Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
19,276,312

Phát A-nậu-đa- La Tam-miệu Tam-bồ-đề Tâm

Sunday, November 11, 201808:11(View: 2097)
Phát A-nậu-đa- La Tam-miệu Tam-bồ-đề Tâm

Phát A-nậu-đa- La Tam-miệu Tam-bồ-đề Tâm

(Anouttara Samya Sambodhi)


T/S Lâm Như-Tạng
Phát A-nậu-đa- La Tam-miệu Tam-bồ-đề Tâm

I-             Bồ-Đề là gì?
II-            Những Kinh nói về Bồ-Đề
III-           Những Luận nói về Bồ-Đề
IV-           Bồ-Đề Tâm là thế nào?
V-            Những kinh nói về Bồ-Đề Tâm
VI-           Những luận nói về Bồ-Đề Tâm
VII-          Những Kinh nói về Phát Bồ-Đề Tâm
VIII-         Những luận nói về Phát Bồ-Đề Tâm 
IX-           Nội dung  bài  “Khuyến Phát Bồ-Đề Tâm Văn”
X-             Phần kết luận  

 

I-BỒ-ĐỀ LÀ GÌ ?

 

Khi  khảo sát về PHÁT BỒ-ĐỀ TÂM, chúng tôi tự nghĩ, chúng ta cần phải biết Bồ-Đề là gì? Bồ-Đề Tâm là thế nào? Phát Bồ-Đề Tâm phải học theo những Kinh, Luận nào? Vv.v…

Tiếng Pãli : bodhi. Dịch là Tri, Đạo, Giác, Trí. Nói theo nghĩa rộng Bồ ĐềTrí Tuệ đoạn tuyệt phiền não thế gianthành tựu Niết Bàn. Tức là Trí Giác Ngộ mà Phật, Bồ Tát,  Duyên Giác, Thanh Văn đã đạt được ở qủa vị của các Ngài. Trong  các loại Bồ Đề nầy, Bồ Đề của Phật là rốt ráo tột bậc, nên gọi là A nậu đa la tam miệu tam Bồ Đề dịch là Vô thượng chánh đẳng chánh giác, Vô thượng chánh biến trí, Vô thượng chính chân đạo, Vô thượng Bồ Đề.

Sau  khi thành Phật, Đức Thích Ca có giải rằng ngài có đủ ba thể Bồ Đề:

1-     Ứng Hóa Phật Bồ Đề: tức là  thể Bồ Đề hiện lại trong đời Ngài làm Thái Tử Tất Đạt Đatu hành.

2-     Báo Phật Bồ Đề: tức là thể Bồ Đề mà Ngài tự tạo ra nhờ các điều lành, các sự tu học trong những đời trước.

3-     Pháp Phật Bồ Đề: tức là  thể chơn như  đã có nơi Ngài tự bao giờ, nó vẫn thường trụ nơi các chúng sanh. Đó là Tam Bồ Đề hay là Tam Phật Bồ Đề.     

Ngoài ra Bồ Đề còn có nghĩa thông thường là thông suốtGiác Ngộ. Nhưng cảnh sở thông và sở giác có hai Pháp.   

Một là: Cắt đứt phiền não chướng mà được Nhất thiết  trí của Niết Bàn, đó là Bồ  Đề của Tam Thừa (Thinh Văn, Duyên GiácBồ Tát).

Hai là:  Cắt đứt được Sở tri chướng mà được Nhất thiết chủng trí biết tất cả các Pháp, đó là Bồ Đề của riêng Phật.

Bồ Đề của Phật gồm Nhất thiết tríNhất thiết chủng trí cho nên gọi là Đại Bồ Đề.

 

II-NHỮNG KINH NÓI VỀ BỒ-ĐỀ

1-KINH PHÁP HOA, PHẨM NHƯ LAI THỌ LƯỢNG  

Kinh có ghi : “Ta thực thành Phật đến nay đã vô lượng vô biên kiếp”. Đó là nói về Báo Phật Bồ Đề, thập địa viên mãn, chứng được Niết Bàn chân thường.

Pháp Phật Bồ Đề, Như lai tạng tính vốn là thanh tịnh, chúng sanh giới tức Niết Bàn Giới. Điều mà kinh nói: “Như Lai thấy biết tướng của ba giới đúng như thực, chứ không như Tam Giới thấy tam giới” chính là nghĩa ấy.  

2-KINH ƯU BÀ TẮC GIỚI

Trong kinh Ưu Bà Tắc Giới có ghi rằng:  Muốn tăng trưỡng hạt giống Bồ Đề thì nên làm 5 việc nầy:

(1)- Tự mình không nên tưởng điều khinh thường mà nói rằng mình chẳng được quả  Chánh-đẳng Chánh-giác.

(2)- Tự mình chịu khổ mà tâm không chán nãn hối hận.

(3)- Tu hành tinh tấn không ngừng không nghỉ.

(4)- Cứu độ vô lượng khổ não của chúng sanh.

(5)- Thường xưng tán công đức nhiệm mầu của Tam Bảo

Bồ Tát cầu quả Bồ Đề nên làm 4 việc nầy:

(1)- Gần gủi bạn lành.

(2)- Giữ tâm kiên cố không hoại.

(3)- Làm đặng việc khó làm.

(4)- Thương xót chúng sanh.

Lại phải làm 4 việc nầy nữa:

(1)- Thấy người có lợi, sanh tâm vui mừng.

(2)- Thường ưa khen tặng công đức người khác.

(3)- Thường tu tập Pháp Lục Niệm : (không sát sanh, không tà dâm, không trộm cắp, không vọng ngữ, không uống rượu, không ăn sau giờ ngọ).

(4)- Thường hay giảng thuyết về chỗ lỗi lầm trong đường sanh tử.

Phải thực hành tám 8 điều ấy mới mau chứng đắc quả Bồ Đề.

3-NHỮNG KINH KHÁC

Ngoài ra còn có thể tham khảo những Kinh sau đây: Kinh Bồ Tát Địa Trí q.3, phẩm Vô Thượng Bồ Đề. Kinh Đại Phẩm Bát Nhã q. 22.  Kinh Bồ Đề Tâm q.1.  Kinh Hoa Nghiêm q.38, q.52. Kinh Duy Ma Cật quyển thượng. Kinh Đại Bảo Tích q.1, q.27...

 

III-NHỮNG LUẬN NÓI VỀ BỒ-ĐỀ

1-ĐẠI TRÍ ĐỘ LUẬN (CỦA BỒ TÁT LONG THỌ), Q.53

Về Bồ Đề của Phật, theo Luận Đại Trí Độ quyển 53, có 5 loại:

(1)- Phát Tâm Bồ Đề: nghĩa là Bồ Tát ở giai vi Thập Tín phát tâm Bồ Đề, tâm ấy là nhân đưa đến quả Bồ Đề.

(2)- Phục Tâm Bồ Đề:  nghĩa là Bồ Tát ở các giai vị Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng... tu các hạnh Ba La Mật, chế phục phiền não, hàng phục tâm mình.

(3)- Minh Tâm Bồ Đề: nghĩa là Bồ Tát ở giai vị Đăng Địa (Hoan Hỉ Địa), biết rõ thực tướng các Pháp rốt ráo trong sạch, là tướng Bát Nhã Ba La Mật.

(4) Xuất Đáo Bồ Đề: nghĩa là Bồ tát ở ba giai vị Bất Động Địa, Thiện Huệ Địa, Pháp Vân Địa, ở trong Bát Nhã ba La Mật diệt trừ phiền não trói buộc, ra khỏi ba cõi, đến Nhất Thiết Trí, nên gọi là xuất đáo Bồ Đề.

(5)- Vô Thượng Bồ Đề: nghĩa là bậc Đẳng Giác (Phật ,bình đẳng nhất như), Diệu Giác (tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn) chứng đắc A Nậu đa la tam miệu tam Bồ Đề tức là Giác Trí của quả Phật.

2- VÃNG SANH TỊNH ĐỘ LUẬN CỦA BỒ TÁT THẾ THÂN

 Luận viết: có 3 điều trái với cửa Bồ Đề, gọi là 3 tâm xa lìa hoặc là ba chướng lìa Bồ Đề, đó là:

(1)- Chấp trước tự ngã.

(2)- Không muốn làm cho tất cả chúng sinh được yên ổn.

(3)- Chỉ cầu lợi ích cho bản thân mình.

Cũng Luận trên viết ba  tâm thanh tịnh như sau:

(1)-  Vô nhiễm thanh tịnh tâm: không cầu yên vui cho bản thân mình.

(2)- An thanh tịnh tâm: trừ khổ cho chúng sanh, khiến họ được yên vui.

