Logo HHAD 2018 250
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
14,841,789
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Giới Thiệu Tâm Giác Ngộ

14 Tháng Bảy 201518:07(Xem: 5018)
Giới Thiệu Tâm Giác Ngộ

GIỚI THIỆU TÂM GIÁC NGỘ

 

Tam Giac NgoNguyên tác: Introduction to Bodhicitta

Tác giả: Alexander Berzin/ Riga, Latvia, June 2003

Chuyển ngữ: Tuệ Uyển

 

 

1- Động Cơ Chân Thành Của Chúng Ta Là Gì?

 

Khi chúng ta đi trên con đường Phật Giáo, chúng ta cần đặt một sự nhấn mạnh lớn vào động cơ của chúng ta: tại sao chúng ta thực hành Phật Giáo, tại sao chúng ta đi theo con đường tâm linh; và chúng ta muốn gì từ việc này, chúng cố gắng để đạt được điều gì từ việc này. Điều này cũng đúng thật đối với bất cứ việc gì trong đời sống - chúng ta cần loại mục tiêu nào đấy, một loại ý nghĩa nào đấy trong việc làm việc gì đấy; bằng khác đi thì sẽ trở thành vô nghĩa.

 

Khi chúng ta trưởng dưỡng tâm linh, mục tiêu của chúng ta sẽ lớn mạnh, sẽ thay đổi. Qua điều này tôi muốn nói rằng mục tiêu của chúng ta sẽ không thay đổi chỉ ở tri thức, mà điều thật sự quan trọng nhất là những gì chúng ta thật cảm nhận chân thật trong trái tim của chúng ta. Bởi vì thật rất dễ dàng để lập lại những ngôn ngữ trong một nghi thức "Tôi muốn đạt đến Giác Ngộ, để trở thành một Đức Phật để làm lợi ích cho chúng sanh," nhưng thường thì điều ấy không thật sự có ý nghĩa gì nhiều đối với chúng ta. Nó chỉ là ngôn ngữ. Trên hết cả, chúng ta thật sự không có một ý tưởng rõ ràng về vấn đề Giác Ngộý nghĩa là gì hay ý nghĩa của việc thành tựu việc này là gì; và làm lợi ích cho tất cả chúng sanh là gì, điều ấy có nghĩa là nhiều chúng sanh kinh khủng xuyên qua vũ trụ, và có phải chúng ta đang chân thành hành động để làm lợi ích cho mỗi tạo vật trong vũ trụ không? Như vậy thật sự khó để mà cảm nhận một cách chân thành, có phải không? Thật khó để thật sự cảm nhận điều ấy một cách sâu sắc và chân thành. Và giả sử rằng điều đó thật sự là động cơ của chúng ta khi nó không làm toàn bộ sự thực hành Phật Giáo hơi chút nào là một trò đùa (game).

 

Mặc dù thật rất quan trọng để có một ý tưởng nào đó về động cơ và mục tiêu này như điều gì đó cuối cùng chúng ta muốn để hành động đến cảm giác thật sự, thật sự chân thành trong trái tim chúng ta, thì chúng ta cần rất trung thực trong dạng thức của vấn đề chúng ta đang ở đâu ngay bây giờ và chúng ta thật sự cảm nhận gì ngay bây giờ. Nếu chúng ta thẩm tra chính chúng ta một cách trung thực - không giả vờ là một hành giả tâm linh lớn khi chúng ta không phải - nếu chúng ta nhìn vào chính chúng ta một cách chân thật, thì chúng ta thấy rằng hầu hết chúng ta đang theo một sự thực hành tâm linh, một sự thực hành Phật Giáo, một cách chính yếu cố gắng để cải thiện phẩm chất trong đời sống của chúng ta bây giờ. Nói cách khác, chúng ta có những khó khăn trong đời sống: chúng ta đối diện với những hoàn cảnh khó khăn; chúng ta có thể có những khó khăn trong những mối quan hệ gần gũi với người khác; các cảm xúc của chúng ta, chúng ta có thể có một số rắc rối với điều ấy; và v.v…, và vì thế chúng ta muốn cải thiện điều ấy. Và chúng ta đang nhìn vào giáo huấn nhà Phật, những phương pháp của Phật Giáo như một cách để hổ trợ chúng ta trong hoàn cảnh này.

 

Phật Giáo chắc chắn có một sự cống hiến lớn cho chúng ta, có thể giúp chúng ta trong việc cải thiện phẩm chất của đời sống chúng ta - điều ấy là chắc thật. Nhưng nếu chúng ta nhìn vào giáo huấn Phật Giáo thật sự, nó nói rằng loại động cơ này để cải thiện mọi việc trong kiếp sống này không thật sự là động cơ Phật Giáo, không thật sự là Phật Pháp. Nếu chúng ta nhìn vào giáo huấn nhà Phật, nó nói rằng ranh giới giữa những gì là Phật Pháp và không Phật Pháp là trong mô thức của vấn đề chúng ta có đang hành động để cải thiện hay không cải thiện những kiếp sống tương lai.

 

Đối với hầu hết chúng ta có một thấu hiểu rõ ràng về giáo huấn nhà Phật về vấn đề tái sanh, và tin chắc điều ấy là chân thật - nó là điều gì đấy hơi vượt khỏi chúng ta, đó không thật sự là một bộ phận trong nền tảng văn hóa của chúng ta (những người phương Tây). Và vì thế nếu chúng ta thậm chí không tin tưởng vào những kiếp sống tương lai, thì sẽ rất khó để chúng ta thật sự chân thành muốn cải thiện chúng. Nhưng nếu chúng ta nhìn hơi xa hơn, những gì chúng ta thấy là loại mục tiêu hay động cơ này để có một sự tái sanh tương lai tốt hơn thì không phải là điều gì đó đặc thù Phật Giáo; điều này thông thường có trong nhiều tôn giáo.

 

Ki Tô Giáo cũng nói về việc sẽ việc sẽ đến thiên đàng sau khi chết, vậy điều đó là gì? Đó là một sự tái sanh tốt đẹp hơn, có phải không? Thế nên điều đó không thật sự hoàn toànmục tiêu tối hậu trong Phật Giáo. Nhưng đúng hơn chúng ta đang hướng cho điều gì đó hơn thế ấy. Nhưng có một sự tái sanh thì nó đầy ấp những cơ hội tiếp tục cho việc lớn mạnh tiếp tụccần thiết cho việc đạt đến những mục tiêu sâu xa  hơn, bởi vì các mục tiêu thật sự của Phật Giáo là rất khó để đạt đến và nó có thể cần đến một thời gian dài, chắc chắn hơn một kiếp sống.

