianthậm thâm thiền định đã gần thấy được Thật Pháp. Kinh Lăng Nghiêm- Đức Thế Tôn tán thán cảnh giới các vị này giống như trời hừng đông chỉ cần một thời gian ngắn nữa thôi là mặt trời tỏa sáng. Năm mươi uẩn ma Đức Thế Tôn chỉ dạy tận tường trong kinh Lăng Nghiêm để chỉ rõ những hành giảthiền định thâm sâu rất dễ “vướng vào” mà không biết.

        Những cảnh giới Hành-Thức đối với nhân gian thật ra khó thể luận bàn đến được, tuy nhiên để thấy được “Thật Pháp” thì không thể nào. Có ba nguyên nhân chính làm chư hành giả không thấy được “Thật Pháp”. Thứ nhất! vì trầm mê trong thiền định; Thứ hai! tự cho mình chứng đắc; Thứ ba! Không có động lưc.

        Thứ nhất! vì sao sự thấy biết trong thậm thâm thiền định không là “Thật Pháp”. Vì còn có định, mà có định thì có loạn. “Thật Pháp” không tạo tác, không làm ra, không định không loạn… là Như Như vì vậy dù có định lực thiền định thậm thâm như thế nào đi nữa cũng không làm sao thấy được. Câu “Cái thanh tịnh bản nhiên vì sao thoắt sanh sơn hà đại địa” của ngài Phú Lâu Na vấn Đức Thế Tôn trong kinh Lăng Nghiêm nói lên điều đó.

        Thứ hai! nghĩ mình chứng đắc. Vì định lực thâm sâu nên tâm phát ra ánh sáng; rồi theo đó lý giải ra nhiều cảnh giới, ra nhiều luận giải, nhiều triết thuyết… rồi tự mình vướng vào những thứ đó như tầm nhã kén tự bọc lấy mình mà không biết; rồi tự mình cho chứng đắc này nọ.

        Thứ ba! Không có động lực. Sự tu hành của các vị đó là cầu đến các cõi, mong muốn hơn người, được sự thù thắng, mong cầu giải thoát cho tự thân, hay có thần thông để mọi người thán phục… Vì cái tâm nhỏ nhoi như vậy nên không làm sao dung chứa được Thật Pháp. “Thật Pháp” thì không đóng khung, không ở nơi này hay nơi khác mà luôn luôn thường hằng, dù là như vậy thì phải có tâm tương ưng mới nhận ra được; bằng không thì cũng như con ếch ở đấy giếng thấy bầu trời không hơn không kém.

        Thế nào là động lực! Đó là Bồ Tát Hạnh; nếu không học Bồ Tát Hạnh, không lấy sự giải thoát- giác ngộ cho chúng sinh làm cứu cánh, không lấy Từ- Bi- Hỷ- Xả làm hành trang, không lấy Bi- Trí- Dũng làm chỉ đạo… thì dù có công phu trong hằng hà sa số kiếp, có thiền địnhthâm sâu đến cỡ nào đi nữa… cũng đừng mong thấy được “Thật Pháp”. Tại sao vậy! Thật Pháp thì không có chung, cũng không có riêng, nên các hành giả chỉ tu riêng cho tự thân thì vĩnh viễn không bao giờ thấy được. Cũng giống như cái lổ của con mọt thì không làm sao dung chứa được quả địa cầu. Quả địa cầu thí dụ cho Thật Pháp, còn các hành giả tu cho tự thân thì ví như cái lổ con mọt. Thật Pháp không phân biệt, luôn luôn bình đẳng; tuy nhiên vì tâm quá nhỏ nên không thể dung chứa, hay Thật Pháp là biển cả, còn tu cho tự thân ví như một giọt nước.

