Logo Hanh Huong
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
View Counts
13,940,676
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Mâu Ni Tóm Tắt

08 Tháng Năm 201807:03(Xem: 160)
Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Mâu Ni Tóm Tắt

Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Mâu Ni Tóm Tắt 

Thích Trừng Sỹ


Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Mâu Ni Tóm Tắt

Tất Đạt Đa Cồ Đàm (Siddhārtha Gautama), một con người lịch sử, một thái tử thuộc dòng họ Thích Ca(Sakya), con trai của vua Tịnh Phạn (Suddhodana), sống tại thành Ca Tỳ La Vệ (Kapilavastu) cách đây gần ba nghìn năm. Tất Đạt Đa sinh vào ngày trăng tròn tháng Vesak, tương ứng với tháng năm thường lịch, năm 624 trước công nguyên dưới gốc cây Vô Ưu (Ashoka tree) tại vườn Lâm Tỳ Ni (Lumbini), nước Nê-pan (Nepal) ngày nay. Siddhartha có nghĩa là con người toại nguyện có đầy đủ phước đức và trí tuệ

Sau khi thái tử sinh ra được 7 ngày, mẹ ngài, tứcthánh Mẫu Ma-da (Māyādevī) mất. Người mẹ kế của ngài là Ma-ha Ba-xà-ba-đề Kiều-đàm-di (Mahāpajāpatī Gotamī) chăm lo. Khi tới tuổi 16, thái tử lập gia đình với công chúa Da-du-đà-la (Yasodharā) và có một người con trai duy nhất tên là La Hầu La (Rāhula).

Sống trong cảnh nhung lụa, giàu sang và sung sướng, nhưng thái tử vẫn cảm thấy không tự do và thoái mái, cùng với người thân cận của mình tên là Sa Nặc (Channa), thực hiện một chuyến đi ra khỏi 4 cửathành hoàng cung để thăm các cảnh thật bên ngoài. Ra khỏi cửa thành, đi về hướng Đôngthái tử và Sa Nặc gặp người già; đi về hướng Tây, hai người gặp người bệnh; đi về hướng Nam, gặp người chết; và đi về hướng Bắc, gặp vị Khất sĩ. Một trong bốn cảnh thật mà thái tử chứng kiến, cảnh thật thứ tư không những là đề tài thiền quán cho thái tử, mà còn tạo nguồn cảm hứng cho thái tử sau này trở thành vịẩn sĩ không nhà, sống không gia đình và không bị ràng buộc bởi gia đình và con cái.

Xuất gia năm 29 tuổi, học đạo với hai vị đạo sĩ Ālāra Kalāma và Uddaka Rāmaputta, trải qua 6 năm tu khổ hạnh với 5 anh em của ông Kiều Trần Như (Kondañña), nhà tu Tất Đạt Đa xét thấy rằng việc tu khổ hạnhvà cực đoan của họ đã làm chướng ngại cho việc chứng đạo. Người quyết định chọn cho mình lối tukhông tham đắm dục lạc và không khổ hạnh ép xác, tức là hướng thực hành Trung Đạo(majjhimāpaipadā) với con đường Thánh có tám làn xe chạy: Chánh Kiến (Sammā Diṭṭhi)Chánh Tư Duy(Sammā Sakappa)Chánh Ngữ (Sammā Vācā)Chánh Nghiệp (Sammā Kammanta), Chánh Mạng(Sammā Ājīva), Chánh Tinh Tấn (Sammā Vāyāma)Chánh Niệm (Sammā Sati), và Chánh Định (Sammā Samādhi).[1]   

Sau khi dùng bát cháo sữa do nàng Su Dà Ta (Sujatacúng dường, nhận bó cỏ Kiết tường (Kusa) của người nông phu, đến Bồ Đề Đạo Tràng (Bodhgaya), Bồ tát Tất Đạt Đa kiên quyết ngồi thiền định dưới cộiBồ đề 49 ngày đêm cho tới khi thành chánh quả. Ngài thực tập thiền định từ thấp tới cao, quán niệm hơi thở ra vào đều đặn (Anapana Sati), an trú Sơ Thiền (Jhāna), Nhị ThiềnTam ThiềnTứ ThiềnKhông Vô Biên Xứ Định (Akasanantya Yatana), Thức Vô Biên Xứ Định (Vijnanantya Yatana), Vô Sở Hữu Xứ Định(Akincanna Yatana), Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Định (N'evasanna Nasanna Yatana), Diệt Thọ Tưởng Định (Nirodha Samapatti).[2]

