Logo HHAD 2018 250
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
15,001,648
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Bài Văn Tín Tâm

29 Tháng Mười Một 201612:35(Xem: 3409)
Bài Văn Tín Tâm

Bài Văn Tín Tâm


Đời Tùy, Tam Tổ Tăng Xán Sáng Tác

Thánh Tri Phỏng Việt Dịch Lời Nghĩa

(Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh Vol. 48, No. 2010)


Bài Văn Tín Tâm
 
Lời Tựa

 

Tín Tâm Minh hay Bài Văn Tín Tâm được Tam Tổ Tăng Xán làm vào đời nhà Tùy bên Trung Quốc. Ngài là một vị thiền sư đã Kiến Tánh Liễu Đạo đương thời được truyền tâm ấny bát bởi Nhị Tổ Huệ Khả, và là thầy của Tứ Tổ Đạo Tín. Đã khiến cho Phật pháp được sáng tỏ cả một gốc trời. Sử sách còn ghi rằng ngoài truyền y báttâm ấn cho Tứ Tổ Đạo Tín, Tổ Tăng Xán còn ấn chứng cho ngài Tì-Ni-Đa-Lưu-Chi, vị sư người Ấn Độ sang Trung Quốc tham học lúc bấy giờ. Sau đó, ngài Tì-Ni-Đa-Lưu-Chi theo lời Tổ Tăng Xán dạy mà đến đất phương Nam giáo hóa. Do vậy thiền phái Tì-Ni-Đa-Lưu-Chi ở Việt Nam từ đó mà có và từng sáng chói một thời.

 

Bản dịch này được trích ra từ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh Vol. 48, No. 2010. Bởi vì lời dạy của Tổ Tăng Xán quá sâu sắc, súc tích, và bao hàm trong 584 chữ Hán, cũng như mỗi chữ mỗi câu, nói ngược nói xuôi đều thông suốt lẫn nhau, nên người dịch không thể nào Việt dịch đúng 584 chữ được. Vì vậy mà phải dựa theo ý chỉ để dịch ra lời nghĩa. Nếu dịch như các bản dịch trước thì khó mà thấu rõ được. Đồng thời người dịch cũng có kèm theo bản chữ Hán và Hán-Việt đi đôi với nhau cho dễ thấy, dễ đọc, dễ học, và dễ nghiên cứu. Tuy là dịch lời nghĩa nhưng cũng không phải là việc dễ làm, bởi nếu không từng nghiên cứu và đi cùng một đường Tâm này thì những lời dạy của Tổ khó mà lãnh hội được, thì lấy đâu mà dịch cho rõ ràng được! Do vậy, nên phải khép mình theo khuông phép của cổ đức đi trước như dựa chính vào bài Tín Tâm Minh Tịch Nghĩa Giải của Thiền Sư Trung Phong Minh Bổn (1263 – 1323) ở cuối thời Nam Tống, đầu thời nhà Nguyên, do cố Hòa Thượng Thích Duy Lực Việt dịch.

 

Người dịch đã cố gắng hết sức để dịch nghĩa bài Tín Tâm này cho rõ ràng và khế hợp với ý chỉ Thiền Tông và tinh yếu của Phật pháp. Tuy nhiên cũng không sao tránh khỏi lỗi lầm sai sót bởi vì còn là người trong đường mê sinh tử. Còn bài văn này là của người đã hoàn toàn giác ngộ giải thoát. Há có thể đem tâm thức phàm tình mà suy lường chỗ tình thức không tới được của Phật, của Tổ ư? Càng suy lường thì càng không tới được. Do vậy câu đầu tiên Tổ dạy là “Chí Đạo vô nan, duy hiềm giản trạch” [Đạo cùng tột thì không có gì khó, chỉ sợ còn tình thức phân biệt mà thôi (câu 1)] là vậy.

Đã là người sống trong thế giới tương đối thì phải thuận theo sự tương đối mà sống và tu cho phù hợp. Người của thời đại nào, dù đã giác ngộ hay chưa giác ngộ, từ xưa đến nay và mãi tận vị lai cũng phải thế. Cái thân vật chất vốn thuộc về thế giới tương đối. Lúc xưa thân tứ đại do nhân duyên hòa hợp mà thành, hiện tại thân tứ đại nương gá nơi các duyên mà duy trì, và tương lai cũng phải theo nhân duyên biệt ly mà trả về cho tứ đại. Có hội tụ thì phải có chia lìa, đó là thuận theo sự tương đối đó vậy. Muốn không thuận theo cũng không thể được!

 

Vậy thì với sự tu họchành Phật pháp của chúng ta trong hiện tại cũng phải tùy thuận nhân duyên nghiệp quả trong tương đối mà làm. Đối với người đã giác ngộ thì không có việc đem tâm cầu Đạo, bởi Tâm chính là Đạo, Đạo chính là Tâm vậy, nên Tổ cũng dạy “Tương tâm dụng tâm, khởi phi đại thác” [đem tâm dụng tâm, há chẳng phải là lầm lớn đó sao? (câu 42)]. Hơn nữa bài văn nói “Ngôn ngữ đạo đoạn, phi khứ lai kim” [đường ngôn ngữ dứt, chẳng phải là quá khứ, hiện tại, hay vị lai (câu cuối 73)], lại nói “Mẫn kỳ sở dĩ, bất khả phương tỷ” [Nó bặt hết mọi lý giải, chẳng thể thí dụ được (câu 51)] thì làm sao và lấy gì để cầu? Lại trong mười phương ba đời không có chỗ nào là không phải Đạo, Đạo luôn rõ ràng ở ngay trước mắt [Vô tại bất tại, thập phương mục tiền (câu 65)], đâu do cầu mà được?!