(3)- lạc thanh tịnh tâm: khiến chúng sanh đến Bồ Đề và cho an vui vĩnh viễn. Đây là ba tâm thuận theo cửa Bồ Đề.

 

3-THIỀN TỔ TRÚC LÂM YÊN TỬ  - TRẦN NHÂN TÔNG

Tổ Trần Nhân Tông đã lập ra Thiền Phái Việt Nam Trúc Lâm Yên Tử, xin ghi ra đây bài thơ KỆ THỊ TỊCH của Tổ để nói lên Tính Giác trong  bài thơ nầy:

“Kệ Thị Tịch

Hết thảy Pháp không sanh

Hết thảy Pháp không diệt

Nếu hay hiểu như vầy

Chư Phật thường trước mặt

Đến đi sao có đây”

(trích trong Trần Nhân Tông Toàn Tập của Giáo Sư Tiến Sĩ Lê Mạnh Thát, bản in 2006)

 

4- BỒ ĐỀ THEO THIÊN THAI TÔNG

Trong Thiên Thai Tông cũng có 3 Bồ Đề đó là :

(1)- Thực tướng Bồ Đề, cũng gọi là Vô thượng Bồ Đề: chân tướng Bồ Đề ngộ lý thực tướng, tương đương với Đức Pháp Thân.

(2)- Thực Trí Bồ Đề, cũng gọi là Thanh tịnh Bồ Đề: trí tuệ ngộ lý khế hợp, tương đương với Đức Bát nhã.

 (3)- Phương tiện Bồ Đề, cũng gọi là cứu kính Bồ Đề: ngộ được tác dụng tự tại giáo hóa chúng sinh, tương đương với Đức Giải Thoát.

 

IV-BỒ-ĐỀ TÂM LÀ THẾ NÀO ?

Bồ Đề Tâm tiếng Sanscrit là Bodhi-citta. “Gọi đủ là A-nậu-đa-la tam-miệu-tam-bồ-đề Tâm. Cũng gọi là vô thượng chính chân đạo ý, vô thượng Bồ Đề Tâm, vô thượng đạo tâm, vô thượng đạo ý, vô thượng tâm, Đạo Tâm, Đạo Ý, Đạo Niệm, Giác Ý. Tức là tâm cầu Bồ Đề vô thượng (cầu thành Phật). Tâm Bồ Đềhạt giống sinh ra hết thảy chư Phật, là ruộng tốt nuôi lớn các Pháp trong sạch. Nếu phát khởi tâm nầy mà tu hành tinh tiến thì sẽ mau chóng thành Bồ Đề vô thượng.

Cho nên biết Tâm Bồ Đề là chỗ bắt đầu của tất cả thệ nguyện chân chính, là gốc của Bồ Đề, là chỗ dựa của đại biBồ Tát học. Bồ Tát Đại Thừa trước hết cần phải phát tâm rộng lớn, gọi là phát tâm Bồ Đề, phát tâm, phát ý. Mới bắt đầu phát tâm, gọi là sơ phát tâm, tân phát ý. Người cầu về Tịnh Độ cũng phải phát tâm Bồ Đề.” (tham khảo Phật Quang Đại Tự Diển).   

Ngoài giải thích về Bồ Đề Tâm nói trên còn có:

1-NHỊ CHỦNG BỒ ĐỀ TÂM:

(1)- Duyên sự Bồ Đề Tâm: đó là lấy Tứ Hoằng Thệ Nguyện là thể: Một là chúng sanh vô biên thệ nguyện độ. Hai là phiền não vô tận thệ nguyện đoạn. Ba là pháp môn vô lượng thệ nguyện học. Bốn là Phật Đạo vô thượng thệ nguyện thành.

(2)- Duyên lý Bồ Đề Tâm: tất cả các Pháp vốn là tịch diệt, an trụ ở thực tướng trung đạo nầy mà thành nguyện hành TRÊN CẦU, DƯỚI HÓA đó là Bồ Đề Tâm tối thượng gọi là Bồ Đề Tâm duyên lý

2- BA BẬC BỒ ĐỀ TÂM

Bồ Đề Tâm có 3 bậc: Thượng, Trung, Hạ

(1)- Bậc Hạ có thể lần lên Bậc Trung và Bậc Thượng.

(2)- Bậc Trung có thể tiến lên Bậc Thượng hoặc sụt xuống Bậc Hạ.

(3)- Bậc Thượng cũng có thể sụt xuống Bậc Trung và Bậc Hạ.

Bồ Đề tâm mà sụt lùi gọi là thối chuyễn, hay thối Bồ Đề Tâm. Nếu tinh tấn tu các thiện Pháp thì Phước ĐứcTrí Tuệ ngày càng lớn, quả vị Phật ngày càng gần, đó gọi là Bất Thối chuyễn Bồ Đề Tâm. Chí tu trì bền bỉ nhẫn nhục chịu đựng với những cảnh trái nghịch, cương quyết để đạt đến mục đích thành Phật gọi là Kiên Cố Bồ Đề Tâm.

Gặp Phật, hoặc Tăng đoànthỉnh cầu chứng minh cho mình phát nguyện tu cho đến thành Phật thì gọi là Phát Bồ Đề Tâm. Như Ngài Pháp Tạng tỳ kheo đến trước Đức Phật Thế Tự Tại Vươngphát Bồ Đề Tâm, Ngài tinh tấn tu tập sau thành Phật A Di Đà. Hoặc là lễ bái cúng dường Tam Bảo, nguyện tu cho đến khi đắc quả vị Phật cũng gọi là Phát Bồ Đề Tâm, phát A nậu đa la tam miệu tam bồ đề Tâm, gọi tắc là Phát Tâm.   

 

V- NHỮNG KINH NÓI VỀ BỒ-ĐỀ TÂM

1-KINH NIẾT BÀN

Kinh Niết Bàn quyển 25: Bồ Tát cần phải gìn giữ Bồ Đề Tâm giống như người đời trông nôm đứa con một của mình; giống như kẻ mù hết một con mắt phải lo gìn giữ con mắt còn lại của mình; lại giống như những người đi đường xa vắng phải gìn giữ người dẫn đường của mình. Bồ Tát gìn giữ Bồ Đề Tâm cũng như vậy đó. Nhờ thủ hộ Bồ Đề Tâm nên đắc quả Chánh Đẳng Chánh Giác.

2-KINH BỒ TÁT ĐỊA TRÌ

Biết tâm mình một cách như thật đó là Bồ Đề. Tức tâm tự tính trong sạch sẳn có là Tâm Bồ Đề. Tâm Bồ Đề nhờ vào nhiều duyên mà phát khởi.

Theo Kinh Bồ Tát Địa Trì quyển 1, Tâm Bồ Đề gồm có 4 mục như sau:

(1)-   Thấy nghe thần thông biến hóa không thể nghĩ bàn của chư Phật và Bồ Tátphát tâm.

(2)- Tuy chưa thấy thần biến, nhưng được nghe nói về Bồ ĐềBồ Tát tạngphát tâm.

(3)- Tuy chưa nghe Pháp, nhưng tự thấy tướng Pháp diệt, vì muốn giữ gìn Pháp mà phát tâm.

(4)- Tuy không thấy tướng Pháp diệt, nhưng thấy chúng sanh đời ô trọc bị phiền não quấy phá khó phát tâm được nên mình phát tâm.  

Ngoài ra hành giả nên tham khảo thêm những Kinh khác như Kinh Vô Lượng Thọ, Kinh Đại Nhật, Kinh Kim Cang, Kinh Pháp Hoa, Kinh Bát Nhã, Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Lăng Nghiêm...

 

VI-NHỮNG LUẬN NÓI VỀ BỒ ĐỀ TÂM

1-LUẬN ĐẠI THỪA KHỞI TÍN CỦA MÃ MINH BỒ TÁT

Theo Luận Đại Thừa Khởi Tín nói về ba loại phát tâmliên quan đến Bồ Đề Tâm như sau:

(1)- Tín Thành Tựu phát tâm.

(2)- Giải hạnh Phát Tâm (Tu 6 pháp Ba La Mật).

(3)- Chứng Phát Tâm (Từ Tịnh Tâm đến cứu cánh, chứng Trí Chân Như , Pháp Thân).

Trong Tín Thành Tựu Phát Tâm sinh khởi 3 loại Tâm: Trực Tâm, Thâm Tâm, Đại Bi Tâm. Trường hợp nầy cũng gọi là 3 loại Phát Tâm Bồ Đề.