 

Những gì chúng ta đang hướng đến là hoàn toàn giải thoát thật sự khỏi tái sanh. Khi chúng ta nói về quy y trong Phật Giáo, thì chúng ta không nói về một quyền năng cao siêu nào đó cứu độ chúng ta, là thứ có lẽ từ ngữ "quy y" có thể hàm ý. Nhưng đúng hơn, những gì chữ "quy y" hàm ý, nghĩa lý của nó, là thiết lập một phương hướng an toàn trong đời sống chúng ta. Phương hướng ấy, điều gì đó năng độngchúng ta đang làm, chúng ta đang đi trong một phương hướng trong đời sống chúng ta, và phương hướng ấy là an toàn. Nói cách khác, càng đi trong phương hướng ấy, thì chúng ta càng tự bảo vệ chính chúng ta, chúng ta càng tránh khỏi khổ đau cho chính chúng ta.

 

2- Bốn Chân Lý Cao Quý

 

Đức Phật dạy những gì gọi là Bốn Chân Lý Cao Quý, là bốn sự kiện của đời sống mà bất cứ chúng sanh thực chứng cao độ đều thấy là đúng. Thứ nhất, tất cả chúng ta đối diện với nhiều rắc rối trong đời sống của chúng ta. Chúng ta đối diện nhiều khổ đau và bất hạnh, và ngay cả hạnh phúcchúng ta trải nghiệm cũng không bền lâu - nó không giải quyết tất cả những vấn nạn của chúng ta của việc có một bửa ăn ngon miệng. Và chúng ta không bao giờ biết những gì chúng ta sắp trải nghiệm tiếp theo. Cho nên nếu chúng ta hạnh phúc, thì chúng ta không hề biết vấn đề chúng ta sẽ cảm nhận thế nào trong phút kế tiếp. Vì thế, thật rất bất ổn, rất bất an, chúng ta không biết những gì đang xảy tới. Nó đi lênđi xuống mọi lúc.

 

Nhưng vấn nạn lớn nhất là một cách căn bản toàn bộ trải nghiệm của chúng ta đầy ấp với thứ này. Thân thể chúng ta sẽ đi lênđi xuống, đôi khi chúng ta cảm thấy khỏe mạnh, đối khi chúng ta không cảm thấy như thế; tâm thức chúng ta đi lênđi xuống; cảm xúc của chúng ta thăng trầm. Và nó tiếp tục không chỉ qua kiếp sống này, mà theo nhận thức của Phật Giáo thì nó sẽ tiếp tục mãi mãi - không có bắt đầu - và điều này cũng sẽ tiếp diễntiếp diễn trong những kiếp sống tương lai.

 

Những vấn nạn thật sự này có một nguyên nhân thật sự - đó là sự kiện thứ hai - và một cách căn bản đó là sự mê mờ của chúng ta về thực tại: về vấn đề chúng ta tồn tại như thế nào, người khác tồn tại như thế nào, mọi thứ tồn tại như thế nào. Nó giống như, thí dụ, có một giọng nói nho nhỏ nào đó trong đầu chúng ta, là thứ đang nói trong mọi lúc và lo lắng về những gì chúng ta nên làm bây giờ, những gì người khác thật sự nghĩ về tôi, phàn nàn - tất cả những thứ này. Và dường như rằng có thể có người nào bên trong đang nói năng, tôi muốn nói, ai là tác giả của giọng nói này? Và vì thế chúng ta nghĩ, "À đó là tôi!" Và cái "tôi" ấy là điều gì đó dường như hoàn toàn tách biệt khỏi thân thể chúng ta, và khỏi tâm thức chúng ta, và ngoài các cảm xúc của chúng ta, và là thứ đang bình luận và đang phàn nàn về nó giống như là nó đang kiểm soát nó.

 

chúng ta nghĩ rằng điều này là thật sự, là vấn đề chúng ta tồn tại như thế nào, và không phải là chúng ta ngu dại, chỉ là nó cảm nhận như vậy, do bởi giọng nói này, một cách chính yếu. Do  bởi sự tin tưởng si mê rằng chúng ta tồn tại trong cách ấy, rồi thì dĩ nhiên chúng ta cảm thấy bất an về cái "tôi" này và chúng ta cảm thấy rằng chúng ta phải bảo vệ nó; chúng ta bị hoang tưởng; chúng ta có tất cả những loại tham dục; chúng ta cố gắng để có những thứ làm chúng ta an ninh, loại bỏ những thứ mà chúng ta cảm thấy đe dọa chúng ta. Mỗi thời khắc của kinh nghiệm chúng ta được hình thành bằng loại si mê này; và bị trộn lẫn với sự si mê này, nó là một phận của sự si mê, của tâm thức; và nó sản sinh thêm những kinh nghiệm giống như vậy, nó làm toàn bộ hoàn cảnh si mê này tồn tại mãi mãi.

 

Sự si mê ấy là nguyên nhân thật sự của kinh nghiệm chúng ta suốt đời sống của chúng ta, suốt cả những kiếp sống tương lai, của mọi thứ thăng trầm. Chúng ta cảm thấy hạnh phúc khi chúng ta có những gì chúng ta muốn, chúng ta cảm thấy bất hạnh khi chúng ta không được những gì chúng ta muốn, và chúng ta đi vào mọi loại vấn nạn và khó khăn với người khác, việc cố gắng làm hài lòng điều  này dường như hoàn toàn tách biệt khỏi cái "tôi".

 

Vì thế, sự kiện thứ ba là việc có thể thành tựu một sự chấm dứt (diệt độ) điều ấy và có một thể trạng mà trong ấy tất cả mọi khổ đau này và tất cả những nguyên hoàn toàn dừng lại - đó là một sự chấm dứt chân thật, một sự ngừng dứt thật sự như đôi khi được gọi.

 

Sự kiện thứ tư là nhằm để đạt đến sự chấm dứt thật sự này của si mê và các vấn nạn đến từ nó thì chúng ta cần phát sinh một sự thấu hiểu đúng đắn về thực tại, nói cách khác những gì đối lập thật sự với si mê? Nếu chúng ta có thể phát sinh điều ấy và có nó trong mọi lúc, thế thì chúng ta sẽ không có si mê, và nếu chúng ta không có si mê về thực tại, thì chúng ta sẽ không có bất cứ vấn nạn nào cả.