Đêm thứ 49, canh đầuBồ Tát chứng Túc Mạng Minh (Pubbe nivāsānussati māna), biết rõ nhân quả nhiều đời trước của Ngài; canh giữa, Ngài chứng Thiên Nhãn Minh (Cutūpapāta māna), biết rõ nghiệp báo nhiều đời trước của chúng sanhcanh cuối, khi sao mai vừa mọc, Ngài chứng Lậu Tận Minh (Āsavakkhaya māna), giác ngộ viên mãn (Anuttara samma sambodhi) – phát hiện ra bốn sự thật: Khổ (Dukkha), Khổ tập(Dukkha samudaya ariya sacca), Khổ diệt (Dukkha nirodha ariya sacca), Con đường đưa đến khổ diệt(Dukkha nirodha gāmini  patipadā ariya sacca). Cuối cùngBồ tát thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni(Sakyamuni) tại Bồ Đề Đạo Tràng lúc 35 tuổi.

Sau khi Bồ Tát thành PhậtPhạm thiên Sahampati thưa thỉnh đức Phật ba lần để đi hoằng pháp và giáo hóachúng sanhCuối cùngđức Phật đồng ý những lời thỉnh mời của Phạm thiên, và tìm đến hai vị đạo sĩ trước đây để truyền đạo, nhưng cả hai vị đều qua đời. Đi đến vườn Lộc Uyển (Migadava) ở Sarnathđức Phật nói bài Pháp đầu tiên (Dhamma Cakka Pavattana) cho năm người bạn đồng tu. Cả năm người này đều thấm nhuần diệu pháp và chứng quả A La Hán (Arhanta). Như vậy, Phật, Pháp và Tăng được hình thành tại đây.

Đức Phật và Tăng chúng chủ yếu nương vào thiền định để nuôi dưỡng tâm, nương vào của bố thí của người đàn việt để nuôi dưỡng thân, thích an trú vào môi trường thiên nhiên, và đạt được sự tu chứngan lạc và hạnh phúc của tự thân để giáo hóa tha nhân. Sống đời sống không gia đình, quý Ngài có nhiều thời gian để tu tập và phục vụ chúng sanh, nương vào tình thầy trò, tình pháp lữ, tình đồng tu, tình hộ pháp vàhoằng pháp để làm lợi lạc cho quần sanh.

Tiếp theo, nhà giàu có Da Xá (Dasa), gia đình Da Xá, các bạn, và các người thân quen của Da Xá đượcđức Phật giáo hóa và làm đệ tử của Người. Trong số đó, những vị đệ tử đức hạnhtài đức, và nổi tiếngnhất của Người được liệt kê dưới đây là:

Tôn giả Xá-lợi-phất (Sāriputta) – Vị có trí tuệ đệ nhất,

Tôn giả Mục-kiền-liên (Moggallana) – Vị có tấm lòng hiếu thảo và thần thông đệ nhất,

Tôn giả Ma Ha Ca-diếp (Maha Kassapa) – Vị Tổ Sư gương mẫu có khả năng thu nhiếp đại chúnglãnh đạoTăng đoàn, và tu hành khổ hạnh đệ nhất,

Tôn giả Tu-bồ-đề (Subhuti) – Vị quán chiếu tánh không (Suññatā) đệ nhất,

Tôn giả Phú-lâu-na (Purana) – Vị giảng Sư tài giỏi thuyết pháp đệ nhất,

Tôn giả Ca-chiên-diên (Kaccayana) – Vị luận Sư tài giỏi luận giải Phật pháp đệ nhất,

Tôn giả A-na-luật (Anurudha) – Vị có cái nhìn không chướng ngại, tức Thiên nhãn đệ nhất,

Tôn giả Ưu-ba-li (Upali) – Vị luật Sư gương mẫu trùng tuyên Luật tạng và trì Luật đệ nhất,

Tôn giả A-nan (Ananda) – Vị có khả năng nghe nhiều, tiếp thu, nhớ kỹ, trùng tuyên Kinh tạng, cũng là vị thị giả tướng hảotrung thànhtận tâm, chu đáo, và khéo léo đệ nhất,

Tôn giả La-hầu-la (Rahula) – Vị có hạnh nhẫn nhục, lắng nghe, chuyển hóa, và thực hành oai nghitế hạnh đệ nhất.