2-LUẬN BỒ ĐỀ TÂM CỦA BỒ TÁT LONG THỌ

 Mật Giáo chủ trương phát tâm là một trong năm lần chuyễn biến của chữ A, và dựa vào  ba Tâm Bồ Đềhạnh Nguyện, Thắng Nghĩa,Tam Ma Địa trong Luận Bồ Đề Tâm của Bồ Tát Long Thọ mà lập ra 4 loại phát tâm:

(1)-Tín Tâm: chỉ cho tâm đối với việc cầu Vô Thượng Bồ Đề không một mảy may ngờ vực. Vì tâm nầy là nền tảng của muôn hạnh nên cũng gọi là Bạch Tịnh Tín Tâm (lòng tin trắng sạch).

(2)- Đại Bi Tâm: sau khi phát Bạch Tịnh Tín Tâm, lại lập bốn thệ nguyện rộng lớn, Tâm nầy cũng gọi là Hạnh Nguyện Tâm, Hạnh Nguyện Bồ Đề Tâm.

(3)- Thắng Nghĩa Tâm: trong các Giáo Pháp, chọn lựa giáo pháp chân thực. Tâm nầy cũng gọi là Thâm Bát Nhã Tâm, Thắng Nghĩa Bồ Đề Tâm.

(4)- Đại Bồ Đề Tâm: ngay lúc quyết định bỏ phần kém, chọn phần hơn, thì Chư Phật mười phương liền hiện ở trước mặt để chứng minh, các ma thấy thế sợ mà rút lui. Đại Bồ Đề Tâm nầy cũng gọi là Tam Ma Địa Bồ Đề Tâm.

Tuy chia ra 4 tâm như trên nhưng vốn là một thể, cho đến lúc thành Phật quả cũng không giây phút nào rời nhau. Được như thế là nhờ Tự Hành, Hóa Tha, thế gian, xuất thế gian, tu tam mật của chư tôn mà ra, nên gọi là Hửu Tướng Bồ Đề Tâm.

Nhưng vì xưa nay vốn có tướng tức không tướng (theo Kinh Bát Nhã), cũng như hư không lìa tất cả tướng, nên khế hợp với Vô Tướng Bồ Đề Tâm.  

3-PHÁT BỒ ĐỀ TÂM KINH LUẬN CỦA BỒ TÁT THẾ THÂN

Theo Phát Bồ Đề tâm Kinh Luận, quyển thượng, phẩm phát tâm nói về Bồ đề Tâm như sau:

(1)- Tư duy về Phật.

(2)- Quán xét lỗi lầm của thân.

(3)- Thương xót chúng sinh.

(4)- Cầu quả tối thắng.

4-THIỀN TỔ TRÚC LÂM YÊN TỬ TRẦN NHÂN TÔNG

Bài thơ  8 câu như sau của Tổ nói về Bồ Đề Tâm:

“Mạn Hứng Ở Sơn Phòng

Ai buộc mà đi giải thoát tìm?

Không phàm sao phải kiếm thần tiên

Vượn mòn, ngựa mỏi ta gìa phải

Như cũ am mây một sập thiền

o0o

Phải trái tâm theo hoa sớm rơi

Lợi danh lòng lạnh mưa đêm rồi

Hoa tàn, mưa tạnh non im ắng

Một tiếng chim kêu xuân hết thôi.

(trích trong Toàn Tập Trần Nhân Tông của GSTS Lê Mạnh Thác, 2006).

 

VII-NHỮNG KINH NÓI VỀ PHÁT BỒ- ĐỀ TÂM

Do tâm thành phát khởi ý nguyện tu trì cho đến khi thành Phật hầu tế độ chúng sinh. Chữ Bồ Đề ở đây là chỉ cho sự giác ngộ hoàn toàn của Phật, là quả Chánh Giác.

Phát Bồ Đề Tâm ở đây còn gọi là Phát A-nậu-đa-la tam-miệu-tam-Bồ-Đề Tâm.

Khi phát Bồ Đề Tâm hành giả phải phát khởi đủ ba Tâm sau đây: một là: Thiện Tâm:  tất cả phiền não nguyện dứt sạch, tất cả pháp môn nguyện tu học. Hai là : Bi Tâm: thề nguyện độ tất cà chúng sanh. Ba là : Trực Tâm: thề xin tinh tấn tu tập để mau chónh thành Chánh Đẳng Chánh Giác.

1-KINH THỦ LĂNG NGHIÊM

Trong Kinh Thủ lăng Nghiêm quyển 6, Đức Quán thế Âm Bồ Tát bạch với Phật rằng: Tôi nhớ lại thuở xưa, cách nay Hằng hà sa số kiếp, có đức Phật ra đời hiệu là Quán Thế Âm. Tôi đến trước Đức Phật ấy Phát Bồ Đề  tâm...

2-KINH ƯU BÀ TẮC GIỚI

Trong Kinh Ưu Bà Tắc Giới Đức Phật có dạy rằng: Có những chúng sanh tu học ngoại đạo, nhưng không ưa những thuyết điên đảo trong các sách ngoại đạo, nên phát Bồ Đề Tâm. Hoặc có chúng sanh ở chỗ vắng lặng, nhờ thiện duyên bề trong mà phát Bồ Đề Tâm. Hoặc có chúng sanh xét lỗi của sự sanh tử luân hồiphát Bồ Đề Tâm. Hoặc có chúng sanh mắt thấy việc dữ, bèn phát Bồ Đề Tâm. Hoặc có chúng sanh thấu biết thân tâm mình tham lam, hờn giận, ngu si, bỏn xẻn, ganh ghét; vì ghét bỏ các thói xấu ấy, bèn phát Bồ Đề Tâm. Hoặc có chúng sanh vì thấy thần tiên của ngoại đạongũ thông, bè phát Bồ Đề Tâm. Hoặc có chúng sanh muốn biết thế gian là cùng hay vô cùng, bèn phát Bồ Đề Tâm. Hoặc có chúng sanh thấy nghe những chỗ không thể nghĩ bàn của Đức Như Lai, bèn phát Bồ Đề Tâm. Hoặc có chúng sanh sanh lòng thương xótphát Bồ Đề Tâm. Hoặc có chúng sanhyêu thương chúng sanhphát Bồ Đề Tâm.           

V.V...

 

VIII- NHỮNG LUẬN NÓI VỀ PHÁT BỒ-ĐỀ TÂM 

1-THIỀN TRÚC LÂM YÊN TỬ TỔ TRẦN NHÂN TÔNG

Tổ có hai bài thơ sau đây ý khuyên người đời mau Phát Tâm Bồ Đề, tu hành chóng thành Phật quả.

“Thân Như

Thân như hơi thở vào ra mũi

Thế tựa gió luồn mây núi xa

Đỗ quyên rền rĩ trăng ngày tháng

Đừng để tầm thường xuân luống qua.”

Ý nói đời người trong chuổi thời gian vô thường qua rất mau, nên tinh tấn Phát Bồ Đề Tâm tu học để chóng thoát sanh tử luân hồi.

Và bài thơ:

“ĐỀ CHÙA THÔN HƯƠNG CỔ CHÂU

Số đời một màn kéo

Tình người đôi mắt ngân

Cung ma chật hẹp lắm

Cõi Phật khôn xiết xuân.” (hai bài thơ trên cũng trích trong sách Toàn Tập Trần Nhân Tông của GS Lê Mạnh Thác).

Ý thơ đã rõ, Tổ nói đời người bị chi phối bởi những định luật: vô thường, khổ, không, vô ngã. Tổ khuyên chúng ta nên mau Phát đại nguyện Bồ Đề Tâm để tinh tấn tu tập, thoát khỏi cõi sinh tử hổn độn nầy để mau thành Phật Quả.

2-HÒA THƯỢNG THÍCH TRÍ QUANG KHUYÊN CHÚNG TA PHÁT BỒ-ĐỀ TÂM

Trong tác phẩm TÂM ẢNH LỤC của Hòa Thượng, Ngài đã viết:

“Về lý do Phát Bồ Đề Tâm, ngoài nỗi thống khổ sinh tử mà mình mục kíchý thức, có 2 việc mà kinh luận đề cập nhiều nhất, đó là tự biết mình có thể làm Phật và, tha thiết hơn cả, nghĩ đến sự suy tàn của Phật Pháp.

Trong 2 buổi công phu, buổi sáng, sự phát Bồ Đề Tâm được thể hiện trong đoạn văn chính sau đây, ngoài văn phát nguyện hồi hướng:

Nguyện kim đắc quả thành Bảo Vương (ngôi vị Phật Chí Tôn)

Hoàn độ như thị hằng sa chúng

Tương thử thân tâm phụng trần sát (quốc độ nhiều như vi trần)

Thị tắc danh vi báo Phật ân

Phục thỉnh Thế Tôn vị chứng minh

Ngũ trược ác thế thệ tiên nhập

Như nhất chúng sanh vị thành Phật

Chung bất ư thử thủ Nê Hòan

Đại hùng đại lực đại từ bi

Hy cánh thẩm trừ vi tế hoặc

Linh ngã tảo đăng Vô Thượng Giác

Ư thập phương giới tọa đạo tràng

Thuấn- nhã- đa tánh (tánh Không) khả tiêu vong

Thước- ca- la tâm  (tâm kim cương) vô động chuyễn.