 

Còn đối với người chưa giác ngộ thì chưa thể thấy biết được việc ấy, nên cũng chưa thể tin nỏi được việc ấy, nên Tổ nói “Tiểu kiến hồ nghi chuyển cấp chuyển trì” [Người mê thấy biết nhỏ hẹp nên sinh tâm nghi ngờ, muốn gấp thì lại càng trễ (câu 32)]. Do vậy nên Tổ mới làm bài văn Tín Tâm này để khuyến tín kẻ ‘tiểu kiến hồ nghi’ vậy. Cho nên phải buộc lòng đem tâm thànhcầu Đạo vậy. Nếu không thì biết đâu mà vào, biết đâu mà xu hướng tới? Phải mượn Văn Tự Bát Nhã để Quán Chiếu Bát Nhãchứng Thật Tướng Bát Nhã vậy (nói thế cũng là miễn cưỡng mà nói bởi Đạo đã không có chỗ để cầu thì lấy chỗ nào để chứng?). Há chẳng từng nghe trong quá khứ đức Thế Tôn cũng đã xã bao thân mạng để cầu Đạo và chư Tổ cũng chẳng quảng ngàn dậm xa xôi mệt nhọc để cầu Pháp đó hay sao? Hơn nữa Tổ cũng dạy “Bất thức huyền chỉ đồ lao niệm tĩnh” [Nếu chẳng biết cái Tâm Yếu Sâu Xa, thì uổng công tịnh niệm (câu 6)]. Phải biết đường mà tu, hướng để vào, nếu không chỉ uổng công lao nhọc tịnh niệm, đi loanh quanh ngoài cửa Đạo mà thôi. Do vậy đành phải tạm mượn cái tướng và nương nơi sự tương đối để biết mà đi bằng đường Tâm vào bản Thể Tuyệt Đối vậy.

 

Ôi! Đạo rộng lớn thênh thang thế ấy mà không có chỗ vào! Rộng lớn thênh thang thế ấy mà đường tơ chẳng lọt! Tại sao thế? Bởi vì còn tình thức phân biệt vậy! Cho nên Tổ dạy “Hào ly hữu sai, thiên địa huyền cách” [Hễ còn mảy may tình thức phân biệt, thì cũng như đất trời xa cách nhau vậy (câu 3)]. Lại nói “Chấp chi thất độ, tất nhập tà lộ” [Hễ chấp thì lạc phương hướng, tâm sẽ rời vào đường tà (câu 33)]. Vậy, muốn vào Đạo này thì phải làm sao? Nói muốn cũng là tạm bàn, chứ kỳ thật móng khởi một cái tâm muốn thì cũng trệch đường, cách Đạo rồi vậy. Nên bài văn nói“Tài hữu thị phi, phân nhiên thất tâm” [Vừa có phải quấy lăng xăng, thì lạc mất bản Tâm (câu 22)]. Tổ đã từ bi phương tiện miễn cưỡng mà chỉ cho những kẻ lầm mê như mình cách để vào Đạo như sau: Nếu đừng có tâm yêu ghét, thì Tâm này tự nhiên thông suốt minh bạch (câu 2); nếu muốn Tánh Giác hiện tiền, thì chớ còn tâm thuận nghịch (câu 4); chẳng cần cầu chơn, chỉ cần dứt hết sở kiến hai đầu thì toàn thể tức chơn (câu 20); muốn hướng tới Đạo Nhất Thừa, thì chớ có chán ghét lục trần (câu 38); lục trần chẳng ghét, thì cùng về với Chánh Giác (câu 39); và nếu muốn mau tương ưng, chỉ nói Bất Nhị (câu 61).

 

Nói cho cùng thì chẳng ngoài việc buông xuống tình thức phân biệt vậy. Cho nên Tổ nói “Đắc thất thị phi, nhất thời phóng khước” [Được mất phải trái, phải cùng một lúc buông bỏ hết (câu 46)], bởi vì “Đa ngôn đa lự, chuyển bất tương ưng” [Nói nhiều lo nhiều, loanh quanh mãi thì càng chẳng tương ưng với Đạo (câu 15)], còn “Bất kiến tinh thô, ninh hữu thiên đảng” [Nếu không còn thấy có đẹp xấu, thì đâu có thiên lệch bên nào? (câu 30)], và “Tuyệt ngôn tuyệt lự, vô xứ bất thông” [Nếu dứt hết nói năng bặt hết lo nghĩ, thì chỗ nào chẳng thông? (câu 16)], bởi vì “Phóng chi tự nhiên, thể vô khứ trụ” [Tâm chấp đã buông thì tự nhiên vắng lặng, bởi bản thể vốn không có đi ở (câu 34)]. Muốn được vậy thì phải “Tu du phản chiếu, thắng khước tiền không” [Nếu soi chiếu ngược lại, thì hơn hẳng cảnh Không trước mặt (câu 18)] bởi vì “Quy căn đắc chỉ, tùy chiếu thất tông” [Trở về cội gốc thì được Ý Chỉ, đuổi theo chiếu soi lại mất bản Tông (câu 17)]. Do vậy mà nói “Nhất tâm bất sanh, vạn pháp vô cữu. Vô cữu vô pháp, bất sanh bất tâm” [Nếu một tâm chẳng sanh, thì muôn pháp không có lỗi (câu 24); Không có lỗi thì không có pháp, pháp chẳng sanh thì tâm ấy tự tịch (câu 25)]. Tâm ấy tự tịch tức là Bồ Đề, là Đạo, là Niết Bàn đó vậy. Nên Ngộ Tánh Luận nói: “Tịch diệt là Bồ Đề vì diệt hết các tướng”Kinh Đại Bát Niết Bàn cũng nói: “Chư hành vô thường, thị sinh diệt pháp, sinh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc.”