Nữ Tôn giả Kiều-đàm-di (Mahàpajàpati Gotami) – Vị Tổ Sư gương mẫu có khả năng thu nhiếp đại chúng,lãnh đạo Ni đoàn, và tu hành khổ hạnh đệ nhất,

Nữ trưởng giả Tỳ-xá-khư (Visakha) – Vị thí chủ hảo tâm bố thícúng dường, và hộ trì Phật pháp đệ nhất

Nam trưởng giả Cấp-cô-độc (Anathapindika) – Vị thí chủ hảo tâm bố thícúng dường và hộ trì Phật pháp đệ nhất

Vua A-dục (Ashoka) – vị hoàng đế thánh Phật tử có công truyền bá đạo Phật trong và ngoài nước Ấn Độđệ nhất.

 

Khi các đệ tử của đức Phật càng ngày càng đông, đức Phật động viên và khuyên bảo: “Này các Thầy Tỳ Kheo! Hãy ra đi nhiều hướng khác nhau để hoằng dương chánh pháp và cứu độ chúng sanh, hãy đem sựtu tậpan lạc và hạnh phúc của tự thân để giáo hóa tha nhân. Vì an lạc và hạnh phúc cho chư thiên và loài người, các vị hãy truyền bá chánh pháp cho muôn loài. Giáo pháp của Như Lai toàn hảo ở chặn đầu, chặn giữa, và chặn cuối, cả tinh thần lẫn văn tự. Các vị hãy công bố đời sống thánh thiện và hòa bình cho số đông trên khắp hành tinh này.”(Xem Mahāvagga 19 – 20).

Về sau, đức Phật giáo hóa rất nhiều hạng người khác nhau trong mọi tầng lớp xã hội, như các vua quan, quần thần, thương gia, tôi tớ, thậm chí những kẻ hốt phân, kẻ sát nhân và kỷ nữ. Giáo pháp và Tăng đoàncủa đức Thế Tôn đều có khả năng dung nhiếp những người đến từ các giai cấptôn giáo, màu da, chủng tộc… khác nhau. Những ai có đủ duyên tu, học, hiểu, thực hành, và ứng dụng Phật pháp vào trong đờisống hằng ngày của mình một cách chánh niệm và tỉnh giác, thì họ có thể đem lại an lạc và hạnh phúc đích thực cho tự thân và cho tha nhân ngay bây giờ và ở đây trong cuộc sống hiện tại.

Các đệ tử của đức Phật chủ yếu bao gồm hai Chúng: xuất gia và tại gia. Cả hai chúng này đều hỗ trợ với nhau như hình với bóng làm yếu tố then chốt để cùng nhau đem đạo Phật đi vào cuộc đời và giúp đời thêm vui bớt khổ.

Hoằng dương chánh pháp trong 45 năm, tất cả những gì đức Phật dạy như nắm lá cây trong lòng bàn tay nhằm giúp con người nhận diện và chuyển hóa khổ đau, và giúp họ sống đời sống an vui và hạnh phúcngay tại thế gian này.

Trước khi nhập Niết Bànđức Phật khuyên dạy các đệ tử: “Hỡi các đệ tử! Các pháp hữu vi đều vô thườngvà biến đổi. Các vị hãy tinh tấn tu học và thực hành phật pháp nhiều hơn nữa, để đem lại an vui và hạnh phúc cho tự thân và cho tha nhân. Đây là những lời giáo huấn tối hậu của Ta cho các người.” [Xem Trường Bộ (Dìgha Nikàya) – Kinh Đại Bát Niết Bàn (Mahàparinibbàna sutta) II số 16].