 Buổi chiều cũng vậy, sự phát Bồ Đề Tâm được thể hiện trong 2 đoạn văn sau đây:

 Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ

Phiền não vô tận thệ nguyện đọan

Pháp môn vô lượng thệ nguyện học

Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành

Tự tánh (bản chất) chúng  sanh thệ nguyện độ

Tự tánh phiền não thệ nguyện đoạn

 Tự tánh pháp môn thệ nguyện học

Tự tánh Phật Đạo thệ nguyện thành.

3-“TUYỂN TRẠCH BẢN NGUYỆN NIỆM PHẬT TẬP” CỦA NGÀI NGUYÊN KHÔNG

Trong Tịnh Độ Tông Nhật Bản, Ngài Nguyên Không đã soạn sách nói trên, ngài có cái nhìn hơi khác về cách thực hành khi nói về Bồ Đề Tâm.

Căn cứ vào sách trên, phái Trấn Tây thuộc Tông Tịnh Độ mới chia Tâm Bồ Đề thành Bồ Đề Tâm Thánh Đạo MônBồ Đề Tâm Tịnh Độ Môn , và cho rằng Bồ Đề Tâm là Tổng An Tâm, Tam Tâm (Chí Thành Tâm, Thâm Tâm, Hồi Hướng Phát Nguyện Tâm) và Biệt An Tâm; vì thế chủ trương cần phải Phát Tâm Bồ Đề.

Lại nữa, phái Tây Sơn thuộc Tông Tịnh Độ chia Bồ Đề Tâm làm BỒ ĐỀ TÂM HÀNH MÔN và BỒ ĐỀ TÂM QUÁN MÔN. Phái nầy chủ trương không cần thực hành Bồ Đề Tâm Hành Môn là vì trong Bồ Đề Tâm Quán Môn đã đầy đủ Tam Tâm rồi.

Còn Tịnh Độ Chân Tông thì chia Bồ Đề Tâm thành TỰ LỰC BỒ ĐỀ TÂMTHA LỰC BỒ ĐỀ TÂM. Trong hai tâm nầy, Phật dùng thệ nguyện gốc cho chúng sanh tâm tin ưa, tức là  Tín Tâm Chân ThựcTâm nguyện làm Phật, Tâm Độ chúng sinh, cho nên gọi là Tha lực Bồ Đề Tâm, Tịnh Độ Đại Bồ Đề tâm. (X. Kinh Đại Phẩm Bát Nhã q.9; Kinh Ưu Bà tắc Giới q.1;  ...) ...

 

IX-NỘI DUNG “KHUYẾN PHÁT BỒ- ĐỀ TÂM VĂN”

Bài văn nầy do Ngài Đại Sư Thật Hiền, tự Tư Tề, hiệu Tĩnh Am, (người đời nhà Thanh, con nhà họ Thời ở Thường Thục), chùa Phạm Thiên Cổ Hàng,  biên soạn.

Trích từ trang mạn : www.dharmasite.net/khuyenphatbodetam­_hv.htm

Không thấy ghi dịch giả là ai?

Trong đoạn đầu nói về sự PHÁT TÂM và LẬP NGUYỆN:

“Từng nghe, cửa chính yếu vào đạo thì sự PHÁT TÂM làm đầu, việc khẩn cấp tu hành thì sự LẬP NGUYỆN đứng trước. Nguyện Lập thì có thể độ chúng sanh, tâm Phát thì Phật Đạo có thể thành. Nếu không Phát Tâm rộng lớn, không Lập Nguyện vững bền kiên cố, thì dù trãi qua nhiều kiếp như số vi trần, cũng vẫn y nhiên ở trong vòng luân hồi. Dù có tu hành cũng chỉ là uổng công lao nhọc, khổ sở một  cách vô ích. Nên Kinh Hoa Nghiêm nói: “Nếu quên mất Tâm Bồ Đề mà tu các pháp lành, gọi đó là nghiệp ma”. Quên mất mà còn như thế, huống chi chưa phát ư ? Cho nên muốn học Như Lai thừa thì trước phải phát Bồ Tát Nguyện, không thể chậm trễ vậy”.

 Đoạn thứ hai, nói về tám tướng:  TÀ, CHÁNH, CHƠN, NGỤY, ĐẠI, TIỂU, THIÊN, VIÊN.

“Nhưng tâm nguyện vốn có nhiều tướng trạng khác nhau, nếu không chỉ ra thì làm sao biết mà xu hướng đến. Nay xin vì đại chúng mà trình bày sơ lược. Sự Phát Tâm, Lập Nguyện gồm tám tướng là TÀ, CHÁNH, CHƠN, NGỤY, ĐẠI, TIỂU, THIÊN, VIÊN. Như thế nào là  tà, chánh, chơn, ngụy, đại, tiểu, thiên, viên ?

Đời có kẻ tu hành mà từ trước đến nay chỉ một bề hành theo sự tướng, không biết tham cứu tự tâm, chỉ lo những việc ở ngòai, hoặc mong cầu lợi dưỡng, hoặc ưa thích hư danh, hoặc ham dục lạc hiện đời, hoặc mong cầu phước báo mai sau, phát tâm như vậy gọi là TÀ.

Đã không mong cầu hư danh lợi dưỡng, lại không ham quả báu dục lạc đời sau, chỉ vì mong liễu thoát sinh tử, vì chứng đắc Bồ Đề, Phát Tâm như vậy gọi là CHÁNH.

Niệm niệm trên cầu Phật Đạo, tâm tâm dưới độ chúng sanh, nghe con đường thành Phật lâu xa cũng không sanh tâm thối chí khiếp sợ. Thấy chúng sanh khó độ mà không chán nản mệt mõi, như leo núi cao vạn trượng cũng quyết trèo lên tận đỉnh, như lên tháp lớn chín tầng cũng cố lên đến tột nóc. Phát tâm như vậy gọi là CHÂN.

Có tội không sám hối, có lỗi không trừ bỏ, trong trược ngoài thanh, trước siêng năng sau lười biến. Dù có tâm tốt phần lớn cũng bị danh lợi xen lẫn. Dù tu thiện Pháp phần nhiều cũng bị nghiệp tội làm ô nhiễm. Phát tâm như vậy gọi là NGỤY.

Chúng sanh độ hết nguyện ta mới hết, đạo Bồ Đề thành nguyện ta mới thành, phát tâm như vậy gọi là ĐẠI.

Xét xem ba cõi như lao ngục, nhìn sanh tử như oan gia, chỉ mong tự độ, không muốn độ người, phát tâm như vậy gọi là TIỂU.

Nếu ngoài tâm thấy có chúng sanh mình nguyện độ, có Phật Đạo nguyện thành, công phu không xã, thấy biết không tiêu mất. Phát tâm như vậy gọi là THIÊN.

Nếu biết tự tánhchúng sanh nên nguyện độ thoát, tự tánhPhật Đạo nên nguyệnviên thành, không thấy một pháp nào lìa tâm mà riêng có, lấy tâm hư không phát nguyện như hư không, làm hạnh như hư không, chứng quả hư không, cũng không có tướng hư không có thể đắc được. Phát tâm như vậy gọi là VIÊN.”

 

Sau đây là nói về MƯỜI NHÂN DUYÊN PHÁT TÂM BỒ ĐỀ:

“Tâm Bồ Đề nầy là vua trong các pháp lành, phải có nhân duyên mới phát khởi được. Nhân duyên ấy, nay nói tóm lược có 10:

(1)- Nhớ ơn sâu nặng của Đức Phật.

(2)- Nhớ ơn Cha Mẹ.

(3)- Nhớ ơn Sư Trưởng.

(4)- Nhớ ơn Thí Chủ.

(5)- Nhớ ơn chúng sanh.

(6)- Nhớ khổ sanh tử.

(7)- Tôn trọng Phật Tánh của chính mình.

(8)- Sám hối nghiệp chướng.

(9)- Cầu sanh Tịnh Độ.

(10)- làm cho Phật Pháp tồn tại lâu dài.

+o0o

1-NHỚ ƠN SÂU NẶNG CUẢ ĐỨC PHẬT

Thế nào là nhớ ơn nặng của Phật? Đức Phật Thích Ca Như Lai của ta, lúc mới phát tâm, đã vì chúng ta mà tu Bồ tát đạo, trải qua vô lượng kiếp chịu đủ các thứ khổ cực. Khi ta tạo nghiệp, Đức Phật xót thương, phương tiện giáo hóa, mà ta ngu si, không chịu tin theo. Ta đọa địa ngục, Phật càng thương xót, muốn thay ta chịu lấy khổ sở, nhưng vì nghiệp ta quá nặng, không thể cứu vớt. Ta sinh làm người, Phật dùng phương tiện khiến cho ta gieo trồng căn lành.