 

Nay đã có bản đồ Tín Tâm Minh trong tay, đã biết chỗ mà thu hướng tới, đã biết đường mà quay về nhà, thì từ nay nương theo đó mà đi thẳng cho đến tận đầu nguồn, chẳng còn quanh co nhiều lối rẽ chi cho lao nhọc oan uổng nữa. Vậy hãy cùng nhớ lời Tổ dạy rằng: “Chí Đạo vô nan, duy hiềm giản trạch!”

 

Thánh Tri Kính Viết

Cuối Thu, 2016

San Antonio, TX, Hoa Kỳ

 

Bài Văn Tín Tâm

Đời Tùy, Tam Tổ Tăng Xán Sáng Tác

Thánh Tri Phỏng Việt Dịch Lời Nghĩa

(Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh Vol. 48, No. 2010)

 

Dịch Lời Nghĩa

 

  1. Đạo cùng tột thì không có gì khó, chỉ sợ còn tình thức phân biệt mà thôi
  2. Nếu đừng có tâm yêu ghét, thì Tâm này tự nhiên thông suốt minh bạch
  3. Hễ còn mảy may tình thức phân biệt, thì cũng như đất trời xa cách nhau vậy
  4. Nếu muốn Tánh Giác hiện tiền, thì chớ còn tâm thuận nghịch
  5. Nếu chấp hai bên thuận nghịch, thì đó là tâm bệnh
  6. Nếu chẳng biết cái Tâm Yếu Sâu Xa, thì uổng công tịnh niệm
  7. Tâm này tròn đầy như hư không, không thiếu không dư
  8. Do còn có thủ xã, nên không được NHƯ NHƯ
  9. Đừng chạy theo cái Có, cũng chớ trụ cái Không
  10. Trọn một Tâm bình đẳng, thì mọi tình chấp Có Không đều tự dứt sạch
  11. Ngưng động về tịnh, thì tịnh càng thêm động
  12. Cứ chấp hai bên động tịnh, thì đâu biết rằng chúng vốn là một thứ
  13. Nếu một thứ chẳng thông, thì chạy theo hai đầu là uổng công phí sức
  14. Muốn trừ cái Có lại bị kẹt nơi Có, còn chạy theo Không thì trái với Không
  15. Nói nhiều lo nhiều, loanh quanh mãi thì càng chẳng tương ưng với Đạo
  16. Nếu dứt hết nói năng bặt hết lo nghĩ, thì chỗ nào chẳng thông?
  17. Trở về cội gốc thì được Ý Chỉ, đuổi theo chiếu soi lại mất bản Tông
  18. Nếu soi chiếu ngược lại, thì hơn hẳng cảnh Không trước mặt
  19. Thấy cảnh không trước mặt theo duyên đổi thay, đều là do vọng thấy
  20. Chẳng cần cầu chơn, chỉ cần dứt hết sở kiến hai đầu thì toàn thể tức chơn
  21. Chẳng trụ chơn chẳng trụ vọng, cẩn thận chớ đuổi theo tìm
  22. Vừa có phải quấy lăng xăng, thì lạc mất bản Tâm
  23. Hai do một mà có, một cũng đừng nên giữ
  24. Nếu một tâm chẳng sanh, thì muôn pháp không có lỗi
  25. Không có lỗi thì không có pháp, pháp chẳng sanh thì tâm ấy tự tịch
  26. Tâm năng niệm theo cảnh sở niệm mà diệt, cảnh cũng theo tâm mà mất
  27. Cảnh do tâm năng niệm mà thành cảnh, tâm do cảnh sở niệm mà thành tâm
  28. Nên biết hai bên tâm cảnh, vốn là một cái Không
  29. Một cái Không này đồng với hai tâm cảnh kia, đều bao hàm vạn tượng
  30. Nếu không còn thấy có đẹp xấu, thì đâu có thiên lệch bên nào?
  31. Bản thể của Đạo lớn rộng khắp, nên chẳng có sự khó dễ tương đối
  32. Người mê thấy biết nhỏ hẹp nên sinh tâm nghi ngờ, muốn gấp thì lại càng trễ
  33. Hễ chấp thì lạc phương hướng, tâm sẽ rời vào đường tà
  34. Tâm chấp đã buông thì tự nhiên vắng lặng, bởi bản thể vốn không có đi ở.
  35. Thuận theo Tánh hợp với Đạo, thì an nhàn tự tại không còn phiền não
  36. Buộc niệm thì trái chơn, hôn trầm thì chẳng tốt
  37. Nếu không tốt xấu thì chẳng nhọc tinh thần, nên đâu cần trừ bỏ hai bên
  38. Muốn hướng tới Đạo Nhất Thừa, thì chớ có chán ghét lục trần
  39. Lục trần chẳng ghét, thì cùng về với Chánh Giác
  40. Người trí thì vô vi tự tại, kẻ ngu do chấp trước nên tự trói buộc mình
  41. Các pháp vốn không đồng dị, do tự vọng sanh ái chấp mà thành ra khác biệt
  42. Do vậy đem tâm dụng tâm, há chẳng phải là lầm lớn đó sao?
  43. Mê thì sanh tâm chấp trước nơi động tịnh, còn Ngộ thì chẳng có tốt xấu
  44. Tất cả hai bên đối đãi, đều do tự vọng sanh những suy lường nghĩ tưởng
  45. Việc mộng huyễn như hoa đốm trên không, thì đâu cần lao nhọc nắm bắt
  46. Được mất phải trái, phải cùng một lúc buông bỏ hết
  47. Ví như mắt nếu không ngủ, thì mộng tự dứt
  48. Tâm nếu chẳng cho là có khác, thì muôn pháp đều Nhất Như
  49. Cái Nhất Như này thể tánh huyền diệu, cùng tột thì chẳng có các duyên
  50. Vạn pháp cùng quán, thì tất cả trở về tự nhiên
  51. Nó bặt hết mọi lý giải, chẳng thể thí dụ được.
  52. Ngưng động chẳng cho là tịnh, động ngưng cũng chẳng cho là ngưng
  53. Hai đã chẳng thành, thì một làm sao có?
  54. Chỗ cứu cánh cùng tột, thì chẳng còn tuân theo một khuông phép nào cả
  55. Khế hợp với bản Tâm thì tất cả bình đẳng, năng tác sở tác đều dứt sạch
  56. Mọi cái nghi nơi Tâm đều sạch hết, thì lòng chánh tín được vững ngay
  57. Tất cả chẳng lưu giữ nơi tâm, thì không thể ghi nhớ
  58. Tâm rỗng rang tự chiếu soi, thì chẳng nhọc tâm lực
  59. Chỗ lìa suy nghĩ, thì thức tình khó mà suy lường được
  60. Trong Chơn Như Pháp Giới, chẳng lập mình chẳng lập người
  61. Nếu muốn mau tương ưng, chỉ nói Bất Nhị
  62. Chỗ bất nhị đều đồng, thì không có cái gì mà nó không bao dung
  63. Người trí trong mười phương, đều vào Tông này
  64. Tông không có dài ngắn, vì một niệm là muôn năm (muôn năm là một niệm)
  65. Không có chỗ nào mà không hiện, mười phương ở ngay trước mắt
  66. Bởi cái cực nhỏ đồng với cái cực lớn, nên quên hết mọi cảnh giới
  67. Vì cái cực lớn đồng với cái cực nhỏ, nên chẳng thấy có bờ mé
  68. Có tức là không, không tức là có
  69. Nếu chẳng như thế, ắt không nên giữ
  70. Một là tất cả, tất cả là một
  71. Nếu được như thế, lo gì chẳng xong?
  72. Tin tự Tâmbất nhị, tin bất nhịtự Tâm
  73. Đường ngôn ngữ dứt, chẳng phải là quá khứ, hiện tại, vị lai