 

Bây giờ, chúng ta phải thật cẩn thận ở đây. Chúng ta không đang nói rằng tôi không tồn tại. Dĩ nhiên chúng ta thật sự tồn tại - Tôi đang nói, tôi đang nghe, tôi đang ngồi đây. Nhưng đây là tôi, đây là tôi, không tồn tại trong cung cách không thể này như một thực thể riêng biệt nào đó có thể tìm thấy được nơi nào đó bên trong chúng ta, tách biệt khỏi thân thểtâm thức, một loại tiếp nhận tin tức từ một màn ảnh và ống nghe và rồi thì ấn nút để làm cho thân thể chuyển động và làm mọi thứ. Không ai tồn tại trong cách ấy.

 

3- Phương Hướng An Toàn (quy y)

 

Cho nên, khi chúng ta nói về phương hướng an toàn hay quy y, phương hướng chúng ta đang đi vào để đạt đến một sự chấm dứt thật sự mọi vấn nạnnguyên nhân của chúng, một con đường chân thật, tuệ giác, sự thông hiểu sẽ đưa đến chỗ ấy. Đó là những gì chúng ta đang hướng đến, đó là phương hướng. Nói cách khác, phương hướng an toàn của chân lý thứ ba và thứ tư. Đó gọi là Phật Pháp.  Sự quy y Pháp, Pháp bảo. Và rồi thì dĩ nhiêngiáo huấnkinh luận dạy chúng ta vấn đề đạt đến điều ấy như thế nào, điều trình bày giáo Pháp. Và càng đi trên phương hướng ấy, chúng ta càng có thể loại bỏ các vấn nạnnguyên nhân của chúng và phát triển tuệ giác, và một cách tự nhiên chúng ta được bảo vệ khỏi khổ đau.

 

Bây giờ, sự chấm dứt thật sự và con đường chân thật đúng là không tồn tại nơi nào đó trên bầu trời, chúng phải tồn tại trong sự tương tục tinh thần hay tâm thức của người nào đó. "Sự tương tục tinh thần" có nghĩa là sự tiếp diễn tâm thức của người nào đó, hành vi tinh thần, từ thời khắc này đến thời khắc khác. Ở đấy là nơi mà Đức Phật hình thành. Chư Phật là những kẻ đã đạt đến sự chấm dứt hoàn toàn, hoàn toàn ngừng dứt tất cả mọi vấn nạnnguyên nhân của chúng và tuệ giác tròn vẹn hoàn toàn hay con đường từ bỏ điều ấy. Chư Phật đã đạt được điều ấy tròn vẹn.

 

Rồi thì chúng taTăng già, Tăng già liên hệ đến Tăng già tôn quý. Nói cách khác, đây là một tập thể những người đã đạt đến nhận thức trực tiếp vô niệm về thực tại. Họ đã đạt đến một sự chấm dứt nào đó, một bộ phận nào đó của con đường tu tập, nhưng không phải hoàn toàn trong mọi lúc. Cho nên chư Phật được trình bày như những bức tượng hay tranh ảnh, nhưng đó không thật sự biểu hiện phương hướng, nó chỉ đại diện cho điều ấy. Và chư tăng và ni đại diện cho Tăng già, nhưng các vị ấy không thật sự là Tăng bảo quy y, các ngài chỉ đại diện cho Tăng bảo, bởi vì có nhiều vị tăng và ni vẫn còn nhiều si mê, nhiều vấn nạn.

 

Ở phương Tây, người ta đã bắt đầu sử dụng Tăng già chỉ để liên hệ đến những thành viên của một trung tâm Phật Pháp, và như vậy hoàn toàn không phải là sự sử dụng như truyền thống của nó, nó không bao giờ được sử dụng như ý nghĩa ở những xã hội Á châu. Và mặc dù nhiều thành viên của một trung tâm Phật Pháp có thể hổ trợ lẫn nhau - một cách tốt nhất - họ chắc chắn không là một nơi nương tựa, họ không là một nguồn gốc của phương hướng an toàn. Có thể có nhiều người rất phiền não trong các trung tâm Phật Pháp của chúng ta. Cho nên thật rất quan trọng để  hoàn toàn rõ ràng những gì là quy y, những gì là phương hướng an toànchúng ta đang hướng đến cho sự thực hành Phật Giáo của chúng ta.

 

Do thế, khi chúng ta nói về mục tiêu của chúng ta, ý định của chúng ta trong sự thực hành Phật Giáo, mục tiêu thật sự của chúng ta là để đạt đến một sự chấm dứt thật sự và những con đường thật sự của tâm thức sẽ đưa đến những sự chấm dứt đó để loại bỏ khổ đau thật sự và nguyên nhân thật sự của nó. Đó là mục tiêu thật sự trong sự thực  hành Phật Giáo, và mục tiêu để có một sự tái sanh và những điều kiện tốt đẹp hơn và v.v…- đó không là mục tiêu tối hậu, nhưng là một bước đệm và là một bước đệm cần thiết bởi vì không có gì chắc lắm là chúng ta sẽ đạt đến mục tiêu ấy trong kiếp sống này. Có nhiều việc tu tập hay hành động khó khăn lắm, không phải quá dễ dàng và vì thế chúng ta sẽ tiếp tục cần những kiếp sống con người quý giá với tất cả những cơ hội và năng lực để tiếp tục sự thực tập của chúng ta. Cho nên đó là mục tiêu tạm thời, để tiếp tục có những sự tái sanh tốt đẹp hơn, nhưng như là một phương tiện cho việc đạt đến mục tiêu thật sự, đây là sự chấm dứt thật sự và con đường thật sự - cách mà chư Phật đã hoàn tất tròn vẹn, cách mà chư vị Tăng già thực chứng cao độ đã hoàn tất phần nào đó.

 

Cho nên, giống như thế, chúng ta có thể nhìn vào điều gì thật sự là động cơ của chúng ta bây giờ, điều gì chúng ta thật sự cảm nhận một cách chân thành, là thứ để cố gắng để cải thiện kiếp sống này. Đây cũng không là mục tiêu tối hậu của chúng ta, giống như đạt đến một sự tái sanh tốt đẹp hơn không là mục tiêu cứu kính của chúng ta. Nhưng có những thứ tốt đẹp hơn trong kiếp sống này là một bước đệm rất quan trọng và cần thiết. Đó là bởi vì nếu chúng ta có những vấn nạn cảm xúc sâu xa và những thứ này, thật rất khó khăn cho chúng ta thật sự hành động để cải thiện chính chúng ta, và cho nên một cách tự nhiên chúng ta phải chăm sóc những thứ này trong kiếp sống này. Như vậy là tốt.