Đời đời kiếp kiếp, Phật luôn theo ta, lòng không tạm bỏ chốc lát. Khi Phật xuất thế ta còn trầm luân, nay được thân người Phật đã diệt độ. Tội lỗi gì mà sinh vào thời mạt pháp, phước đức nào lại được dự vào hàng ngũ xuất gia, nghiệp chướng gì mà không thấy được thân vàng của Phật, may mắn nào lại được cung nghinh xá lợi của Ngài. Suy nghĩ như vậy mới thấy, nếu đời quá khứ không gieo trồng căn lành thì làm sao được nghe Phật pháp, không nghe Phật pháp thì làm sao được biết thường thọ ân đức của Phật. Ân đức này, núi non cũng khó sánh bằng. Nếu không phát tâm quảng đại, hành Bồ tát đạo, xây dựng hộ trì Phật pháp, cứu độ chúng sanh, thì dù cho tan xương nát thịt cũng không thể đền đáp được. Đó là nhân duyên thứ nhất của sự phát Tâm Bồ đề

2-NHỚ ƠN CHA MẸ

 Thế nào là nhớ ơn cha mẹ? Thương thay cha mẹ sinh ta khó nhọc, mười tháng mang thai ba năm bú mớm, nhường khô nằm ướt, nuốt đắng nhả ngọt, mới được nên người. Mong ta tiếp nối gia phong, lo phần tế tự. Mà nay ta đã xuất gia, lạm xưng Thích tử, nhục hiệu Sa môn, đồ ngon vật ngọt đã không phụng dưỡng, cúng tế chạp tảo càng không chu tất. Cha mẹ còn sống, ta đã không thể nuôi dưỡng, khi cha mẹ qua đời, ta lại không thể hướng dẫn thần thức. Đối với phương diện thế gian là sự có lỗi lớn, đối với phương tiện xuất thế lại không có ích chi. Hai đường đều lỗi thì tội nặng khó thoát. Suy nghĩ như thế, chỉ có có cách trong trăm đời ngàn kiếp thường hành Phật đạo, mười phương ba đời khắp độ chúng sanh. Được như thế thì không phải chỉ cha mẹ một đời, mà song thân nhiều đời nhiều kiếp đều được độ thoát; không phải chỉ cha mẹ một người, mà song thân tất cả mọi người cùng được siêu thăng. Đó là nhân duyên thứ hai của sự phát Tâm Bồ đề.

3-NHỚ ƠN SƯ TRƯỠNG

Thế nào là nhớ ơn sư trưởng? Cha mẹ tuy sinh dưỡng sắc thân ta, nhưng nếu khôngsư trưởng thế gian thì không hiểu biết lễ nghĩa; không có sư trưởng xuất thế thì không hiểu Phật pháp.

Không hiểu biết lễ nghĩa thì chẳng khác gì cầm thú, Phật pháp không hiểu thì cũng như người phàm tục. Nay ta được biết chút ít về lễ nghĩa, được hiểu sơ lược về Phật pháp, ca sa trang nghiêm đắp thân, giới pháp nhuận thấm thân mình, được như thế là nhờ ân đức sâu nặng của sư trưởng. Nếu chỉ cầu quả nhỏ thì chỉ có lợi riêng cho bản thân mình mà thôi. Nay phải phát tâm đại thừa, phổ nguyện lợi ích hết thảy chúng sanh. Như thế thì sư trưởng thế giansư trưởng xuất thế đều được lợi ích. Đó là nhân duyên thứ ba của sự phát Tâm Bồ đề.

4-NHỚ ƠN THÍ CHỦ

 Nhớ ơn thí chủ là thế nào? Chúng ta ngày nay, mọi thứ cần dùng hàng ngày đâu phải của mình. Cơm cháo hai buổi, quần áo bốn mùa, tật bịnh cần dùng, thân miệng tiêu xài, đều xuất từ sức lực của kẻ khác mà đem đến cho ta sử dụng. Người nhọc sức cày cấy, còn khó nuôi miệng, ta ngồi không mà ăn, vẫn chưa vừa ý. Kẻ dệt đan mãi hoài mà vẫn gian nan cực khổ, còn ta an nhàn y phục thừa thãi, há không thương tiếc? Họ nhà tranh cửa lá, cực nhọc suốt đời, còn ta phòng lớn sân rộng, thong thả cả năm. Đem cái cực nhọc của họ cung phụng cái an nhàn cho ta, làm sao an lòng. Đem cái lợi ích của người để cung cấp sự no ấm cho thân xác mình, có hợp lý chăng? Do đó, phải vận dụng cả hai thứ bi trí, trang nghiêm cả hai mặt phước huệ, để thí chủ nhờ ơn, chúng sanh được phước, nếu không thì dù chỉ là một hạt gạo, một tấc vải, vẫn phải có phần trả nợ. Đó là nhân duyên thứ tư của sự phát Tâm Bồ đề.

5-NHỚ ƠN CHÚNG SANH

 Thế nào là nhớ ơn chúng sanh? Ta cùng với chúng sanh, từ vô lượng kiếp đến nay, đời đời kiếp kiếp thay đổi làm cha mẹ, kia đây đều có ơn với nhau. Nay tuy cách đời hôn mê, không nhớ biết nhau, nhưng lấy lý mà suy ra thì làm sao không đem sức báo đáp! Ngày nay đội lông mang sừng, nhưng biết đâu kiếp trước ta không phải là con cái của chúng. Hiện tại là các loài bò bay máy chạy, nhưng biết đâu quá khứ chúng đã không phải là cha của ta. Thường thường nhìn thấy thơ ấu mà lìa xa cha mẹ thì lớn lên đã quên hết hình dáng song thân, huống chi cha mẹ con cái đời trước, kiếp trước là họ Trương hay là họ Vương, ngày nay khó mà nhớ rõ. Họ gào thét trong địa ngục, ngất ngư trong ngạ quỉ, thống khổ ai biết, đói khát kêu ai. Tuy ta không thấy không nghe, nhưng họ tất cầu cứu độ. Ngoài Kinh ra nơi đâu bày tỏ được việc này, không Phật chẳng ai chỉ rõ cảnh ấy. Còn kẻ tà kiến làm sao có đủ sức mà biết được. Cho nên Bồ tát quán sát sâu kiến thấy toàn là cha mẹ quá khứ và chư Phật vị lai, thường nghĩ cách lợi ích cho chúng và thường nhớ trả ơn cho chúng. Đó là nhân duyên thứ năm của sự phát Tâm Bồ đề

6-NHỚ KHỔ SINH TỬ

 Thế nào là nhớ khổ sinh tử? Ta cùng với chúng sanh, từ vô lượng kiếp đến nay, cứ ở mãi trong vòng luân hồi sinh tử, chưa được giải thoát. Khi sanh trong loài người, lúc ở trên thiên cảnh, khi ở thế giới này, lúc ở phương khác, ra vào đủ cách, lên xuống liền liền. Thoáng chốc làm trời, thoáng chốc làm người, thoáng chốc sanh vào cõi địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh. Cửa đen sáng ra chiều về, hang sắt mới tạm lìa khỏi lại bước vào. Lên núi đao thì thân thể không còn mảnh da nguyên vẹn, vào rừng kiếm thì tim gan cũng bị cắt xả. Sắt nóng không hết đói, mà nuốt vào thì ruột gan cháy nát, đồng sôi đâu khỏi khát, mà uống vào thì xương tan thịt nát. Cưa bén cắt thân, cắt đứt ra là liền lại, gió lạ thổi vào thì chết rồi lại sống ngay. Trong thành lửa dữ chỉ nghe tiếng thét gào thảm thiết, trên bàn chưng nướng toàn nghe âm thanh đau khổ thống thiết. Băng tuyết đông lại thì như sen xanh kết nhụy, máu thịt rã ra thì như sen đỏ mới nở. Ở trong địa ngục, một đêm chết sống thường đến cả vạn lần, một buổi thống khổ mà như trăm năm ở nhân gian. Mãi hoài làm cho ngục tốt mệt nhọc, nhưng có ai chịu nghe lời Diêm vương khuyên bảo. Khi thọ quả báo mới biết đau khổ, dẫu hối hận cũng đâu có kịp; lúc thoát khỏi cảnh khổ thì lại quên ngay, vẫn tạo nghiệp y như cũ. Đánh con lừa đến đổ máu, đâu biết đó là cái bi thảm của mẹ mình; lôi con heo đến lò thịt, nào hay chính là cái đau thương của cha ta.