 

 

 

Bài Văn Tín Tâm Hết

 

 

 

------------------------------------------------

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

大正新脩大藏經 48 No. 2010

Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh Vol. 48, No. 2010

 

信心銘

Tín Tâm Minh

 

隋, 僧璨作

Tùy, Tăng Xán Tác

 

HánHán-Việt

 

 

  1. 至道無難,    唯嫌揀擇

Chí Đạo vô nan, duy hiềm giản trạch

 

  1. 但莫憎愛,    洞然明白    

Đản mạc tăng ái, động nhiên minh bạch

 

  1. 毫釐有差,  天地懸隔  

Hào ly hữu sai, thiên địa huyền cách

 

  1. 欲得現前,  莫存順逆  

Dục đắc hiện tiền mạc tồn thuận nghịch

 

  1. 違順相爭,  是為心病  

Vi thuận tương tranh thị vi tâm bệnh

 

  1. 不識玄旨,  徒勞念靜  

Bất thức huyền chỉ đồ lao niệm tĩnh

 

  1. 圓同太虛,  無欠無餘  

Viên đồng thái hư vô khiếm vô dư

 

  1. 良由取捨,    所以不如  

Lương do thủ xả, sở dĩ bất như

 

  1. 莫逐有緣,  勿住空忍  

Mạc trục huyễn duyên, vật trụ không nhẫn

 

  1. 一種平懷,  泯然自盡  

Nhất chủng bình hoài, dẫn nhiên tự tận

 

  1. 止動歸止,  止更彌動  

Chỉ động quy chỉ, chỉ cánh di động

 

  1. 唯滯兩邊,  寧知一種  

Duy trệ lương biên, ninh tri nhất chủng

 

  1. 一種不通,  兩處失功  

Nhất chủng bất thông, lưỡng xứ thất công

 

  1. 遣有沒有,  從空背空  

Khiển hữu một hữu, tùng không bối không

  1. 多言多慮,  轉不相應

Đa ngôn đa lự, chuyển bất tương ưng

 

  1. 絕言絕慮,  無處不通  

Tuyệt ngôn tuyệt lự, vô xứ bất thông

 

  1. 歸根得旨,  隨照失宗  

Quy căn đắc chỉ, tùy chiếu thất tông

 

  1. 須臾返照,  勝却 (躩 khước)前空

Tu du phản chiếu, thắng khước tiền không

 

  1. 前空轉變,    皆由妄見 

Tiền không chuyển biến, giai do vọng kiến

 

  1. 不用求真,    唯須息見 

Bất dụng cầu chơn, duy tu tức kiến

 

  1. 二見不住,    慎勿追尋

Nhị kiến bất tụ, thận mạc truy tầm

 

  1. 纔有是非,    紛然失心 

Tài hữu thị phi, phân nhiên thất tâm

 