 

Nhưng thật rất quan trọng để thấy điều này như một bước quá độ trên con đường hành động vì giải thoát - sự chấm dứt thật sự và con đường thật sự. Bởi vì không có nó, thế thì sự thực hành Phật Giáo thật sự chỉ thoái hóa như một hình thức khác của tâm lý trị liệu, không có gì hơn thế. Giống như nếu chỉ hành động để cải thiện những kiếp sống tương lai, thế thì Phật Giáo trở thành một hình thức khác của Ki Tô Giáo hành động để lên thiên đàng. Đến một cõi tịnh độ, một Phật quốc, và rồi thì cõi thiên đường của nó và mọi thứ sẽ là diệu kỳ - à như vậy không khác vì một người Ki Tô Giáo cầu nguyện để lên thiên đường. Đó không phải là Phật Giáo.

 

Dĩ nhiên, chúng ta có những sự thực hành Phật Giáo - powa [chuyển hóa thần thức] và những loại này - để đến một cõi tịnh độ, nhưng chúng ta phải thấu hiểu điều ấy có ý nghĩa thật sự là gì. Đến một cõi tịnh độ không có nghĩa là chúng ta ngồi quanh một hồ bơi và đánh bài và vui đùa với những  người bạn của chúng ta. Toàn bộ vấn đề của một cõi tịnh độ là đây là một hoàn cảnh mà trong ấy chúng ta hành động cần mẫn không thể tưởng tượng trong mọi thời về thiền tậpthực hành. Đó là những gì quý vị phải làm trong một cõi tịnh độ, quý vị không chỉ ngồi quanh và vui đùa với nhau. Bởi vì mọi thứ là có lợi: quý vị không có loại thân thể này vì thế chúng ta không phải lo lắng về hoạt động, việc kiếm việc làm, nuôi ăn chính chúng ta, trả tiền nhà, trả tiền thuế, bệnh tật - quý vị không phải lo lắng về tất cả những thứ ấy, vì thế quý vị có thể có thể dành mọi thời gian để thực hành một cách mãnh liệt. Đó là những gì về một cõi tịnh độ. Cho nên tịnh độ là một bước quá độ, noi mà mọi thứ là thuận lợi cho việc đặt mọi nổ lực vào việc hành động để đạt đến những sự chấm dứtcon đường tu tập thật sự[1].

 

4-  "Quyền Pháp" và "Thật Pháp"

 

Quyền Pháp: Pháp Nhẹ Nhàng - pepsi light, Thật Pháp: Pháp Thực Thụ - pepsi [xem bài " Pháp Nhẹ Nhàng” so với “Pháp Thực Thụ"]

 

Thế nên chúng ta phải cố gắng để thấu hiểu, có một sự khác biệt giữa những gì tôi gọi là "Quyền Pháp" và "Thật Pháp". Quyền Pháp là căn bản thực tập Pháp và Phật Giáo chỉ để làm mọi thứ tốt đẹp trong kiếp sống này - là một người dễ thương và tất cả những thứ như vậy. Trái lại, Thật Pháp là hành động để vượt thắng tái sanhđạt được giải thoát cùng Giác Ngộ. Bây giờ, Quyền Pháp chỉ thật sự là một rắc rối nếu chúng ta thấy rằng tất cả giáo Pháp chỉ là như thế, tất cả Phật Giáo là như thế, đó là mục tiêu cứu kính của chúng ta - thế thì đó là vấn nạn. Nhưng nếu chúng ta hành động để cải thiện mọi thứ trong kiếp sống này như một bước quá độ  cho việc cải thiện những kiếp sống tương lai, đạt đến giải thoát, Giác Ngộ, những sự chấm dứt (diệt độ) và các con đường chân thật (tâm đạo) này, như vậy thế thì tuyệt diệu, quá tốt, bởi vì chúng ta không đang làm nó thành một thứ gì đó hơn nó là.

 

Khi chúng ta nhìn vào chính chúng ta bây giờ, như tôi nói, rất quan trọng để thật sự trung thực. Mục tiêu của chúng ta là gì? Động cơ của chúng ta là gì? Và đặt nó trong nhận thức thích đáng của nó - không chỉ làm nó "đó là nó" cho những gì Phật Giáo là - rồi thì chúng ta mới có thể thật sự đặt trái tim của chúng ta vào trong sự thực tập. Chúng ta công nhận rằng "À, tôi không thật sự thấu hiểu toàn bộ Phật Giáo có nghĩa là gì qua sự tái sanh, tôi không thật sự thấu hiểu toàn bộ sự giải thoátý nghĩa là gì hay Giác Ngộý nghĩa là gì, nhưng tôi thừa nhận rằng đây là những thứ rất quan trọng và đây là điều gì đó mà tôi muốn thấu hiểu tốt hơn. Cho nên như sự học hỏikinh nghiệm và sự hành thiền của tôi cải thiện, dần dần tôi hy vọng thấu hiểu, và rồi thì chân thành cảm nhận trong tim tôi rằng tôi muốn hành động vì những thứ này."

 

Chúng ta đã nói về viễn ly buổi sáng này, đó có nghĩa là một sự quyết định để thoát khỏi những vấn nạn của chúng ta và những nguyên nhân của nó và sự tự nguyện để từ bỏ chúng, và chúng ta đã thấy rằng điều này đòi hỏi phải có sự tự tin vững chắc để có thể thật sự loại bỏ chúng. Nếu chúng ta không tin chắc rằng chúng ta có thể loại bỏ khổ đau và các nguyên nhân của chúng, thế thì nguyện ước để thoát khỏi chúng chỉ là một mong ước đáng thương; sẽ không đi đến đâu.

 

5- Viễn Ly: xa rời, từ bỏ

 

Chúng ta có thể thấy rằng có nhiều trình độ của viễn ly. Thứ nhất chúng ta nhìn vào những vấn nạn khác nhau mà chúng ta trải nghiệm trong đời sống hàng này - những khó khăn với những con ngườichúng ta sống với, những người mà chúng ta làm việc với nhau và v.v…, và chúng ta sẽ quyết định "Tôi thật sự muốn thoát khỏi những điều ấy, tôi đã có đủ những thứ ấy, đã quá đủ rồi." Và vì thế chúng ta làm việc để cải thiện mọi thứ trong kiếp sống này. Rồi thì chúng ta sẽ nghĩ về tất cả những hoàn cảnh khủng khiếp của tái sanhchúng ta như ở trong một trại tập trung, hay đói khát đến chết, hay thật sự bị ngược đãi, và "tôi thật sự không muốn trải nghiệm những thứ ấy." Và vì thế chúng taquyết tâm để thoát khỏi những thứ ấy trong các kiếp sống tương lai. Cho nên chúng ta sẽ sốt sắng để từ bỏ những nguyên nhân ấy, là thứ căn bản hành động một cách tàn phá, làm tổn hại người khác. Chúng ta tạo khổ đau cho người khác, chúng ta trải nghiệm đau đớn với chính chúng ta.