        Các vị Bồ Tát phát tâm tu Bồ Tát Hạnh từ Sơ phát tâm lần lần tiến lên cho đến đệ Thất Viễn Hành Địa, trong thời gian đó hành giả đã vượt qua không biết bao nhiêu gian nan thử thách, bao nhiêu ma chướng cản ngăn, phải từ bỏ phải hy sinh từ bên trong cho đến bên ngoài, đã thuần thục thân tâm, đã trui rèn ý chí vững chắc, đã đủ dũng lực đi về phía trước không còn lui sụt… Tuy là vậy mà khi thấy Thật Pháp tức đệ bát Bất Động Địa thì phải nhờ đến thần lực của Như Lai gia trì mới nhận nổi, còn không chỉ đứng đó hay lại rớt vào nhị thừa mà thôi.

        Tại sao vậy? vì Thật Pháp là: Một tức tất cả, tất cả tức một; khi một Pháp đưa lên thì tất cả đều lên, nó bao hàm tiền tế- hậu tế, vô thủy vô chung luôn cả Pháp giới không có vật nào đi ra ngoài nó. Một như vậy, tất cả Pháp cũng như vậy. Thiền Tông Trung Hoa lấy câu chuyện Đức Thế Tôn đưa cành hoa lên Ngài Ca Diếp mỉm cười là vậy. Hay như khoa học bây giờ nói vật chất bị hút vào lỗ đen thì dù chỉ một hạt bụi thôi thì sức nặng của nó cũng không thể nào cân lường; hay trong kinh Đại Bảo Tích ngài Mục Kiền Liên vận dụng như ý thần thông bay đi vô lượng vô biên thế giới, dù như vậy ngài cũng không thể nào nhận ra được âm thanh Đức Như Lai vang đến bao xa. Vì sao? Với Đức Như Lai khi “Một âm thanh khởi lên tất âm thanh đều khởi”; hay thân tướng Như Lai cũng không thể đo lường, vì với Như Lai khi một sắc khởi lên thì tất cả sắc đều khởi. Trong kinh Hoa Nghiêm nói về hồ A-Nậu-Đạt hay ví dụ lưới đế châu là nói về cảnh giới Thật Pháp này.

        Đó là vì nguyên nhân vì sao các vị Tiên nhân ngoại đạo, A-La-Hán, Bích chi Phật vì tu cho tự thân nên không thể nào thấy Đức Như Lai.

        Thứ hai! Các vị Thinh văn đệ tử Thế Tôn đã vào dòng Thánh, đã chứng đắc Tứ Thánh Đế, đã thấy được lý người không- ta không, tuy nhiên vẫn còn có Pháp nên không thấy Như Lai.

        Thứ ba! Độc Giác Phật đã chứng không người- không ta, đã vượt qua thập nhị nhân duyên, tuy nhiênkhông chấp Pháp nên cũng không thấy Như Lai – Thật Pháp.

        Vậy Pháp Đức Như Lai phải nhận chân như thế nào để không bị phỉ bang kinh điển. Thí dụ! có một căn phòng rộng lớn người ta đặt ở đó một cây đàn dương cầm, rồi sau đó có ba người vào đánh đàn, người thứ nhất chỉtrình độ căn bản, người thứ hai trình độ trung cấp, người thứ ba thuộc loại siêu hạng. Khi người thứ nhất đánh đàn thì người nghe nghĩ rằng âm thanh của cây đàn không có gì đặc biệt; rồi đến người thứ hai đánh đàn thì người nghe lại nghĩ rằng âm thanh của cây đàn đâu có dỡ; và sau cùng người thứ ba đánh đàn thì mọi người nghe say mê không còn bình phẩm âm thanh của cây đàn là dỡ hay là hay nữa. Cũng vậy! Đức Như Lai Chánh Đẳng Chánh Giác với tâm bình đẳng vô phân biệt, Ngài không tâm so đo với chúng sinh này ta cho ít, với chúng sinh kia ta cho nhiều, còn những chúng sinh tôn kính cúng dường hay đệ tử theo ta thì được cho nhiều hơn nữa.