  1. 二由一有,    一亦莫守 

Nhị do nhất hữu, nhất diệc mạc thủ

 

  1. 一心不生,    萬法無咎

Nhất tâm bất sanh, vạn pháp vô cữu

 

  1. 無咎無法,    不生不心 

Vô cữu vô pháp, bất sanh bất tâm

 

  1. 能隨境滅,    境逐能1  

Năng tùy cảnh diệt, cảnh trục năng trầm

 

  1. 境由能境,    能由境能

Cảnh do năng cảnh, năng do cảnh năng

 

  1. 欲知兩段,    元是一空 

Dục tri lưỡng đoạn, nguyên thị nhất không

  1. 一空同兩,    齊含萬像 

Nhất không đồng lưỡng, tề hàm vạn tượng 

 

  1. 不見精2,   寧有偏黨

Bất kiến tinh thô, ninh hữu thiên đảng

 

  1. 大道體寬,    無易無難 

Đại đạo thể khoan, vô dị vô nan

 

  1. 小見狐疑,    轉急轉遲 

Tiểu kiến hồ nghi chuyển cấp chuyển trì

 

  1. 執之失度,    心入邪路

Chấp chi thất độ, tất nhập tà lộ

 

  1. 放之自然,    體無去住 

Phóng chi tự nhiên, thể vô khứ trụ

 

  1. 任性合道,    逍遙絕惱 

Nhậm tánh hợp Đạo, tiêu dao tuyệt não

 

  1. 繫念乖真,    昏沉3不好

Hệ niệm quai chơn, hôn trầm bất hảo

 

  1. 不好勞神,    何用4 親 

Bất hảo lao thần, hà dụng sơ thân

 

  1. 欲趣一乘,    勿惡六塵 

Dục thủ nhất thừa, vật ố lục trần

 

  1. 六塵不惡,    還同正覺

Lục trần bất ác, hoàn đồng chánh giác

 

  1. 智者無為,    愚人自縛 

Trí giả vô vi, ngu nhân tự phược

 

  1. 法無異法,    妄自愛著 

Pháp vô dị pháp, vọng tự ái trước

 

  1. 將心用心,    豈非大錯

Tương tâm dụng tâm, khởi phi đại thác

 

  1. 迷生寂亂,    悟無好惡 

Mê sanh tịch loạn, ngộ vô hảo ác

 

  1. 一切二邊     妄自斟酌 

Nhất thiết nhị biên, lương do châm trước

 

  1. 夢幻空華,    何勞把捉

Mộng huyễn hư hoa, hà lao bả tróc

 

  1. 得失是非,    一時放5 

Đắc thất thị phi, nhất thời phóng khước

 

  1. 眼若不眠,    諸夢自除 

Nhãn nhược bất miên, chư mộng tự trừ

 

  1. 心若不異,    萬法一如

Tâm nhược bất dị, vạn pháp nhất như

 

  1. 一如體玄,    兀爾忘緣 

Nhất như thể huyền, ngột nhĩ vong duyên

 

  1. 萬法齊觀     歸復自然 

Vạn pháp tề quán, quy phục tự nhiên

 

  1. 泯其所以,    不可方比

Mẫn kỳ sở dĩ, bất khả phương tỷ

 

  1. 止動無動,    動止無止 

Chỉ động vô động, động chỉ vô chỉ

 

  1. 兩既不成,    一何有爾 

Lưỡng ký bất thành, nhất hà hữu nhĩ

 

  1. 究竟窮極,    不存軌則

Cứu cánh cùng cực, bất tồn quỹ tắc

 

  1. 6心平等,   所作俱息 

Khế tâm bình đẳng, sở tác câu tức

 

  1. 狐疑盡淨,    正信調直 

Hồ nghi tận tịnh, chánh tín điều trực

 

  1. 一切不留,    無可記憶

Nhất thiết bất lưu, vô khả ký ức

 

  1. 虛明自7,   不勞心力 

Hư minh tự chiếu, bất lao tâm lực

 

  1. 非思量處,    識情難測 

Phi tư lượng xứ, thức tình nan trắc

 

  1. 真如法界,    無他無自

Chơn như pháp giới, vô tha vô tự

 

  1. 要急相應,    唯言不二 

Yếu cấp tương ưng, duy ngôn bất nhị

 

  1. 不二皆同,    無不包容 

Bất nhị giai đồng, vô bất bao dung

 

  1. 十方智者,    皆入此宗

Thập phương trí giả, giai nhập thử tông

 

  1. 宗非促延,    一念萬年     (萬年一念) 

Tông phi xúc diên, nhất niệm vạn niên (vạn niên nhất niệm)

 

  1. 無在不在,    十方目前 

Vô tại bất tại, thập phương mục tiền

 

  1. 極小同大,    妄絕境界

Cực tiểu đồng loại, vong tuyệt cảnh giới

 

  1. 極大同小,    不見邊表 

Cực đại đồng tiểu, bất kiến biên biểu

 

  1. 有即是無,    無即是有 

Hữu tức thị vô, vô tức thị hữu

 

  1. 若不如是,    必不須守

Nhược bất như thị, Tâm bất tu thủ

 

  1. 一即一切,    一切即一 

Nhất tức nhất thiết, nhất thiết tức nhất

 

  1. 但能如是,    何慮不畢 

Đản năng như thị, hà lự bất tất

 

  1. 信心不二,    不二信心

Tín tâm bất nhị, bất nhị tín tâm

 

  1. 言語道斷, 非去來今

Ngôn ngữ đạo đoạn, phi khứ lai kim

 

信心銘之終

Tín Tâm Minh Chi Chung

 

-------------------------

 

 

 

 

 

 

 

 

Chú Thích

 

  1. Trong Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh dùng chữ Trầm này . Nhưng chữ trầm đó tra trong tự điến Hán Việt thì không có thông dụng, mà phải là chữ Trầm này . Do vậy người dịch đã đổi lại và dùng theo tự điển Hán Việt cho thuận tiện.

