Logo HHAD 2018 250
Điền Email để nhận bài mới
View Counts
14,457,352
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

14 Thơ Thiền Sư Nhất Sơn Nhất Ninh Tụng Tranh Chăn Trâu

26 Tháng Tám 201000:00(Xem: 1775)
14 Thơ Thiền Sư Nhất Sơn Nhất Ninh Tụng Tranh Chăn Trâu

PHẬT DẠY LUYỆN TÂM
NHƯ CHĂN TRÂU

Soạn Giả: Tâm Minh Ngô Tằng Giao
DIỆU PHƯƠNG xuất bản 2010

- 14 -

 THƠ THIỀN SƯ

NHẤT SƠN NHẤT NINH

TỤNG TRANH CHĂN TRÂU

 

 Nhất Sơn Nhất Ninh (1247-1317) là một vị thiền sư Trung Quốc thuộc tông Lâm Tế. Sau khi nhà Tống bị Mông Cổ lật đổ, sư được Nguyên Thành Tông cử đến Nhật Bản để nối lại mối quan hệ - vốn bị gián đoạn từ khi Mông Cổ cố gắng xâm lấn nhiều lần. Sư vừa đặt chân lên đất Nhật (1299) liền bị nghi là gián điệp, bị bắt giam. Sau khi được tha, sư được cử trụ trì chùa Kiến Trường, rồi chùa Viên Giác. Năm 1312, Thiên hoàng Hậu Đề Hồ cử sư làm Phương trượng chùa Nam Thiền tại Kinh Đô. Sư truyền giao thiền pháp, môn đồ rất đông. Sư nổi danh không chỉ là một Thiền sư mà còn là một nghệ sĩ xuất trần, một hoạ sĩ tinh thông thư pháp.

 

 Đức Khổng Tử từng nói trong Luận Ngữ: “Tam thập nhi lập; Tứ thập nhi bất hoặc; Ngũ thập nhi tri thiên mệnh; Lục thập nhi nhĩ thuận; Thất thập nhi tòng tâm dục bất du củ.” (Hồi mười lăm tuổi ta để hết tâm trí vào việc học. Đến ba mươi tuổi, ta vững chí mà tiến lên đường đạo đức. Được bốn mươi tuổi tâm trí ta sáng suốt hiểu rõ việc phải trái, sự lý, chẳng còn nghi hoặc. Năm mươi tuổi ta biết mạng trời. Đến sáu mươi tuổi, bất cứ lời nói nào lọt vào tai thì ta hiểu ngay, chẳng cần phải suy nghĩ lâu dài. Được bảy mươi tuổi, trong tâm ta dù có muốn sự chi cũng chẳng hề trái phép.)

 

 Người đời sau cho rằng mười bài thơ tụng của thiền sư Nhất Sơn Nhất Ninh về bộ tranh “thập mục ngưu đồ” của thiền sư Phổ Minh là: “Lịch trình của mười giai đoạn từ phàm vào thánh, là cơ bản tinh thần của câu nói của đức Khổng Tử ngày xưa vì nếu so sánh ra thời đôi bên có sự phù hợp và bao trùm, chẳng qua một bên là thành Phật, một bên là thành thánh mà thôi”. 

 

 Soạn giả sau khi ghi bản dịch âm mười bài thơ này đã dịch thành mười bài thơ “lục bát”.

*

 

chantrau042

1. TẦM NGƯU

 

Bản vô hình tích khả cầu tầm

Vân thụ thương thương yên thảo thâm

Cước hạ tuy nhiên kỳ lộ biệt

Nham tiền khô mộc tự long ngâm.

 

1. TÌM TRÂU

 

Vốn không vết tích để tìm

Khói mây xanh biếc cỏ thêm xanh rờn

Dưới chân nẻo rẽ dọc ngang

Cây khô trước núi ngâm vang tiếng rồng.

 

chantrau044

 

2. KIẾN TÍCH

 

Thảo khòa lý tẩu lộ hà đa?

Chỉ thử đề sầm mạc thị ma?

Cước lực cùng biên trùng tiến bộ,

Ngang ngang đầu giác yếu phùng ngã.

 

2. THẤY DẤU

 

Cỏ sao nhiều lối xa gần?

Phải chăng đây chính dấu chân hiện tiền?

Đường cùng sức mỏi tiến thêm

Nghênh ngang sừng mũi lộ liền rõ ra.