Tâm không phải thường trụ nên giống như thương khách bôn ba giong ruổi mọi nơi, thân không có hình dáng cố định nên khác nào phòng ốc thường dời đổi. Bụi nhỏ của cả đại thiên thế giới cũng khó sánh thân luân hồi, nước đầy trong bốn biển vẫn không bằng lệ biệt ly. Xương mà chất thì hơn núi cao, thây nằm ngang dọc thì nhiều hơn đại địa. Giả sử không được nghe lời Phật thì việc ấy ai thấy ai nghe, chưa được đọc văn Kinh thì lý này ai hay ai biết. Vậy mà có kẻ vẫn tham luyến như xưa, si mê như cũ, chỉ e rằng muôn kiếp ngàn đời một lần sai lầm là trăm lần sai lầm. Thân người khó được mà dễ mất, giờ tốt dễ trôi mà khó kéo. Rồi đường hướng mịt mờ, biệt ly dài dặc, ác báo tam đồ tự mình phải chịu, thống khổ không nói hết được, mà ai chịu thay. Trình bày đến đây, há chẳng lo sợ sao! Cho nên hãy dứt nguồn sinh tử, vượt bể ái dục, mình người cùng siêu thoát, đồng lên bờ giác. Từ vô lượng kiếp cho đến nay quan trọng là ở chỗ này. Đó là nhân duyên thứ sáu của sự phát Tâm Bồ đề

7-TÔN TRỌNG PHẬT TÁNH CỦA CHÍNH MÌNH

 Thế nào là trọng linh tánh của mình? Tâm hiện tiền của chúng ta cùng với đức Thích Ca Như Lai không hai không khác. Vậy mà tại sao Thế Tôn từ vô lượng kiếp đã sớm thành chánh giác, còn chúng ta thì vẫn còn là phàm phu hôn mê điên đảo. Lại nữa Đức Phật Thế Tôn thì có vô lượng thần thông, trí huệ, công đức trang nghiêm, còn chúng ta chỉ có vô biên nghiệp chướng phiền não, sinh tử buộc ràng. Tâm tánh là một mà vì mê ngộ nên cách xa một trời một vực. Lặng đi mà nghĩ mới thấy hổ thẹn. Ví như ngọc báu vô giá vùi xuống bùn dơ mà xem như ngói gạch, không chút thương tiếc quí trọng. Vì thế hãy dùng vô lượng thiện phápđối trị vô biên phiền não. Tu đức có công, thì tánh đức mới lộ. Bấy giờ thì như ngọc báu được rửa, treo trên phướn cao, ánh sáng rực rỡ, chói lấp tất cả. Thế mới gọi là không uổng công Đức Phật giáo hóa, không phụ tánh linh của mình. Đó là nhân duyên thứ bảy của sự phát Tâm Bồ đề.

8-SÁM HỐI NGHIỆP CHƯỚNG

 Thế nào là sám hối nghiệp chướng? Kinh dạy: "Phạm một tội kiết la cũng phải đọa địa ngục bằng năm trăm tuổi thọ của bốn Thiên vương. Kiết la là tội nhỏ mà còn bị quả báo đến thế, huống chi tội nặng, quả báo thật khó tả. Nay chúng ta, mỗi cử chỉ động tác hằng ngày, hằng trái với giới luật, lúc ăn lúc uống thường phạm vào thi la. Một ngày tội lỗi đã phạm, cũng đã vô lượng, huống chi trọn đời nhiều kiếp, tội lỗi đã phạm khó mà nói hết. Cứ lấy ngũ giới mà xét, thì mười người đã có đến chín người phạm, phát lộ thì ít mà che giấu lại nhiều. Ngũ giới là giới của Ưu bà tắc mà còn không giữ gìn đầy đủ, huống chi các giới Sa di, Tỳ kheo, Bồ tát, thì không cần nói đến vậy.

 Hỏi cái tên thì nói "Tôi là Tỳ kheo", hỏi cái thật thì hãy còn chưa đủ làm Ưu bà tắc, như thế mà không xấu hổ sao! Phải biết, giới luật của Phật không thọ thì thôi, thọ thì không được hủy phạm, vì không phạm thì thôi, phạm thì cuối cùng nhất định bị đọa lạc. Trừ phi cảm thương thân mình, thân người, lại xót xa cho mình và kẻ khác, thân và khẩu cùng tha thiết, lệ rơi theo tiếng, khắp cùng với chúng sanh khẩn cầu sám hối, nếu chẳng thế thì quả báo ác ngàn đời muôn kiếp cũng khó tránh khỏi. Đó là nhân duyên thứ tám của sự phát Tâm Bồ đề.

9- CẦU SANH TỊNH ĐỘ

Thế nào là cầu sinh Tịnh độ? Ở cõi này tu hành thì sự tiến đạo rất khó khăn, vãng sinh cõi kia thì sự thành Phật cũng rất dễ dàng. Dễ dàng nên một đời đã có thể đạt đến, khó nên nhiều kiếp vẫn chưa thành tựu. Do đó mà thánh ngày xưa, hiền ngày trước, người người xu hướng; kinh cả ngàn, luận cả vạn, chỗ chỗ chỉ qui. Sự tu hành trong thời kỳ mạt pháp này, không có pháp nào vượt qua pháp môn này. Nhưng kinh đã nói : " Căn lành nhỏ thì khó được vãng sanh, phước đức nhiều mới chắc chắn đến được". Nói phước đức nhiều thì không chi bằng sự chấp trì danh hiệu, nói căn lành lớn thì không chi bằng sự phát tâm quảng đại. Vì thế tạm trì danh hiệu Phật hơn cả trăm năm bố thí, một niệm phát tâm Bồ đề rộng lớn vượt hơn cả sự tu hành trong nhiều kiếp. Vì niệm Phật vốn mong thành Phật, vậy tâm lớn không phát thì niệm Phật để làm chi; còn phát tâm vốn để tu hành, vậy Tịnh độ không sanh thì có phát cũng dễ thối chuyển. Cho nên gieo hạt giống Bồ đề, cày bằng lưỡi cày niệm Phật, thì đạo quả tự nhiên lớn lên; ngồi chiếc thuyền đại nguyện, vào trong bể cả Tịnh độ, thì Tây phương Cực Lạc quyết định vãng sanh. Đó là nhân duyên thứ chín của sự phát Tâm Bồ đề.

10- LÀM CHO PHẬT PHÁP TỒN TẠI LÂU DÀI

 Thế nào là làm cho Phật pháp tồn tại lâu dài? Đức Thế Tôn của ta, từ vô lượng kiếp đến nay, vì chúng tatu đạo Bồ đề, Ngài đã làm việc khó làm, nhẫn sự khó nhẫn, nhân tròn, quả mãn, mới được thành Phật. Sau khi thành Phật, giáo hóa tròn đầy, nhập vào Niết bàn. Nay thì thời kỳ Chánh pháp tượng pháp đã diệt tận, chỉ còn tồn tại thời kỳ mạt pháp. Giáo pháp còn đó mà không người hành trì, tà chánh không phân, đúng sai lẫn lộn, tranh giành nhân ngã, mãi chạy theo danh lợi. Mở mắt ra là thấy đầy dẫy thiên hạ đều là như vậy. Chẳng ai biết Phật là bực nào, Pháp là nghĩa gì, Tăng là người chi. Suy tàn đến thế, bất nhẫn thốt ra lời. Mỗi khi nghĩ đến, bất giác rơi lệ. Ta là con Phật mà ta không thể báo đáp ân đức của ngài. Trong vô ích cho mình, ngoài vô ích cho người, sống vô ích đương thời, chết vô ích mai sau. Trời tuy cao cũng không che nổi ta, đất tuy dày cũng khó chở ta. Tội nhân cực trọng, không phải ta thì là ai?

 Vì thế mà đau lòng không thể nhẫn nổi, nhưng suy nghĩ thì lại không thấy có cách nào khác hơn, nên quên ngay tư cách quê mùa, liền phát tâm rộng lớn. Tuy không thể vãn hồi mạt vận ngay lúc này, nhưng quyết có thể hộ trì chánh pháp trong mai sau. Vì thế nên cùng với chư thiện hữu, cùng đến đạo tràng, soạn thuật sám pháp, lập pháp hội này, phát bốn mươi tám điều đại nguyện, nguyện nguyện hóa độ chúng sanh, mong thâm tâm suốt trăm ngàn đời kiếp, tâm tâm thành Phật, từ ngày hôm nay cho đến cùng tận đời vị lai, hết một đời này nguyện sanh Cực Lạc, lên chín phẩm xong thì trở lại Ta bà. Khiến cho mặt trời Phật pháp rạng soi, pháp môn rộng mở, để tăng giới được trong lặng ở cõi này, dân chúng được tiếp hóa ngay cõi phương Đông, vận Chánh pháp nhờ đó mà kéo dài thêm nữa, Phật pháp do đó được tồn tại lâu dài. Đây là tấm lòng khổ tâm chân thành, tha thiết nhỏ mọn của tôi. Đó là nhân duyên thứ mười của sự phát Tâm Bồ đề.”