Trụ thế ở đời 80 năm, khoảng năm 544 trước công nguyên, lúc 80 tuổi, đức Phật nhập diệt tĩnh lặng, nằm nghiêng mình về hông phải, chân trái duỗi thẳng trên chân phải, đầu quay về hướng Bắc dưới hai cây song thọ tại rừng Sa La (Sala) tại quận Câu Thi Na (Kushinagar), Ấn Độ ngày nay.

Để tỏ lòng tôn kính và tri ân sâu sắc đối với đức Thế Tôn, mỗi người đệ tử của Ngài phải tự mình sống đúng với chánh pháp bằng cách không làm các việc ác, hãy làm các việc lành, giữ thân tâm thanh tịnh. Mỗi người chúng ta phải là món quà tu tập, hòa bình, an vui, và hạnh phúc đích thực để hiến tặng cho tự thân và cho tha nhân ngay cuộc đời này. 

 

Kính chúc quý vị thân tâm thường an lạc và thấm nhuần giáo pháp của đức Thế Tôn.

                           Thích Trừng Sỹ Trú trì Chùa Pháp Nhãn Austin[3]

 

                                                              



[1]  Xem Kinh Chuyển Pháp Luân (Dhammacakkappavattana Sutta) thuộc Tương Ương Bộ (Samyutta Nikaya, 56: 11).

[2]  Xem S. III. 28. Sāriputtasaṃyutta;  CDB. III. Chap. VII. 1018.