        Đức Thế Tôn Như Lai tuyệt đối không có một Pháp nào để thuyết, nếu có thuyết pháp thì Ngài không phải Chánh Đẳng Chánh Giác; mà đó là sự áp đặt bắt người khác phải học theo mình. Vì vậy những âm thanh phát ra, đó là tưng xứng đúng với tâm lượng mỗi chúng sinh, vì tùy theo trình độ như thế nào thì được phản hồi như thế đó. Đức Như Lai như cây đàn mà âm thanh phát ra là phản ảnh trình độ của chúng sinh, trình độ như thế nào thì nhận lại âm thanh đúng như thế đó. Thấy được như vậy tức thấy Thật Pháp cũng thấy Như Lai.

        Trong bài này không dùng chữ “Trụ” trong “Ưng vô sở trụ” mà thay vào đó là chữ “Vướng”. Nguyên nhân vì một bài pháp trong kinh, đó là câu chuyện Đức Thế Tôn luận pháp với vị Trường Trảo Phạm Chí; buổi luận pháp được chứng kiến bởi vua, quan, đại thần cùng nhiều bậc thông thái, và vật đặt cược của vị Trường Trảo Phạm Chí chính là thủ cấp của mình nếu bị thua, còn nếu Thế Tôn thua thì không được xưng là Nhất Thiết Trí nữa. Câu vấn pháp của vị Phạm Chí cho Đức Thế Tôn là: “Tất cả pháp tôi đều không thọ Cù Đàm nói như thế nào”. Đức Thế Tôn hỏi lại rằng: “Cái không thọ đó ông có thọ hay không?”. Vì câu trả lời đó vị Phạm Chí đầu phục Thế Tôn và xin làm đệ tử.

        Đem câu “Cái không thọ đó ông có thọ hay không” để so sánh với câu “Ưng vô sở trụ” được trì tụng tán dương ca ngợi lên chín tầng mây thì có gì không đúng lắm khi đặt câu hỏi “Cái vô sở trụ đó có trụ hay không?”.

 