 

Đoạn sau đây nói về thân thế và công hạnh tu hành chứng Đạo của Ngài Thật Hiền. Chính trường hợp tu hành tinh tấn dũng mãnh của Ngài là bài học, là tấm gương sáng để chúng ta noi theo. Do đó chúng tôi xin ghi lại đoạn sau để quí độc giả tham khảo.

“Thật Hiền Đại Sư tự là Tư Tề, hiệu Tĩnh Am, người Đời Thanh, con nhà họ Thời ở Thường Thục. Xuất gia từ thuở bé, sau khi xuất gia, nghiêm trì giới luật, giảng Kinh thuyết Pháp, nghiên cứu pháp môn tánh tướng. Bốn tháng tham cứu câu “NIỆM PHẬT LÀ AI”, hoát nhiên khai ngộ, và nói: “Tôi đã tĩnh giấc mơ!”. Từ đó cơ phong lanh lẹ sắc bén, biện tài tung hoành, ngày duyệt tam tạng Kinh, đêm chuyên trì Phật hiệu.

Ngài đốt ngón tay ở tháp A Dục Vương, rồi trước Phật phát 48 điều đại nguyện, lúc ấy cảm ứng xá lợi phóng hào quang rực rỡ. Ngài viết bài văn KHUYÊN PHÁT TÂM BỒ ĐỀ, khích lệ Tứ Chúng, nhiều người đọc bài văn nầy đều rơi lệ.

Ngày 14 tháng 4, niên hiệu Ung Chánh thứ mười hai, Đại  sư hướng về Tây ngồi viên tịch. Hàng Đạo tục các nơi nghe tin hội về đưa tiễn rất đông. Đại Sư bỗng mỏ mắt nói: “Tôi đi không bao lâu sẽ trở lại, sanh tử là việc lớn, mỗi ngày nên tự thanh tịnh tâm, niệm Phật thì có thể giải quyết việc sanh tử!”. 

Dặn dò xong, Ngài chấp tay niệm danh hiệu Phật rồi thị tịch”.

X-PHẦN KẾT LUẬN

Để kết luận cho bài nầy xin nêu ra ba điều tổng quát mà chúng tôi nghĩ rằng cần suy nghĩ kỷ trước khi khởi đầu một công việc gì dù là Phát Tâm tu hành hoặc bắt đầu một công trình lớn nhỏ nào đó.

MỘT LÀ:  Đặt ra mục tiêu.

Hai là: Dùng mọi phương tiệnthời gian thực hành để đạt mục tiêu ấy.

Ba là:  Dùng thành quả đã đạt được để thực hiện nguyện ước ban đầu.

Quan trọng nhất là ĐẶT RA MỤC TIÊU. Vì sau khi đặc ra mục tiêu và tiến hành, thực hiện, thì ta chỉ hướng đến kết quả mà thôi. Thời gian trôi qua rồi chúng ta không thể nào trở lại quá khứ để thiết lập lại MỤC TIÊU đó, vì có mục tiêu  thì  mới đạt được kết quả.  

Mục Tiêu thế nào, kết quả thế ấy, không thể thay đổi được; ngoại trừ xóa bỏ mục tiêu cũ để lập ra mục tiêu mới, như thế là mất thời gian, mất công sức và của cải vật chất v.v...

Như vậy nếu mục tiêu không hoàn chỉnh sẽ đưa đến kết quả xấu. Thay đổi mục tiêu là phải mất thời gian, tiêu hao sinh lực, vật chất lẫn tinh thần...

 Phát Bồ Đề Tâm cũng thế, mục tiêu đặc ra là thượng cầu Phật Đạo, tu thành Phật rồi, tức là ta đã đạt được mục tiêu, và hạ hóa chúng sanh đó là dùng thành quả đã đạt được để hoàn thành nguyện ước độ sanh tức mục tiêu ban đầu của chúng ta đã đặt ra.

 

T/S LÂM NHƯ-TẠNG

 

Kính chào tạm biệt quí vị thính giả xa, gần.

 

Trân trọng

 