[3] http://www.phapnhan.net/ http://phapnhantemple.com/

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 19)
Gặp gỡ, quen biết ai trong cuộc sống này, ngẫm lại, có duyên mới gặp. Những mối quan hệ mà xã hội đặt để ...
(Xem: 28)
Quy kính Tam bảo là pháp hành căn bản của người con Phật. Từ lúc phát tâm hướng đạo tới khi chính thức quy y...
(Xem: 32)
Có câu " thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo", phàm làm điều thiện thì nhận lại điều thiện, làm điều ác thì nhận lại điều ác.
(Xem: 666)
Nay xin ghi lại đôi điều để nhắc nhớ một thời gian đã qua và cho những ai chưa biết. Thước đo thời gian đã làm cho thấy rõ được chí nguyện hoằng pháp, sự tu tập hành trì, và nuôi nuôi dưỡng thế hệ...
(Xem: 137)
Kinh là lời dạy của đức Phật, đó là chân lý sự thật, là những gì màđức Phật chứng ngộ, khám phá và tuyên thuyết ra, mang lại sựan lạc giải thoát cho người hành trì. K
(Xem: 135)
Bài này được viết trong ngày gần Ngày Lễ Mẹ tại Hoa Kỳ, để cúng dường Tam Bảo, và dâng tặng tất cả các bà mẹ từ vô lượng kiếp trên đời này.
(Xem: 108)
Đó là chiếc cầu bắc ngang hai bờ: Bờ dĩ vãng là thế hệ đàn anh và bờ tương lai là thế hệ đàn em. Sự "xung đột thế hệ" (generational gap) đã xảy ra từ cổ chí kim...
(Xem: 251)
Nhiều người có lúc khó tin rằng sẽ có sự tái sanh khi cuộc sống hiện tại này kết thúc. Làm sao chúng ta biết được rằng sự tái sanh là có thể?
(Xem: 205)
Trong tâm trí tôi hình dung về một đất nước Nhật Bản là những dòng thơ Thiền rất mực thơ mộng và kiệm lời. Và nêu lên được cái nhìn về thực tướng vô thường, vô ngã.
(Xem: 243)
Đọc lịch sử Đức PhậtThánh chúng, ai cũng xót xa khi đến đoạn Thế Tôn sắp nhập diệt.
(Xem: 194)
Người Phật tử chân chính, nếu không biết tu thì mình sẽ đụng chạm tới rất nhiều người, bởi thế gian này luôn tranh giành, sát phạt lẫn nhau;
(Xem: 169)
Thiền là pháp môn cơ bản mà bất cứ ai cũng có thể thực hành được. Hành thiền không chỉ mang lại sự an định nội tâm, đưa đến niềm vui hỷ lạc, mà còn...
(Xem: 253)
Có nhiều câu hỏi về tái sanh thường được nêu ra đối với các Phật tử. Có tái sanh không? Nếu có, có thể nhớ chuyện kiếp trước không? Cái gì tái sanh? Có thân trung ấm hay không?
(Xem: 679)
Mỗi người trong chúng ta khi sinh ra trên cõi đời nầy đều phải trải qua nhiều giai đoạn của cuộc sống. Nếu nói theo tướng mệnh học thì người ta chia cuộc đời nầy ra làm 3 giai đoạn. Đó là tiền vận, trung vận và hậu vận.
(Xem: 170)
Nhìn vào đời sống, chúng ta nhận ra cuộc đời thay đổi biết bao, và sự sốngliên tục chuyển dịch giữa những đối cực và những điều tương phản đến thế nào.
(Xem: 193)
Nhân ác quá khứ thì đã tạo, không thay đổi được. Những điều mà chúng ta có thể làm được là tạo ra nhân mới tốt, duyên mới thiện thì chắc chắn sẽ có quả báo lành.
(Xem: 170)
Chúng ta cần biết ơn con người và cuộc sống vì chúng ta đã nhận quá nhiều, và tiết kiệm là một trong những cách thực tế nhất thể hiện sự trân trọngbiết ơn của mình vậy.
(Xem: 170)
Phật thì dạy thế này : “Ta không tán thán các vị xuất gia có sự liên hệ, với các gia chủ. Nhưng với các trú xứ ...
(Xem: 157)
Lời Phật dạy thật rõ ràng. Những bất hạnh do thiên tai, chiến tranh, dịch bệnh v.v… giáng xuống một dân tộc, quốc gia do chính những con người sống trong đất nước ấy gây ra. N
(Xem: 166)
Thường thì nói ra bất cứ điều gì cũng dễ hơn làm. Nhất là trên bước đường chế ngự, chuyển hóa và làm chủ tâm thì lại càng khó hơn.
(Xem: 152)
Con đường Phật giáo nói chung, và kinh Lăng-già nói riêng, là phá trừ xua tan những vọng tưởng hư vọng, nói tổng quát là vô minh, để nhìn ra...
(Xem: 197)
Lúc mới bắt đầu đi chùa, mình thích nghe quý thầy, cô giảng pháp, thường khuyên mình nên ‘tu mau kẻo trễ’.
(Xem: 714)
Của Tăng Đoàn Âu Mỹ do Hòa Thượng Thích Như Điển, Phương Trượng Chùa Viên Giác, Đức Quốc, làm trưởng đoàn Tại chùa Hương Sen Perris, California
(Xem: 184)
Khi được khen ai cũng vui tươi, Khi bị chê ai cũng buồn chán, Người khôn vượt khỏi khen chê, Thân tâm an ổn, vui tươi làm lành.
(Xem: 199)