 Mãn Tự    

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 218)
Ba Mươi Hai Cách ứng hiện của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát. Bởi vì Quan Thế Âm Bồ Tát đồng một Sức Từ với đức Phật Như Lai cho nên ngài ứng hiện ra 32 thân, vào các quốc độ mà độ thoát chúng sanh
(Xem: 180)
Thể tánh của tâm là pháp giới thể tánh, bởi vì nếu không như vậy thì tâm không bao giờ có thể hiểu biết, chứng ngộ pháp giới thể tánh.
(Xem: 184)
Trong kinh tạng Nikāya, khái niệm con đường độc nhất (ekāyana magga) là một khái niệm thu hút nhiều sự quan tâm của học giới từ phương Tây cho đến phương Đông
(Xem: 157)
Thuật ngữ pháp (dharma, có căn động tự là dhṛ có nghĩa là “duy trì, nắm giữ”; Pāli: dhamma; Tây Tạng: chos) mang nhiều ý nghĩa và ...
(Xem: 183)
Trì danh là pháp tu Tịnh Độ phổ thông nhứt hiện nay. Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm, có Mười cách trì danh khác nhau
(Xem: 202)
Phật dạy tất cả pháp hữu vi đều là vô thường sanh diệt không bền vững, như vậy thì ở thế gian cái gì có tạo tác có biến đổi đều là vô bền chắc.
(Xem: 297)
Nguyên bản: Removing obstacles to a favorable death; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 248)
Mối liên hệ giữa hình thức sớm nhất của Phật giáo và những truyền thống khác mà chúng đã phát triển về sau là một vấn đề luôn tái diễn trong lịch sử tư tưởngPhật giáo.
(Xem: 356)
Nghiệp và Luân hồi là hai ý niệm đã có trong Ấn độ giáo, được giảng giải trong các Kinh Veda và Upanishad vào khoảng 1500 năm trước CN.
(Xem: 8636)
Nếu tính từ thời điểm vua Lương Vũ Đế tổ chức trai hội Vu lan ở chùa Đồng Thái vào năm Đại Đồng thứ tư (538), thì lễ hội Vu lan của Phật giáo Bắc truyền đã có lịch sử hình thành gần 1.500 năm.
(Xem: 697)
Mục tiêu cao cả của đạo Phật là dạy con người tu tập để thoát khổ, giác ngộgiải thoát.
(Xem: 259)
Phật giáo du nhập Nhật Bản vào thế kỷ thứ VI, sau đó trải qua thời kì Nara (710~785), thời kì Heian (794~1192) cho đến thời kì Kamakura (1192~1380), trước sau khoảng 700 năm, rồi phát sinh rất nhiều tông phái.
(Xem: 255)
Tổ Quy Sơn dặn: “Nói ra lời nào phải liên hệ với kinh điển. Đàm luận gì, phải xét lại lời người xưa”.
(Xem: 262)
Nhiều học giả phân vân là làm thế nào và tại sao những nhà Đại chúng bộ (Mahāsāṅghika) đã hình thành nên khái niệm về một Đức Phật siêu việt...
(Xem: 406)
Hoa Sen Diệu Phápgiáo pháp được thuyết giảng trong Kinh Pháp Hoa. Quang Trạch giải thích Diệu Pháp là nhân của đạo Nhất Thừa, là quả của đạo Nhất Thừa.
(Xem: 223)
Con người sống qui tụ lại thành một xã hội, và phát triển tập thể này rộng lớn dần dần thành một quốc gia.
(Xem: 1345)
Trước khi xác định Phật Giáo như là một hệ thống tư tưởng triết học (Buddhism as a philosophy) hay như là một tôn giáo (Buddhism as a religion), chúng ta sẽ tìm hiểu triết học là gì ? và Phật giáo là gì ?
(Xem: 311)
Lục độ Ba-la-mật-đa/ Sáu phương pháp tu Ba-la-mật-đa (Six Paramitas) là 6 pháp tu để giải trừ các khổ ách của Đại thừa Phật giáo.
(Xem: 309)
Theo quan điểm của Đại hoàn thiện thì ánh sáng trong suốt hiển hiện một cách tự nhiên và được gọi là "hoàn-toàn-tốt"
(Xem: 485)