 

  1. Trong Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh ghi là . Nhưng chữ đó tra trong tự điến Hán Việt thì không có nghĩa. Dò trong các bản dịch khác thì chữ đó nên là chữ (Thô). Do vậy người dịch đã đổi lại và dùng cho đúng từ.

 

  1. Trong Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh dùng chữ và ghi là 沈惛 (Trầm Hôn). Chữ Trầm đó đã nói ở trên rồi và đã sửa rồi. Còn chữ Hôn đó có nghĩa là rối loạn hay lo lắng, không hợp với lời sách. Nếu hợp với nghĩa sách thì nên ghi là Hôn Trầm và dùng hai chữ này 昏沉. Do vậy người dịch đã sửa lại cho phù hợp.

 

  1. Trong Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh dùng chữ này . Nhưng chữ sơ đó tra trong tự điến Hán Việt thì không có thông dụng, mà phải là chữ này . Do vậy người dịch đã đổi lại và dùng theo tự điển Hán Việt cho thuận tiện.

 

  1. Trong Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh dùng chữ Tức này . Nhưng chữ sơ đó tra trong tự điến Hán Việt là giản thể của chữ Khước , mà chứ khước thì có ý nghĩaphù hợp với các bản dịch khác. Do vậy người dịch đã đổi lại cho thuận tiện dễ hiểu.

 

  1. Trong Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh dùng chữ (Khải). Nhưng chữ khải thì không hợp ý nghĩa của bài văn, lại tra trong các bản dịch khác thì thấy ghi là chữ (Khế). Chữ Khế phù hợp hơn nên người dịch đã đổi lại cho đúng để dễ hiểu.

 

  1. Trong Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh dùng chữ (Nhiên). Tuy dùng chữ Nhiên cũng được nhưng không sáng nghĩa bằng dùng chữ (Chiếu). Thật vậy, các bản dịch khác thì dùng chữ Chiếu. Do vậy người dịch đã sửa lại thành chữ Chiếu cho sáng nghĩa và phù hợp với các bản dịch khác.

 

 

Tài Liệu Tham Khảo

 

  1. Bản chữ Hán được lấy và dịch từ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, Sách Thứ 48, Số 2010, Đời Tùy, Tam Tổ Tăng Xán Sáng Tác, ở trang Trung Hoa Điện Tử Phật Điển Hiệp Hội (CBETA). http://tripitaka.cbeta.org/T48n2010_001

 

  1. Hán Việt Từ Điển: http://hanviet.org/

 

  1. Tín Tâm Minh Tịch Nghĩa Giải của Thiền Sư Trung Phong Minh Bổn do HT Thích Duy Lực Việt Dịch.

 

  1. Tín Tâm Minh Giảng Giải của HT Thích Thanh Từ

 

  1. Tín Tâm Minh của Trúc Thiên Việt Dịch

 