LÂM NHƯ-TẠNG

Đây là bài nói chuyện trên mạng PALTALK tại Sydney ngày 19-1-2014.
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
(View: 219)
“Thừa Tự”, theo quan niệm phong kiến xưa, có nghĩa là thọ hưởng của “hương hỏa” với trách nhiệm nối dõi việc thờ cúng Tổ tiên.
(View: 205)
Nhà nghiên cứu phật học K.SCHMIDT1 đã có lần nêu lên những điểm tương đồng giữa tri thức luận của Kant và của Phật học,
(View: 256)
Theo đức Phật, vũ trụ không có khởi nguyên, không có tận cùng và khoảng không vũ trụ vốn vô tận, gồm vô số thế giới như cát sông Hằng (Gangânadivâlukopama).
(View: 247)
Phàm tất cả vạn pháp, vạn hữu trong vũ trụ được sanh ra và có mặt trên thế gian này đều có nguyên nhân, nguyên do đầu mối của nó.
(View: 395)
Chữ khám phá ở đây rất chính xác. Không có sự truyền giáo của đạo Phật đến người Tây phương. Và, tuy người Âu châu khám phá đạo Phật rất trễ, nhưng đó là sự khám phá vô cùng lý thú.
(View: 1640)
“Nói Thiền tông Việt Nam là nói Phật giáo Việt Nam. Và những bậc cao Tăng làm sáng cho Phật giáo, làm lợi ích cho dân tộc từ thế kỷ thứ 6 mãi đến nay đều là các Thiền sư.”
(View: 174)
“Nguyên nhân hình thành Phật giáo Đại Thừa” là một đề tài có phạm trù không rộng lắm, nên ít có người khảo sát và nguồn tư liệu về nó cũng rất hạn chế.
(View: 226)
Những gợi ý dưới đây có thể giúp chúng ta lĩnh hội được ý nghĩa thâm sâu, khó hiểu của kinh một cách hiệu quả, đồng thời giữ gìn sự trung thực với nội dung của ý kinh.
(View: 247)
Giải thoát nghĩa là cởi mở những dây ràng buộc mình vào một hoàn cảnh đau khổ nghịch ý.
(View: 325)
Trong hệ thống kinh tạng Đại thừa, Pháp Hoa là một trong những bộ kinh quan trọng và phổ biến nhất.
(View: 332)
Niết-bàn (Nirvana, Nibbana) là khái niệm của Phật giáo, một tôn giáo không công nhận và không thừa nhậnThượng Đế, có thần, có linh hồn trường cửu.
(View: 661)
Bài này sẽ khảo sát một số khái niệm về các hiện tướng của tâm, dựa theo lời dạy của Đức Phật và chư Tổ sư
(View: 381)
Tôi ngồi đây lắng nghe quý thầy cô tụng bài kinh Bát Nhã thật hay. Ví như ngài Huyền Trang ngày xưa tuyển dịch nhiều bài Tâm kinh như thế này để ...
(View: 273)
Như Lai ngài đã du hành Đạo lộ tối thắng vượt trên các ca tụng Nhưng với tâm tôn kínhhoan hỷ Tôi sẽ ca tụng Đấng vượt trên ca tụng.
(View: 367)
Quy nghĩa là “quay về, trở về” hay “hồi chuyển (tâm ý)”. Y là “nương tựa”. Quy Y cũng có nghĩa là “Kính vâng” hay “Phục tùng”. Tam là chỉ ba ngôi Phật, Pháp, Tăng.
(View: 225)
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni vốn là Thái tử “dưới một người, trên vạn người”, thế nhưng Ngài đã lìa xa tất cả
(View: 366)
Từ xưa đến nay, hàng xuất gia (Sa-môn, Bà-la-môn) tu hành không trực tiếp lao động sản xuất để tạo ra của cải vật chất nên đời sống phụ thuộc vào sự bố thí, cung cấp, cúng dường của hàng tín đồ tại gia.
(View: 411)
Sống chếtvấn đề lớn nhất của đời người. Trong đạo Phật, chữ sanh tử (sống chết) là một từ được nhắc đến thuộc loại nhiều nhất
(View: 587)
Kinh Kim Cang Bát Nhã được ngài Cưu Ma La Thập (344-413) dịch từ tiếng Phạn sang Hán văn, và được thái tử Chiêu Minh (499-529) chia bố cục ra 32 chương.
(View: 374)
Đức Phật xuất hiện trên thế gian như mặt trời phá tan màn đêm u tối. Giáo pháp của Ngài đã mang lại những giá trị phổ quát cho...
(View: 605)
Khái niệm Niết-Bàn không phải là sản phẩm bắt nguồn từ Phật Giáo, mà nó đã xuất hiện từ thời cổ đại Ấn Độ khoảng hơn 4,000 năm trước Tây Lịch.
(View: 607)
Quán Thế Âm tiếng Sanskrit là Avalokitésvara. Thuật ngữ Avalokitésvara vốn bắt nguồn từ hai chữ Avalokita và isvara
(View: 480)
Trong khi thế giới đang có nhiều biến động phức tạp, chiến tranh, khủng bố, thù hận diễn ra khắp nơi, mâu thuẩn chính trị, kinh tế, và văn hóa luôn là vấn đề nan giải.
(View: 557)
Trong cõi đời, chúng ta phải chịu đựng những sự đau đớn, khổ não nơi thân và tâm, nhưng tâm bệnh có thể được chữa khỏi bằng Phật pháp.
(View: 702)
Thiên Trúc (天竺) là tên mà người Trung Quốc thường gọi cho Ấn Độ cổ đại. Nó cũng được dịch “Trung tâm của cõi trời”, (nghĩa là trung tâm tinh thần);
(View: 703)
Thông thường hai chữ tu hành đi đôi với nhau; sử dụng quá quen nên hiểu một cách chung chung, đã giảm tầm mức quan trọng mà tự thân nó mang một ý nghĩa sâu sắc.
(View: 599)
Đã hơn 2500 năm kể từ khi Đức Phật Thích Ca đã nhập Niết Bàn. Hiện tại chúng ta sống trong thời đại gọi là “Mạt Pháp”, trong đó ta không thể nào thấy Đức Phật thực sự được nữa.
(View: 492)
Pháp thân của chư Phật, là muốn nhấn mạnh đến loại pháp thân không còn ẩn tàng trong thân ngũ uẩn như pháp thân của chúng sinh.
(View: 696)
Giáo lý Tam thân (trikāya), như đã được tất cả các tông phái Phật giáo Đại thừaTrung QuốcNhật Bản chấp nhận hiện nay
(View: 805)
Ngày xưa chúng đệ tử của Đức Phật có nhiều hạng người khác nhau. Tùy theo căn cơ của mỗi người, Đức Phật áp dụng phương pháp giáo hóa khác nhau.
(View: 846)
Ngày nay, chúng ta thấy hầu hết các ảnh, tượng của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đều được tạo hình có tóc, điều này khiến
(View: 865)
“Chiếc đồng hồ của tôi không đánh số 1 đến 12 mà chỉ có ‘now’, ‘now’, ‘now’ để nhắc nhở rằng ta đang sống”,
(View: 719)
Trong tác phẩm Jataka, truyện số 238 đã đề cập về chuyện một chữ (ekapadaṃ) nhưng có nhiều nghĩa (anekatthapadassitaṃ).
(View: 744)
Về tiểu sửcông nghiệp của Huyền Trang (602-664) chúng ta đã có phần viết riêng trong phần phụ lục của sách Kinh Phật
(View: 850)
Đã sanh làm kiếp con người, có ai mà không khổ? Cái khổ nó theo mình từ nhỏ đến khi khôn lớn, và sẽ khổ hoài cho tới...
(View: 1087)
Khi Bồ-tát Long Thọ nói “bất sanh bất diệt” thì hẳn nhiên trước đó phải có cái gì đó có sanh và diệt.
(View: 961)
Trong nghĩa đơn giản nhất, tu Hạnh Bồ Tát là những người ra sức hoằng pháp và không muốn Chánh pháp bị đoạn đứt, bất kể người này có thọ giới Bồ Tát hay không.
(View: 802)
Bài viết này sẽ khảo sát về Vô Tướng Tam Muội, một pháp môn ít được chú ý hiện nay.
(View: 1045)
Cứ mỗi lần chúng ta chứng kiến người thân qua đời là mỗi lần chúng ta đau xót, buồn rầu, vì từ nay chúng ta vĩnh viễn sẽ không bao giờ được nhìn thấy người thân yêu đó trên cõi đời này nữa.
(View: 860)
Như các phần trước đã nói, chân tâm không sinh diệt và vọng tâm sinh diệt luôn tồn tại nơi mỗi con người chúng ta.
(View: 809)
Thiền học là một môn học nhằm mục đích đào luyện trí tuệ để được giác ngộgiải thoát sanh tử mong đạt đến niết bàn tịch tịnh
(View: 815)
Khi đức Phật đản sinh, trên trời có chín rồng phun hai dòng nước ấm mát tắm rửa cho Ngài
(View: 846)
Mỗi độ tháng Tư về, trong tâm thức của những người con Phật đều hiển hiện hình ảnh huy hoàng Phật đản sinh bước đi trên bảy đóa sen
(View: 1120)
Phật giáo Đại thừa có cách nhìn nhận mới về đức Phật và lời dạy của ngài.
(View: 1024)
Đức Phật Thích Ca là một đức Phật lịch sử xuất hiện giữa thế gian để dẫn dắt chúng sinh thoát khỏi khổ đau, đạt đến an lạc giải thoát.
(View: 1205)
Con người được sanh ra từ đâu là một nghi vấn vô cùng nan giải cho tất cả mọi giới và mãi cho đến thế kỷ 21 này vấn đề con người vẫn còn phức tạp chưa được ai minh chứng cụ thể.
(View: 1011)
Kinh Pháp Cú dành riêng hẳn một phẩm gọi là “Phẩm Tỳ kheo” để đề cập tới các người xuất gia.
(View: 1854)
Cuộc sống biến đổi không ngừng, mỗi một thời gian, mỗi một thế hệ có cách sống và nghĩ suy ứng xử có khác nhau.
(View: 935)
Trước hết, thời gian vật lý là khách quan và tồn tại bên ngoài tâm trí con người và là một phần của thế giới tự nhiên, thứ hai, thời gian tâm lý chủ quan và có sự tồn tại phụ thuộc vào ý thức.
(View: 1350)
Hôm nay nhân ngày đầu năm, tôi có vài điều nhắc nhở tất cả Tăng Ni, Phật tử nghe hiểu ráng ứng dụng tu để xứng đáng với sở nguyện của mình.
(View: 1067)
Huyễn: Có nhiều nghĩa như tạm bợ, hư dối, phù du, huyễn hoặc, ảo ảnh, thay đổi luôn luôn, có đó rồi mất đó, biến dịch hoài trong từng sát-na.
(View: 1727)
Ngạ quỷ nghe kinh là một trong những đề tài khá quen thuộc trong kinh Phật. Người phàm thì không ai thấy loài ngạ quỷ, trừ một vài trường hợp đặc biệt.
(View: 1224)
Từ thế kỷ trước, người ta đã tìm được rải rác các thủ cảo (manuscripts) kinh Phật cổ xưa nhất viết bằng văn tự Kharosthi chôn ở các di tích Phật giáo ở Gandhāra, Bắc Afghanistan.
(View: 1372)
Thư Viện Quốc Hội Mỹ đã công bố một văn bản quí hiếm từ 2.000 năm trước của Phật Giáo và văn bản cổ này đã giúp cho chúng ta ...
(View: 1501)
Giới, Định và Tuệ là ba môn tu học quan trọng trong Phật giáo. Ta thường hay nói “Nhân Giới sanh Định, nhân Định phát Tuệ”.
(View: 1184)
Trước hết xin giới thiệu sơ lược những nét chính của hai bộ kinh Đại thừa lớn ở Ấn Độ mà chúng đã trở nên đặc biệt quan trọng trong Phật Giáo Đông Á.
(View: 1072)
Từ khi Đức Như Lai Thế Tôn thị hiện cho đến hiện tại là 2019, theo dòng thời gian tính đếm của thế nhân thì cũng đã gần 2600 năm.
(View: 1022)
Tôn giả Tịch Thiên (Shantideva) là con của vua Surastra, sinh vào khoảng thế kỷ thứ VII ở Sri Nagara thuộc miền Nam nước Ấn.
(View: 1131)
Theo nghĩa đen của khái niệm, độc nhất là chỉ có một, mang nghĩa duy nhất. Trong kinh tạng Nikāya, khái niệm con đường độc nhất (ekāyana magga) là
(View: 1268)
Này các Tỳ-kheo, ta cho phép học tập lời dạy của Đức Phật bằng tiếng địa phương của chính bản thân (sakāya niruttiyā)
Quảng Cáo Bảo Trợ