Đức Phật ra đời vào năm 624 trước tây lịch tại nước Ấn Độ. Ngài thuyết pháp 49 năm. Phật giáo đã trở thành quốc giáo, vì các vua, các quan và dân chúng đa phần đều theo đạo Phật.
(Xem: 477)
Y Kinh Kinh Cang Bát Nhã Ba La Mật: Đức Thế Tôn Như Lai hỏi ngài Tu Bồ Đề: Như Lainhục nhãn không? Ngài Tu Bồ Đề thưa:
(Xem: 1317)
Cuốn sách “Luân Hồi trong Lăng Kính Lăng Nghiêm” được ra mắt cách đây 9 năm (2008), in lần thứ hai, ba và tư vào năm 2012, 2014 & 2016 tại Nhà xuất bản Phương Đông, và năm nay (2018) cũng tại NXB Hồng Đức
(Xem: 756)
điều chắc chắn là làm người, ai cũng có ý thức về tội lỗi. Điều này là không đúng, điều này là không tốt, điều này là không đẹp.
(Xem: 473)
Tựa đề của khảo luận này phát xuất từ tồn nghi của một pháp hữu trong khi dịch lại bản kinh Tập (Sutta Nipāta) ở văn hệ Nikāya.
(Xem: 865)
Khái niệm ‘nghiệp’, thật ra, đã có mặt trong văn học Bà-la-môn giáo từ rất lâu trước khi Đức Phật xuất hiện ở đời.
(Xem: 450)
Vũ trụ, con người hình thành như thế nào và tương lai sẽ ra sao? Câu hỏi chưa bao giờ được xếp lại. Khoa học lượng tử luôn tiên phong...
(Xem: 409)
rong lịch sử tư tưởng Ấn-độ, thuyết Trung đạo đã mang lại cho tư tưởng giới đương thời một không khí hoạt bát[1].
(Xem: 580)
Bản chất của ánh sáng trong suốt, mang tính cách nền tảng và rạng ngời, là cội nguồn tối hậu của tất cả mọi cấp bậc tri thức...
(Xem: 634)
Chánh Pháp là gì? Phật Pháp được chia thành ba thời kỳthời Chánh Pháp, thời Tượng Pháp, và thời Mạt Pháp.
(Xem: 1096)
Ông trị vì từ năm 269 TCN đến năm 232 TCN thuộc đời thứ 3 của triều đại Maurya. Đế chế của ông rộng lớn gần như tất cả tiểu lục địa Ấn Độ trãi dài từ Đông sang Tây.
(Xem: 763)
Trong Kinh Kim Cang, Phật dạy có 4 tướng: “Ngã – Nhân – Chúng Sanh – Thọ Giả”. Khi còn phàm phu, chấp thân này là thật là bền vững,
(Xem: 752)
Đạo Phật đang phát triển rộng rãi đến nhiều tầng lớp. Rất nhiều các bậc tri thức, các nhà khoa học chân chính, đến cả những người ...
(Xem: 1390)
Kiếp sống của mỗi con người sinh ra ở thế giới Ta Bà này, dù thọ mạngdài hay ngắn, nhìn chung có thể phân chia làm nhiều giai đoạn.
(Xem: 896)
Kể từ thời điểm Phật giáo khai sinh và nở hoa khắp mọi miềnthế giới, hễ mỗi khi nói đến hình ảnh một vị Phật xuất hiện trong tương lai,
(Xem: 631)
Phép luyện tập thiền định được hỗ trợ bởi sự thực thi các hành động vị tha, các hành động đó đồng thời cũng được thúc đẩy bởi tình thương yêu và lòng từ bi.
(Xem: 525)
Nếu đủ sức duy trì một cách đúng đắn sự nhận biết tâm thức thần bí nhất thì kết quả mang lại từ phép luyện tập đó sẽ trợ lực các bạn rất nhiều
(Xem: 691)
Thời-không vũ trụ chứa hàng triệu, tỉ, hàng ức cho đến không máy móc nào đếm hằng hà sa số hành tinh như trái đất mới biết con ngườimột sinh thể gần như bằng không.
(Xem: 841)
Trong các bài kinh thuộc hệ A Hàm hay kinh Đại Bát Niết Bàn v.v… Phật có nói đến địa ngục. Đề Bà Đạt Đa, Tì kheo Thiện Tinh, vua Lưu Ly v.v… đều đọa vào địa ngục ngay khi chết.
(Xem: 625)
Xét về niên đại, bản kinh có mặt ở thời Hậu Hán (23-220), xuất hiện trong Cao Tăng Truyện quahành trạng của ngài Nhiếp-ma-đằng (攝摩騰)[2].
(Xem: 584)
Thể dạng lắng sâu thường xuyên bên trong tâm thức thần bí nhất chỉ có thể thực hiện được với những người có một khả năng thật bén nhạy.