 

Rồi thì chúng ta đi xa hơnchúng ta nghĩ về toàn bộ hoàn cảnh luân hồi này - tất cả những trải nghiệm thăng trầm xuống lên này, hết kiếp này đến kiếp khác, rắc rối vấn nạn ngày càng thêm, và chúng ta hoàn toàn chán nản và ghê sợ điều ấy và nói, "Đủ rồi." Do thế, chúng ta từ bỏ điều ấy - sự quyết tâm giải thoát. Chúng ta thấy rằng nguyên nhân thật sự cho điều ấy là sự si mê của chúng ta về vấn đề chúng ta tồn tại như thế  nào, người khác tồn tại như thế nào. Cho nên chúng ta quyết tâm giải thoát khỏi thứ ấy và chúng ta tự nguyện từ bỏ loại bỏ nó. Do vậy chúng ta quyết định đạt đến sự chấm dứt thật sự điều si mê ấy bằng việc phát triển một con đường chân thật, một sự thấu hiểu lẽ thật về thực tại. Đây là điều được gọi là mục tiêu cho sự giải thoát, niết bàn. Như chúng ta đã thảo luận sáng nay, thật quan trọng để nhận ra và để thấu hiểu và để có niềm tin vững chắc rằng thật có thể đạt đến điều này, và có niềm tin chắc rằng tôi có thể đạt đến điều này, không chỉ chư Phật, hay các lạt ma ở Á châu.

 

chúng ta thấy rằng sự mê mờ si ám này không là một bộ phận tự nhiên của tâm thức không là bộ phận của sự trải nghiệm của chúng ta về mọi thứ; nó không có ở đấy (chúng là khách trần phiền não). Nếu chúng ta có thể có sự thấu hiểu đúng đắn ấy trong mọi thời, thế thì sự si mê của không sinh khởi nữa - một sự chấm dứt chân thật về nó (diệt độ).

 

6- Mục Tiêu Cho Việc Giác Ngộ

 

Bây giờ, đây là việc nói về sự giải thoát của chính chúng ta, nhưng không phải chỉ có riêng chúng ta mà thôi trong vũ trụ này - có mọi chúng sanh khác, và mọi chúng sanh khác có cùng hoàn cảnh. Tất cả chúng ta bình đẳng, mọi người muốn hạnh phúc và không ai muốn khổ đau. Chúng ta không tồn tại như một thực thể nho nhỏ nào đó trong đầu chúng ta, hoàn toàn tách rời với thân thểtâm thức chúng ta, và tương tự thế, chúng ta không tồn tại như một thực thể riêng rẻ nào đấy hoàn toàn tách biệt và độc lập với mọi người khác; tất cả chúng ta quan hệ và liên kết hổ tương với nhau. Thế nên thật diệu kỳ nếu mọi người có thể vượt thắng mọi khổ đau và giới hạn của họ, nếu mọi ngườithể đạt đến sự chấm dứt chân thật và những con đường chân thật. Và thật tuyệt vời thế nào để có thể hổ trợ mọi người làm điều này.

 

Nhưng nếu chúng ta tự thẩm tra chính mình và chúng ta rất giới hạn trong năng lực của chúng ta để hổ trợ người khác, cho nên điều này là những gì chúng ta quyết định để thoát khỏi, đây là điều chúng ta muốn từ bỏ. Chúng ta muốn loại bỏ sự bất lực này để có thể giúp đở mọi người tối đa như có thể, và chúng ta muốn từ bỏ nguyên nhân của sự bất lực. Nguyên nhân đó căn bảnthân thể giới hạn của chúng ta, tâm thức giới hạn của chúng ta, nhận thức giới hạn của chúng ta. Bởi vì như nó bây giờ, chúng ta không thật sự biết tất cả những nguyên nhân tận từ thời vô thỉ cho vấn đề tại sao mọi người đang hành động như cách mà họ có, tại sao họ có những rắc rối mà họ có, tất cả những sự tác độngnguyên nhân là gì.

 

Nếu chúng ta hổ trợ họ trong một cách nào đó hay dạy họ điều gì đó, thì chúng ta rất giới hạn bởi vì chúng ta không biết điềutác động sẽ đến là gì, không chỉ bây giờ mà cả trong những kiếp sống tương lai của người này và mọi người mà người này sẽ gặp và tương tác, tác động sẽ là gì từ những điều chúng ta đã dạy người này trên những người khác này - tôi muốn nói là không thể tin nổi, tất cả những ảnh hưởng có thể sinh khởi, và thì chúng ta rất giới hạn, chúng ta thật sự không biết. Nó giống như tất cả chúng ta ở trong những chiếc tàu ngầm và nhận thức chúng ta như qua kính tiềm vọng của tàu ngầm - chúng ta chỉ có thể thấy một chút của mọi thứ, qua kính tiềm vọng bé tí của chúng ta. Chúng ta chỉ thấy những gì ngay phía trước đôi mắt của chúng ta, chúng ta không thể thấy những gì phía sau cái đầu của chúng ta. Đây là điều chúng ta thật sự muốn từ bò, chúng ta quyết định phải thoát khỏi điều ấy, bởi vì nó là ngớ ngẫn.

 

Xét cho cùng, nguyên nhân của điều này là gi? Nguyên nhân của điều này một cách căn bản vẫn là si mê, nó là những thói quen của si mê. Chúng ta thường thấy chúng ta như cô lập, như một thực thể tách biệt với mọi thứ khác. Và chúng ta cũng rất thường thây mọi thứ như những thực thể riêng  lẻ, đó là vấn đề họ cảm nhận chúng ta như thế  nào. Và chúng ta không thể thấy mối liên hệ hổ tương của mọi thứ. Chúng ta rất thường chỉ nghĩ trong dạng của tôi và chính chúng ta, rằng nhận thức của chúng ta là rất giới hạn; chúng ta không nghĩ trong dạng thức của mọi ngườitoàn bộ sự liên hệ hổ tương của mọi người - chúng ta thậm chí không thể thấy nó.