 

 

 

 

 

 

3. KIẾN NGƯU

 

Phong noãn u cầm chi thượng thinh,

Vũ dư nguyên thảo sắc vưu thanh,

Giả hồi dĩ đổ cừ đầu giác

Đới thị hào đoan tả bất thành.

 

3. THẤY TRÂU

 

Trên cành gió ấm chim kêu

Thảo nguyên mưa mãi, cỏ nhiều, xanh tươi

Đầu sừng gặp nó đây rồi

Mảy lông, họ Đới vẽ thời khó sao.

 

 

4. ĐẮC NGƯU

 

Tỵ khổng liêu thiên duệ chuyển cừ

Tùng kim cuồng dật tính tu trừ.

Tuyết sơn hương thảo hòa yên tế,

Thả yếu khu lai hướng thử cư.

 

4. ĐƯỢC TRÂU

 

Mũi vươn trời, kéo được liền

Nay nên trừ hết tính điên thói cuồng

Cỏ thơm núi tuyết nhoà sương

Nhắm sao đuổi nó về nương chốn này.

 

 

 

5. MỤC NGƯU

 

Tùy thời thủy thảo hoạt cừ thân,

Thuần tịnh hà tằng nhiễm nhất trần.

Miêu giá tự nhiên hồn bất phạm,

Thu lai phóng khứ khước tự do.

 

5. CHĂN TRÂU

 

Tùy thời nước cỏ nuôi thân

Sạch trơn há nhiễm bụi trần chút nao

Phạm đâu lúa mạ hoa màu

Bắt về, thả lại trước sau thỏa lòng.

 

 

 

6. KỴ NGƯU HỒI GIA

 

Luy ngưu dĩ thuần khước hồi gia,

Thụ hạ sài môn khải mộ hà.

Phóng giáo câu câu lan lý ngọa,

Tĩnh khan tân nguyệt quải thiềm nha.

 

6. CƯỠI TRÂU VỀ NHÀ

 

Trâu gày thuần bước về nhà

Dưới cây cửa mở chiều pha ráng trời

Trong chuồng nằm thở nghỉ ngơi

Lặng nhìn trăng mới treo nơi hiên ngoài.

 

 

 

7. VONG NGƯU TỒN NHÂN

 

Thoa lạp tùng thử bất nhập sơn,

Tiên thằng phao khước nhất thân nhàn.

Cánh vô hộc tốc lao khiên duệ,

Doanh đắc âu ca thúy ái gian.

 

7. QUÊN TRÂU CÒN NGƯỜI

 

Gom áo nón, không vào non

Roi dây vứt bỏ nhàn luôn thân rồi

Há đâu lo sợ kéo lôi

Ngợi ca thoả chí khoảng trời biếc xanh.

 

 

 

 

 

8. NHÂN NGƯU CỘNG VONG

 

Nhất niệm không thời vạn cảnh không,

Trùng trùng quan cách khoát nhiên thông.

Đông Tây Nam Bắc liễu vô tích,

Chỉ thử hư huyền hợp chính tông.

 

8. NGƯỜI TRÂU ĐỀU QUÊN

 

Một niệm không, vạn cảnh không

Ải quan muôn lớp tự thông mọi đường

Không còn vết tích bốn phương

Chỉ huyền hoặc đó hợp cùng chính tông.

 

 

 

9. PHẢN BẢN HOÀN NGUYÊN

 

Ký nhiên vô tác hữu hà công?

Nhãn kiến như manh thính tợ lung.

Giản thủy trạm như lam sắc bích,

Sơn hoa khai tợ cẩm cơ hồng.

 

9. TRỞ VỀ CỘI NGUỒN

 

Chẳng làm nên, có công chi?

Thấy nghe như thể khác gì điếc đui

Trong veo nước suối xanh tươi

Nở bừng hoa núi tựa nơi gấm hồng.

 

 

 

 

 

10. NHẬP TRIỀN THÙY THỦ

 

Hoán khước bì mao chuyển bộ lai,

Y hy điểu chủy dữ ngư tai.

Thông thân cố thị hồn nê thủy,

Ngã thử tông môn yếu đại khai.

 

10. THÕNG TAY VÀO CHỢ

 

Đổi thay da thịt vào đời

Mỏ chim mang cá đôi nơi mịt mùng

Khắp thân vốn đẫm nước bùn

Cho gia tộc mở rộng luôn cửa Thiền.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
Quảng Cáo Bảo Trợ