(Xem: 1324)
Bài viết này sẽ khảo sát một số thắc mắc thường gặp về Thiền Tông, hy vọng sẽ tiện dụng cho một số độc giả còn nhiều nghi vấn.
(Xem: 912)
Thức Thứ Tám hay A Lại Ya là thức chủ trong 8 thức. Thức nầy có nhiều cách gọi khác nhau để chỉ về nhiệm vụ của mình. Tựu chung thức nầy có 3 việc chính là: Năng tàng, Sở tàng và Ngã ái chấp tàng.
(Xem: 974)
Khi còn vướng mắc trong sự tạo tác triền miên của khái niệm, chẳng hạn như suy nghĩ về cái đúng, cái sai, v.v. , thì các bạn sẽ không thể nào bước vào con đường tu tập về
(Xem: 888)
Học phái dịch thuật xưa của Phật giáo Tây Tạng đưa ra nhiều cách luyện tập dựa vào các phương pháp khác biệt nhau, gọi là các "cỗ xe"/thừa.
(Xem: 1787)
Thần tài trong Phật giáo, cụ thểPhật giáo Bắc truyền đã vay mượn giữa hình ảnh Bố Đại hòa thượng và các truyền thuyết về thần tài Trung Hoa, để tổng hòa nên một vị thần tài có nguồn gốc ngoài Phật giáo.
(Xem: 1373)
Thời Đức Phật tại thế, Ấn Độít nhất mười sáu tiểu vương quốc, mỗi vương quốc đều có ngôn ngữ hay phương ngữ riêng, nhưng có lẽ người dân của mỗi nước đều có thể giao tiếp và hiểu nhau được.
(Xem: 910)
Trong các kinh sách thừa hưởng từ [Phật giáo] Ấn Độ thì nguyên tắc căn bản đó lúc thì được gọi là "tâm thức tự tại
(Xem: 1499)
Kinh Hoa Nghiêm tiếng Sanskrit là Avatamsaka, tiếng Nhật là Kégon Kyo. Kinh nầy bằng tiếng Sanskrit do Bồ Tát Long Tho (Nagarjuna) soạn vào khoảng thế kỷ thứ 2 Tây Lịch.
(Xem: 941)
Con người muốn có cuộc sống an lạchạnh phúc, cần phải tu nhơn tạo phước, chứ không phải chỉ cầu nguyện...
(Xem: 920)
Phát huy sự chú tâm đúng đắn hướng vào một điểm nhằm mục đích gì? Việc luyện tập đó không nhất thiết là chỉ để giúp tâm thức đạt được một mức độ tập trung thật cao...
(Xem: 1324)
Đức Đạt Lai Lạt Ma Nói Về Phật Giáo Ứng Dụng - Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma, Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 1302)
A Dục, Asoka (Sanskrit). Khi đức Phật Thích ra đời, Vua A Dục là một đứa trẻ, trong lúc đang chơi đức Phật đi ngang qua, đứa trẻ đem cát mà coi như cơm cúng dường đức Phật...
(Xem: 1455)
Hàng ngày các Phật tử có thể “Xưng danh hiệu” hay “Niệm danh hiệu” của chư Phật, tức là đọc tên của chư Phật và tưởng nhớ đến các ngài.
(Xem: 1109)
Trong Phật giáo, giải thoát hay thoát khỏi luân hồi là một đề tài vô cùng lớn lao. Ngay cả những người Phật tử đã học qua giáo lý, cũng mường tượng sự giải thoát như ...
(Xem: 1196)
Như Lai có thể diễn tả những gì Ngài muốn bằng bất kỳ ngôn ngữ nào
(Xem: 1223)
Thuật Ngữ nầy có liên hệ đến rất nhiều Thuật Ngữ khác trong Kinh Điển Phật Giáo như: Thủy Giác, Chân Như, Như Lai Tạng, Pháp Tánh, Pháp Giới, Niết Bàn, Pháp Thân, Phật Tánh, Giải Thoát Thực Chất, Toàn Giác v.v…
(Xem: 867)
Chánh pháp của Đức Phật hay Đạo Phật được tồn tại lâu dài, đem lại hạnh phúc an lạc cho chúng sanh, chư thiênloài người.
(Xem: 840)
“Đạo Phật nhấn mạnhtu tập giúp chúng ta loại bỏ những tà kiến, chứ không phải là nơi tập hợp các hí luận”.
(Xem: 848)
Kinh Niệm Xứ (satipaṭṭhānasutta) là kinh thu gọn của Kinh Đại Niệm Xứ (Mahāsatipaṭṭhānasutta). Kinh này là một kinh rất quan trọng trong việc giải thích cách thực hành bốn phép quán
Quảng Cáo Bảo Trợ