 

Vì vậy chúng ta quyết định thoát khỏi không chỉ sự si mê, mà cả những thói quen của si mê là những thứ làm cho chúng tanhận thức giới hạn này về mọi thứ và loại thân thể giới hạn này mà nó chỉ có thể thấy những gì ngay trước mũi ta và chỉ có thể hiện diện một nơi trong một lúc. Và vì thế điều chúng ta hướng đến là Giác Ngộ - điều ấy hơn chỉ là giải thoát. Đó là sự chấm dứt thật sự không chỉ những sự mê mờ hay chướng ngại ngăn trở sự giải thoát; mà nó là sự chấm dứt thật sự những sự mê mờ đã ngăn trở chúng ta khỏi việc có thể biết mọi thứ và vấn đề hổ trợ mọi người như thế nào, những gì thiện xảo nhất để dạy người khác, để giúp đở người khác. Và giống như điều thiết yếu tuyệt đốitin chắc rằng có thể đạt đến giải thoát - giải thoát khỏi si mê, sự chấm dứt thật sự về điều ấy - thật hoàn toàn cần thiết cho chúng ta tin chắc rằng thật có thể thành tựu Giác Ngộ. Giống như si mê không là một bộ phận cố hữu của tâm thức - của việc trải nghiệm mọi thứ, hành vi tinh thần này - tương tự thế, việc kinh nghiệm mọi thứ không cần giới hạn.

 

7- Năng Lực Vô Hạn Của Tâm

 

Bởi vì ghi nhớ, kinh nghiệm mọi thứ - điều mà chúng ta muốn nói đến "tâm thức" - nó tạo hiện tướng tinh thần của mọi thứ và một sự ràng buộc nào đó với nó - biết nó, thấy nó, nghe nó, v.v…mà không có một cái "tôi" riêng biệt làm nó sinh khởi, bởi vì hành vi tinh thần, sự kinh nghiệm, đang xảy ra mà không có một cái ''tôi" riêng biệt trong một thân thể bé nhỏ riêng biệt với một năng lực nho nhỏ riêng biệt, và v.v… nó không bị hạn chế bởi điều ấy. Nó không bị giới hạn để hiện hữu - nếu chúng ta có thể sử dụng một sự tương tự - bên trong chiếc máy chụp hình be bé, máy chụp hình nhỏ hay lớn, hay loại máy chụp hình này hay loại máy chụp hình kia. Nó không bị giới hạn, nó chỉ kinh nghiệm.

 

Loại máy chụp hình này nó ở trong, loại thân thể vật lý này nó ở trong - đó không phải là một nhân tố quyết định. Nhân tố quyết định này chỉ là sự kinh nghiệm. Sự kinh nghiệmnăng lực để kinh nghiệm mọi thứ. Và tất cả chúng ta có tiềm năng, khả năng, giống như thế, bởi vì tất cả chúng ta có điều gọi là "Phật tánh" - nhân tố cho phép chúng ta trở thành một Đức Phật. Tất cả chúng tatâm thức, nói cách khác, tất cả chúng ta kinh nghiệm mọi thứ; tất cả chúng ta có sự  hiểu biết; tất cả chúng ta có nhiệt tình căn bản; tất cả chúng tanăng lượng tỏa chiếu ra, cho nên năng lực truyền đạt. Và sự si mê không có phần trong ấy - nó không là một bộ phận cố hữu của nó, không là bản chất tự nhiên của nó. Sự giới hạn cũng không là một bộ phận vốn có của điều ấy.

 

Chúng ta p hải rất cẩn thận ở đây. Khi chúng ta nói về sự kinh nghiệm mọi thứ - tâm thức chúng ta - nó luôn luôn cá nhânchủ quan. Phật Giáo không giống với Ấn Giáo. Ấn Giáo nói rằng tất cả chúng ta là một, tất cả là một tâm thức phổ quát, và v.v… Phật Giáo không nói thế. Phật Giáo luôn luôn nói rằng chúng ta luôn luôn là những cá thể. Phật Thích Ca không là Phật Di Lặc - các Ngài không là cùng một cá thể. Thế nên giống như quý vị có thể có rất nhiều tấm gương phản chiếu toàn vũ trụ, nhưng chúng vẫn là những tấm gương riêng biệt. Chúng phản chiếu cùng một thứ, nhưng chúng là riêng biệt. Không là một tấm gương.

 

8- Tâm Giác Ngộ / tâm bồ đề / bodhicitta

 

Vậy thì tâm giác ngộ, tâm giác ngộ là gì? Tâm giác ngộ là … Trước tiên nhất, chúng ta rất nhiệt tình bởi ý định "tôi muốn có thể hổ trợ mọi người tối đa như có thể." Điều ấy được động viên bởi từ ái, là nguyện ước mọi người được hạnh phúc và có nguyên nhân cho hạnh phúc; và bi mẫn, là nguyện ước mọi người được thoát khỏi khổ đau và nguyên nhân của đau khổ; và điều được gọi là một "quyết tâm phi thường" hay "nguyện ước xuất chúng", là điều căn bản tự nhận lấy trách nhiệm cho chính chúng ta - nó được gọi là "trách nhiệm phổ quát", Đức Đạt Lai Lạt Ma sử dụng giới hạn này - tiếp nhận trách nhiệm phổ quát để làm việc gì đó về nó tự chính mình để hổ trợ người khác. Tâm giác ngộ hơn điều này nhiều lắm. Nhưng tâm giác ngộ không phải bất cứ thứ nào trong đây; tâm giác ngộ hơn thế này nhiều. Nó không chỉ là từ ái, hay bi mẫn, hay trách nhiệm phổ quát này. Nó là một bước xa hơn - chúng ta nhận ra rằng để có thể thật sự hổ trợ người khác trong dạng thức của trách nhiệm này là chúng ta cần nắm lấy, chúng ta cần thành tựu Giác Ngộ. Chúng ta phải vượt thắng tất cả mọi hạn chế của chúng tathực chứng tất cả mọi tiềm lực và khả năng để hổ trợ người khác. Chúng ta phải đạt đến một sự chấm dứt tất cả những điều [hạn chế] ấy.

 

Cho nên, tâm giác ngộ bị thúc đẩy bởi điều này. Nhưng tự điều ấy thôi thì không phải là tâm giác ngộ. Tâm giác ngộ hơn thế ấy, nó là một thể trạng rất đặc biệt của tâm thức. Nhằm để biết thể trạng tâm thức ấy là gì, quý vị cần biết điều gì nó tập trung đến và vấn đềlưu tâm và tập trung trên đối tượng ấy như thế nào. Cho nên nhằm để biết thể trạng tâm thức ấy là gì thì chúng ta cần biết điều gì nó tập trung đến, và vấn đề nó thật sự quan tâm và tập trung đến như thế nào. Nhằm để hành thiền, nhằm để làm quen chính chúng ta với tâm giác ngộ, với thể trạng tâm thức này, chúng ta cần biết hai thứ.