  1. Tín Tâm Minh của Dương Gia Việt Dịch.

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 13)
Lúc bấy giờ, Bồ tát Đại sĩ Akṣayamatir[1] từ chỗ ngồ đứng dậy, vắt thượng y[2] qua một bên vai, chắp hai tay[3] hướng về đức Thế Tôn và thưa rằng:
(Xem: 407)
Khi khảo sát về PHÁT BỒ-ĐỀ TÂM, chúng tôi tự nghĩ, chúng ta cần phải biết Bồ-Đề là gì? Bồ-Đề Tâm là thế nào? Phát Bồ-Đề Tâm phải học theo những Kinh, Luận nào?
(Xem: 615)
Đại ý bài kinh này Đức Phật dạy chúng đệ tử không nên truy tìm quá khứ, không nên ước vọng tương lai vì quá khứ đã đoạn tận.
(Xem: 650)
Evaṃ me sutaṃ, “như vầy tôi nghe”, là lời Ngài Ananda bắt đầu mỗi bài kinh mà có lẽ không Phật tử nào là không biết.
(Xem: 8908)
Nếu tính từ thời điểm vua Lương Vũ Đế tổ chức trai hội Vu lan ở chùa Đồng Thái vào năm Đại Đồng thứ tư (538), thì lễ hội Vu lan của Phật giáo Bắc truyền đã có lịch sử hình thành gần 1.500 năm.
(Xem: 706)
Phật dạy giới này áp dụng chung cho tất cả các Phật tử tại gia, không phân biệt Phật tử này thuộc thành phần hay đẳng cấp xã hội nào.
(Xem: 563)
Sa-môn Thích Đàm Cảnh dịch từ Phạn văn ra Hán văn, tại Trung-quốc, vào thời Tiêu-Tề (479-502). Cư sĩ Hạnh Cơ dịch từ Hán văn ra Việt văn, tại Canada, năm 2018.
(Xem: 1935)
Đức Phật A Di Đà tự thân có ánh sáng vô lượng, chiếu khắp cả mười phương mà không có vật gì có thể ngăn che. Vì vậy nên Phật A Di Đà có nghĩa là Vô Lượng Quang Phật.
(Xem: 1971)
Nguyên tác Hán văn: Tì-kheo Linh Diệu, tông Thiên Thai soạn - Dịch sang tiếng Việt: Thích Thọ Phước
(Xem: 1941)
Ngài Buddhaghosa sanh ra và lớn lên nước Magadha, thuộc Trung Ấn Độ, vào thế kỷ thứ V trong ngôi làng Ghosa, gần địa danh nơi đức Phật thành đạo Bodhigaya
(Xem: 2042)
Nghiên Cứu Về Kinh A Hàm (Ãgama, Sanscrist)
(Xem: 2829)
Ai nói như sau, này các Tỷ-kheo: "Người này làm nghiệp như thế nào, như thế nào, người ấy cảm thọ như vậy, như vậy".
(Xem: 2259)
Đây là những điều tôi nghe hồi Bụt còn ở tại tu viện Cấp Cô Độc trong vườn cây Kỳ Đà ở thành Vương Xá.
(Xem: 2312)
Vào thời Đức Thích-ca-mâu-ni, không có hệ thống chữ viết được phổ biếnẤn Độ. Do đó, những thuyết giảng của Ngài được ghi nhớ và ...
(Xem: 2574)
"Lại nữa, lúc bấy giờ Mahāmati thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, ngài đã từng dạy rằng: từ lúc Như Lai chứng nghiệm giác ngộ cho đến...
(Xem: 3094)
Kinh Địa Tạng là một trong các kinh Đại thừa được phổ biến rộng rãi trong quần chúng Việt Nam từ hơn nửa thế kỷ nay song song với các kinh Kim Cương, Di Đà, Phổ Môn...
(Xem: 3650)
Nguyên tác: Tôn giả Thế Thân (Acarya Vasubandhu) - Hán dịch: Tam Tạng Pháp sư Huyền Tráng; Việt dịch: Tỳ khưu Tâm Hạnh
(Xem: 2374)
No. 1613 - Nguyên tác: Tôn giả An Huệ; Dịch Hán: Tam Tạng Pháp sư Địa-bà-ha-la; Dịch Việt: Tâm Hạnh
(Xem: 3256)
Duy thức nhị thập luận, do bồ tát Thế Thân soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường... được thu vào Đại chính tạng, tập 31, No.1590.
(Xem: 3177)
Bồ-tát Trần Na tạo luận. Tam tạng Pháp sư Huyền Trang phụng chiếu dịch. Việt dịch: Quảng Minh
(Xem: 5132)
Nghe như vầy, một thời Đức Phật ở nước Xá Vệ ở vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc cùng chúng đại Tỳ Kheo năm trăm vị. Bấy giờ các thầy Tỳ Kheo...
(Xem: 3388)
No. 699; Hán dịch: Đời Đại Đường, Trung Thiên Trúc, Tam tạng Pháp sư Địa bà ha la, Đường dịch là Nhật Chiếu
(Xem: 3651)
Đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni, bắt đầu chuyển pháp-luân, độ cho năm vị Tỳ-Khưu là Tôn-giả Kiều-Trần-Như v.v... Sau cùng, Ngài thuyết pháp độ cho ông Tu-bạt-đà-la.
(Xem: 2739)
Kinh Phạm Võng nằm trong Đại Chánh Tạng, tập 24, ký hiệu 1484, gọi đủ là Phạm võng kinh Lô xá na Phật thuyết bồ tát tâm địa giới phẩm đệ thập
(Xem: 3457)
Phật thuyết-giảng Kinh Phạm-Võng để dạy về giới-luật, và các pháp cao-siêu vượt thoát được sáu mươi hai kiến-chấp vốn là các tà-kiến đã...
(Xem: 2981)
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana, vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc). Ở đây,,,
(Xem: 3554)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Kinh Tập, Kinh số 0434; Dịch Phạn - Hán: Tam Tạng Cát-ca-dạ, Dịch Hán - Việt và chú: Tỳ-kheo Thích Hạnh Tuệ; Hiệu đính: HT Thích Như Điển
(Xem: 2716)
Đời Đường, Thận Thủy Sa Môn Huyền Giác Soạn; Thánh Tri dịch nghĩa Việt và viết bài học giải...
(Xem: 3094)
Phật giáo được khai sáng ở Ấn-độ vào năm 589 trước kỉ nguyên tây lịch (năm đức Thích Ca Mâu Ni thành đạo), và đã tồn tại liên tục, phát triển không ngừng trên ...