Lá và cành khô đã gẫy đổ, giạt theo mặt hồ từ những ngày tàn xuân. Một số cành khác đã mục rữa từ dưới nước, nhưng vẫn gắng bám rễ nơi sình lầy...
(Xem: 185)
Phần lớn quý vị của thế hệ trước thì muốn một cuộc sống điềm đạm, chậm rãi, thâm trầm. Đa số những người trẻ hiện nay thì muốn sống vội, sống nhanh.
(Xem: 191)
Lẽ thường, nếu biết rằng phút giây nữa mình sẽ chết thì chắc chắn chúng ta sẽ tận tâm tu tập, cầu nguyện,tuyệt không hề xao lãng.
(Xem: 155)
Tôi sinh ra trong một gia đình có ít nhiều gắn bó với Phật giáo. Bà nội tôi lúc cuối đời đã dồn hết những đồng tiềndành dụm cả đời để
(Xem: 166)
Tranh giành, tranh đấu, tranh cãi, tranh đua là nhữngtập khí cố hữu của chúng sinh. Cội nguồn của mọi sựtranh chấp ấy là tham dục và kiến dục.
(Xem: 205)
Câu nói cửa miệng của người đời là ‘sướng như tiên’. Kỳ thực thì chư Thiên, chư tiên là những vị có phước báo lớn nhưng vẫn còn khổ.
(Xem: 142)
Giới như ngọn đèn sáng hay phá tan tối tăm, mờ mịt. Giới như sức mạnh hay dựng đứng những gì đã ngã. Giới như ánh sáng trí tuệ hay chuyển hóa các phiền muộn, khổ đau.
(Xem: 152)
Thế gian lìa sanh diệt Giống như hoa trong không Trí chẳng đắc có không Mà hưng tâm đại bi.
(Xem: 271)
Trong cái thấy biết mọi hình ảnh sự vật, chúng ta chạy theophân biệt là gốc vô minh; trong cái thấy biết, thấy chỉ là thấy không phân biệt là Niết-bàn.
(Xem: 171)
Chúng ta là những sinh thể sống. Chúng ta phải tiếp nhận tình cảm liên tục, chỉ như thế thì đời sống mới trở thành đầy đủ ý nghĩa nhiều hơn, nhiều hạnh phúc sâu xa bên trong hơn.
(Xem: 158)
Ngày xưa khi Đức Phật ngồi Thiền dưới cội bồ-đề và chứng được Túc Mạng Minh, Ngài nhớ lại vô sốkiếp trước đã làm gì, ở đâu như nhớ chuyện ngày hôm qua.
(Xem: 612)
“Hạt nắng Bồ Đề” là ghi nhận từng bước hành hương và tấm lòng mong cầu tu học mà anh Văn Công Tuấn đã thực hiện.
(Xem: 155)
Nghiệp (karma) là một hành động. Hành động ấy phát xuất từ một chủ thể nhắm đến và tác động lên một đối tượng.
(Xem: 693)
Bodhisattva (Sanscrit), Bodhisat(Pali). Viết trọn chữ theo tiếng Phạn là: Bồ Đề Tát Đỏa. Bồ Đề, Bodhi là Chánh Giác. Tát Đỏa, Sattva là chúng sanh.
(Xem: 241)
Tôi rất vui mừng hiện diện ở đây với quý vị, để chia sẻ một vài quan điểm của tôi, và có thể cũng là một số kinh nghiệm nào đó. C
(Xem: 141)
Thực tế, tôi rất vui mừngcảm thấy vinh dự lớn để đón nhận giá trị này và cũng có cơ hội để nói với những thanh thiếu niên nam nữ.
(Xem: 886)
Khi dòng sông phút trước không còn là dòng sông phút sau, thì đời người phút trước cũng không giống đời người phút sau.
(Xem: 645)
Tuyển tập Những Bài Viết Ngắn Của HT Thích Như Điển Phương Trượng Chùa Viên Giác Hannover Đức Quốc
(Xem: 986)
Nguyên tác: The Power of Fogiveness, Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma, Limerick (Ireland) 2011, Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 457)
Bất luận là người tu tại gia hay xuất gia, cần phải trên kính dưới hòa, nhẫn nhục điều người khác khó nhẫn được, làm những việc mà người khác khó làm được...
(Xem: 1199)
Quên mìnhbước đầu để dẹp bỏ những hàng rào ngăn cách với người khác. Không vì mình là vì muốn làm lợi ích cho số đông.
(Xem: 771)
Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn hiện thân trong cuộc đời dưới mọi dạng mọi hình như là những quý nhân để cứu độ, hay hiện lên và hay giúp đỡ (शब्दकोश)
(Xem: 640)
Tâm ý cân bằng hay tâm ý bất bình thườngảnh hưởng rất quan trọng đến sức khỏe con người.
(Xem: 508)
Bây giờ, ở đây, khi tôi sử dụng chữ “hạnh phúc”, tôi đang nói về hạnh phúc trong một ý nghĩa chân thành, sự hài lòng sâu xa.
(Xem: 979)
Là người Phật tử, dù tu tập theo pháp môn nào chúng ta cũng thường được nghe chư tôn đức dặn dò: "Tu tập phải luôn quay vào bên trong, quay về chính mình, không nhìn ngó ra ngoài".
(Xem: 529)
Theo kinh điển Nam truyền cũng như Bắc truyền, Bồ tát Di Lặc hiện trú tại cõi trời Đâu suất (Tusita), tầng trời thứ tư trong sáu tầng trời cõi Dục, đợi đủ nhân duyên sẽ giáng sanh xuống cõi Ta bà hóa độ chúng sanh.
Quảng Cáo Bảo Trợ