 

Điều chúng ta cần tập trung vào là Giác Ngộ. Bây giờ, điều rất quan trọng: chúng ta không tập trung vào Giác Ngộ một cách tổng quát; chúng ta không tập trung vào sự Giác Ngộ của Đức Phật Thích Ca, hay sự Giác Ngộ của bất cứ một đại sư nào. Chúng ta tập trung vào sự Giác Ngộ tương lai của chính cá nhân chúng ta, với ý định hổ trợ tất cả chúng sanh - đấy là điều đang lèo lái chúng ta ở đó - và sự tập trung để đạt đến thể trạng tương lai, và, một cách rõ ràng khi chúng ta thành tựu mục tiêu ấy, để làm lợi ích cho người  khác tối đa thật sự như có thể. Và nó căn cứ hoàn toàn trên một niềm tin vững chắc rằng đây không là một việc không thể nào đó trong tương lai, mà đây là điều kiện tương lai của sự tương tục tinh thần của chúng ta là điều gì đấy thật sự có thể thành tựu.

 

Nếu chúng ta không tự tin rằng chúng ta có thể trở thành Giác Ngộ, thì đó chỉ là trò hề để cố gắng hướng đến để trở thành Giác Ngộ, đó là lời nói đùa. Cũng thế chúng ta cần biết Giác Ngộ có nghĩa là gì - tối thiểu một ý tưởng nào đó về vấn đề Giác Ngộ là gì. Ý tưởng rằng chúng ta có nó có thể không chính xác lắm - ngoại trừ chúng ta Giác Ngộ thì khó để mà chúng ta thật sự biết nó giống như thế nào - tuy nhiên chúng ta cần một loại ý tưởng nào đó có thể hình dung Giác Ngộ vì thế chúng ta mới có thể thật sự hướng đến nó.

 

Vậy thì đấy là tâm giác ngộ, và khi chúng ta hành thiền, hành thiền có nghĩa là làm quen cung cách chúng ta suy nghĩ với điều này hay với bất cứ thể trạng tích cực nào vì thế cuối cùngtrở thành tự động - một bộ phận tự nhiên của chính chúng ta - bằng việc lập đi lập lại nó liên tục dài lâu.

 

Để thật sự hành động trên tâm giác ngộ và phát triển điều này, thì chúng ta phải thật sự làm việc sẳn sàng trước trên vấn đề có một ý tưởng mơ hồ về Giác Ngộ có nghĩa là gì, và hành động trên điều này, toàn bộ vấn đề trở thành tin chắc rằng thật sự có thể thành tựu Giác Ngộ; nó là một mục tiêuthể đạt đến, không chỉ là một giấc mơ ngông cuồng. Để thành tựu nó, điều này cũng phải là một thực tế, ấy là vấn đề chúng ta thật sự đạt được nó như thế nào. Chúng ta đạt đến nó bằng một quyết tâm giải thoát - (để đạt đến) một sự chấm dứt thật sự tất cả mọi chướng ngại, tất cả mọi giới hạn; và ở đây vấn nạn là sự bất lực của chúng ta để thật sự biết vấn đề giúp đở người khác như thế  nào. Đấy có nghĩa là loại bỏ không chỉ sự chấp trước, vị kỷ, vị ngã và tất cả những thứ ấy, nhưng cũng là vượt thắng những thói quen làm chúng ta nhận thức mọi thứ trong một cung cách rất hạn chế.

 

Tuệ giácchúng ta cần, sự thấu hiểu về thực tại để loại bỏ hoặc là sự si mê hay cũng là những thói quen của sự si mê ấy, đó là cùng tuệ giác, cùng sự thông hiểu về thực tại. Thực tạithực tại, hoặc là quý vị hiểu nó hay không hiểu nó. Chúng ta cần có sự (thông hiểu) vô niệm ấy, có nghĩa là không qua một ý tưởng nào đó, mà một cách trực tiếp. Nhưng để trở thành một Đức Phật, chúng ta phải có điều này trong mọi lúc. Và, chúng ta cần một năng lực đặc biệt đằng sau sự thông hiểu này, phía sau tuệ giác này, để cắt ngang tất cả mọi sự giới hạn này. Chỉ có năng lực của quyết tâm thì không đủ để thoát khỏi các vấn nạn của tất cả chúng ta; nhưng chúng ta phải có năng lực của quyết tâm để có thể hổ trợ mọi người khác thoát khỏi các vấn nạn của họ - đó là bi mẫn.

 

9- Làm Thế Nào Để Thành Tựu Tâm Giác Ngộ

 

Vậy thì, có sự tin chắc này rằng có thể thành tựu Giác Ngộ; có sự thông hiểu này về vấn đề làm thế nào để đạt đến Giác Ngộ, chúng ta cần gì; và một thái độ thực tiển về nó, rằng sẽ cần một thời gian lâu xa và rất khó khăn. Tiến trình sẽ không là một đường vạch; sẽ không khá hơn mỗi ngày. Nó sẽ thăng trầm, nhưng qua một thời gian dài lâu chúng ta sẽ tiến bộ. Vì thế giờ này qua giờ khác, ngày này qua ngày khác, nó sẽ thăng trầm lên xuống. Và chúng ta cũng cần nhận thức rằng có những trình độ khác nhau của vấn đề chúng ta đưa chính mình vào thể trạng tâm thức này như thế nào nhờ thế chúng ta mới thật sự cảm nhận một cách chân thành về nó. Vào lúc khởi đầu chúng ta phải làm việc tăng tiến  với chính mình để thật sự cảm nhận nó. Nói cách khác, chúng ta phải dựa vào những bước nào đó - cho nên nó giống như điều này và rồi thì như vậy và rồi thì giống như vậy và v.v…- và điều ấy sẽ đưa chúng ta cảm nhận tâm giác ngộ này.

 

Có hai cách chính để hành động như được dạy trong Phật Giáo Tây Tạng - tất cả mọi truyền thống có điều này. Điều thứ nhất được gọi là thiền tập bảy phần nhân quả. Tôi chỉ đề cập nó thật ngắn gọn, chúng ta không có thời gian để đi vào chi tiết của nó trong buổi tối này. Trước tiên chúng ta bắt đầu với căn bản - nó không là một bộ phận của bảy phần nhân quả. Căn bảnbuông xả. Buông xả ở đây có nghĩa là chúng ta không thích thú đến một số người nào đó, khước từ những người khác, và phớt lờ những người khác, nhưng chúng ta cởi mở bình đẳng với mọi người. Vì vậy điều chúng ta đang tập trung ở đây là để vượt thắng sự hấp dẫn, ghét bỏ, và phớt lờ một số người nào đó. Chúng ta nghĩ trong dạng thức của vấn đề mọi người đôi khi hành động dễ thương đối với chúng ta, đôi khi thô lỗ, đôi khi họ là những kẻ xa lạ - tôi muốn nói mọi người trải qua một thời gian dài ở trong mỗi hoàn cảnh này, vì thế không ai tuyệt đối ở trong một đặc trưng này hay khác.