(Xem: 3446)
Trong truyền thống Phật giáo Bắc truyền, Dược Sư là một bản kinh thường được trì tụng nhằm mục đích giải trừ tật bệnh, cầu nguyện bình an...
(Xem: 3489)
Thích-ca là phiên âm của tiếng Phạn. Phiên âm Hán Việt là Năng Nhân. Tức là họ của đấng hóa Phật ở cõi Ta-bà...
(Xem: 4524)
Kinh chuyển Pháp luân là bài thuyết Pháp đầu tiên của Đức Phật Thích-ca sau khi Ngài đã đắc đạo.
(Xem: 4004)
Ba Ngàn Oai Nghi Của Vị Đại Tỳ Kheo - Được xếp vào tập T24 - Kinh số 1470 - Tổng cộng kinh này có 2 quyển
(Xem: 3966)
Những gì xảy ra trong thế giới này đều bị qui luật Nhân quả chi phối. Mọi thứ xuất hiện ở đời đều có nhân duyên. Hạnh phúcthế gian hay Niết bàn của người tu đạo không ra ngoài qui luật ấy.
(Xem: 4400)
Satipatthana Sutta là một bản kinh quan trọng làm nền tảng cho một phép thiền định chủ yếu trong Phật giáo là Vipassana...
(Xem: 3842)
Kinh Tứ Thập Nhị Chương là một bài Kinh được truyền bá khá rộng rải ở các Tồng Lâm Tự Viện của Trung QuốcViệt Nam từ xưa đến nay.
(Xem: 4286)
Dịch từ Phạn sang Tạng: Kluḥi dbaṅ-po, Lhaḥi zla-ba; Dịch Tạng sang Việt: Phước Nguyên
(Xem: 5400)
Trí Phật là trí Kim – cang, Thân Phật là thân Kim – Sắc, cõi Phật là cõi Hoàng – kim, lời Phật tất nhiên là lời vàng.
(Xem: 3912)
Bấy giờ Hòa Thượng Vakkali nhìn thấy Đức Phật đang đi đến từ xa, và ông đã cố gắng ngồi dậy.
(Xem: 6895)
Xin dâng hết lên Tam Bảo chứng minh và xin Quý Ngài cũng như Quý Vị tùy nghi xử dụng in ấn tiếp tục hay trì tụng cũng như cho dịch ra những ngôn ngữ khác...
(Xem: 6613)
Niệm Phật Tâm Muội do HT Hư Vân soạn, Sa môn Hiển Chơn dịch; Tọa Thiền Dụng Tâm Ký do Viên Minh Quốc Sư soạn, HT Thích Thanh Từ dịch
(Xem: 4401)
Khi Bồ-tát Quán Tự Tại hành sâu Bát-nhã Ba-la-mật-đa, ngài soi thấy năm uẩn đều KHÔNG, liền qua hết thảy khổ ách.
(Xem: 20313)
Viết ra các bài Phật học thường thức này, chúng tôi không có tham vọng giới thiệu toàn bộ Phật pháp và chỉ cốt giúp cho các bạn sơ cơ hiểu được một cách đúng đắn, đạo lý năm thừa trong Phật giáo mà thôi.
(Xem: 3821)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, Kinh văn số 1675. Tác giả: Long Thọ Bồ Tát; Sa Môn Sắc Tử dịch Phạn sang Hán; HT Thích Như Điển dịch Việt
(Xem: 7281)
Thuở đó đức Phật đang ngự tại rừng Ta-la-song-thọ, ở ngoại ô thành Câu-thi-na, thuộc lãnh thổ trị vì của bộ tộc Lực-sĩ.
(Xem: 4784)
Đức Thế Tôn từ nơi cung trời Đâu-suất sinh xuống thành Ca-duy, chán đời sống dục lạc ở vương cung, thành tựu đạo chơn thường dưới cội cây...
(Xem: 4538)
Kinh Rong Chơi Trời Phương Ngoại là một phẩm của Kinh Pháp Cú Hán tạng có tên là Nê Hoàn Phẩm. Nê HoànNiết bàn (Nirvana, Nibbâna).
(Xem: 4078)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, quyển thứ 32, luận tập bộ toàn, kinh văn số 1637. HT Thích Như Điển dịch
(Xem: 4473)
Đây là kinh Pháp Quán Phạm Chí. Khung cảnh dựng lên cho kinh cũng giống như khung cảnh của kinh thứ mười một...
(Xem: 6055)
Đại Chánh Tân Tu đại tạng kinh, quyển thứ 32, kinh văn số 1680, luận tập bộ toàn. HT Thích Như Điển dịch Việt
(Xem: 4613)
Một thời, đức Bhagavat trú tại Vārāṇasi, nơi xứ Ṛṣipatana, trong rừng Mṛgadāva. Bấy giờ, đức Thế Tôn nói:
(Xem: 4332)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh quyển 32, luận tập bộ toàn, kinh văn 1671; HT Thích Như Điển dịch sang tiếng Việt.
(Xem: 4365)
Kinh Bát Đại Nhân Giác này của Đại Sư An Thế Cao từ nước An Tức sang Trung Quốc vào thời Hậu Hán (năm 132-167 sau công nguyên) soạn dịch.
(Xem: 4602)
Năm nay (2016) trong chương trình của tôi, không dự định đi sang Úc, nhưng ngày 23 tháng 6 năm 2016 vừa qua...
(Xem: 5268)
Tôi được nghe như vầy: một thuở nọ, Đức Thế Tôn đang ngụ tại vườn Nai, ở Isipatana gần Bénarès. Lúc bấy giờ...
(Xem: 4009)
Nay ở nơi chư Phật Chắp tay kính đảnh lễ Con sẽ như giáo nói Tư lương Bồ-đề Phật.
(Xem: 5427)
Lúc bấy giờ, ngài Vô-Tận-Ý Bồ-Tát (1) liền từ chỗ ngồi đứng dậy trịch áo bày vai hữu (2), chấp tay hướng Phật mà bạch rằng:
(Xem: 5242)
Bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (Taisho Shinshu Daijokyo) xuất xứ từ thời Vua Taisho (Đại Chánh) ở Nhật Bản từ đầu thế kỷ thứ 20.
(Xem: 6994)
Có lẽ Lăng Già là một trong những bộ kinh phân tích cái Tâm một cách chi li, khúc chiết nhất trong kinh điển Phật giáo.
(Xem: 5121)
Tôi nghe như vầy. Có một lúc, Đức Phật đã sống ở gần Xá Vệ (Savatthi) trong Khu Rừng Kỳ Đà (Jeta Wood) ở tu viện Cấp Cô Độc
Quảng Cáo Bảo Trợ