 

Sau đó chúng ta bắt đầu bảy phần nhân quả. Sáu bước là nguyên nhân và bước cuối cùng là kết quả, hệ quả. Trước tiên chúng ta cố gắng để nhận ra rằng mọi người đã từng liên hệ với chúng ta trong những kiếp sống quá khứ - đây là thiền tập thật sự trong dạng thức của hoặc là đã từng là mẹ hay cha chúng ta hay là người bạn thân nhất của chúng ta hay điều gì giống như thế. Bước thứ hai là họ đã từng rất ân cần với chúng ta và giúp đở chúng ta khi họ từng là mẹ hay cha chúng ta hay người bạn thân của chúng ta. Dạng Quyền Pháp, nếu chúng ta không thể đối diện với những kiếp quá khứ, thì sẽ là mọi người có thể là rất dễ thương đối với chúng ta - bất cứ người nào cũng có thể mời chúng ta về  nhà và cho chúng ta ăn, và chăm sóc chúng ta. Rồi bước thứ ba, chúng ta muốn đền đáp sự ân cần ấy. Rồi thì từ ái, nguyện ước rằng họ được hạnh phúc và có những  nguyên nhân của hạnh phúc. Và rồi bi mẫn - nguyện cho họ được thoát  khỏi khổ đau và những nguyên nhân khổ đau của họ. Sau đó tiếp nhận trách nhiệm phổ quát này để làm điều gì đó về nó và rồi, trên căn bản của điều ấy, cách duy nhấtchúng ta có thể hổ trợ họ một cách chân thànhtrở thành một Đức Phật. Cho nên sau đó chúng ta tập trung với tâm giác ngộ trong sự Giác Ngộ tương lai của chúng ta. "Tôi phải thành tựu Giác Ngộ để có thể giúp đở mọi người và tôi sẽ đạt được điều ấy." Thế nên chúng ta sẽ tự hành động tiến triển qua mỗi bước này - và mỗi bước này là một sự hành thiền - cho đến khi chúng ta thật sự có được tâm giác ngộ chân thật này.

 

Phương pháp khác mà chúng ta thường sử dụng được gọi là bình đẳng và hoán đổi chính chúng ta với người khác. Nó bắt đầu với cùng bước buông xả này - từ bỏ sự thích thú và thù ghét và dửng dưng với người khác - và rồi bình đẳng thái độ chúng ta với mọi  người. Và như mọi người chúng ta cũng bao gồm chính chúng ta. Tất cả chúng tabình đẳng, mọi người muốn hạnh phúc, và không ai muốn khổ đau - mọi người khác và tôi cũng thế - giống như tôi muốn hạnh phúc và  không muốn khổ đau.

 

Có rất nhiều khái niệm khác nhau mà qua đó chúng ta có thể thuyết phục chính chúng ta rằng chúng ta bình đẳng; thật sự có chín khái niệm mà chúng ta làm việc với. Chỉ cho một thí dụ, tất cả chúng ta là có cùng quyền để hạnh phúc và không bất hạnh. Nếu có chín đứa bé và tất cả chúng đói khát, tất cả chúng có cùng quyền để được cho sửa và bánh - không chỉ những bé mà chúng ta thích. Nếu chúng ta là một bác sĩ, mỗi bệnh nhân đến gặp chúng ta - không chỉ những người vào buổi sáng khi chúng ta có nhiều năng lượng, nhưng những người cuối cùng cũng thế - tất cả những người ấy là giống nhau với việc được chửa bệnh, và có cùng quyền để được trị bệnh với năng lực trọn vẹn nhất của chúng ta. Thế thì chúng ta nghĩ về vấn đề nếu chúng ta chỉ nghĩ về chính chúng ta và là vị ngã và rất giới hạn, như vậy chỉ làm chúng ta vô cùng đau khổ. Đó là nguyên nhân khốn khó của chúng ta. Nếu chúng ta chỉ nghĩ về rắc rối của chúng ta, nổi bất hạnh của chúng ta, rồi thì nó trở thành một việc quái dị bởi vì chúng ta là rất giới hạn trong cách mà chúng ta đang nhìn vào mọi thứ, cho nên nó thật sự làm chúng ta đau khổ nhiều hơn; trái lại nếu chúng ta nghĩ về người khác và hành động trong hình thức của người khác, thế thì đây là nguồn gốc của hạnh phúc. Cách tốt nhất để vượt thắng sự thất vọng là không chỉ ngồi đấy và cảm nhận vào "cái tôi tội nghiệp" ngày càng sâu hơn, mà phải đi ra và thật sự làm điều gì đó để hổ trợ người khác, hãy liên hệ - bất cứ điều gì có thể.

 

Sau đó chúng ta cố gắng để  hoán đổi các thái độ: "Thay vì tập trung chỉ vào tôi và phớt lờ mọi người khác, tôi sẽ tập trung vào người khác, và phớt lờ chỉ sự quan tâm vị kỷ của chính tôi" - dĩ nhiên, mặc dù chúng ta vẫn phải chăm sóc cho chính chúng ta, nhưng không hoàn toàn chỉ tôi mà thôi. Và có phải chúng ta có thể chăm sóc người nào khác đó, thân thểrắc rối của người nào đó cùng cách như chúng ta chăm sóc chính chúng ta chứ? Vâng bởi vì thân thể này mà tôi yêu mến quá nhiều, thật sự nó hoàn toàn không là thân thể tôi; nó đến từ tinh trùng và noãn châu của hai người khác nhau - cha mẹ tôi. Nó không đến từ tinh trùng và noãn châu của chính tôi. Cho nên nếu tôi chăm sóc một thân thể đến từ tinh trùng và noãn châu của một người nào khác, và xem nó là của tôi và nó quá quý giá mà tôi phải chăm sóc nó, thì tôi có thể chăm sóc thân thể của bât cứ người nào đến từ tình trùng và noãn châu của bất cứ người nào. Điều gì khác biệt? Vậy thì chúng ta có thể chùi mũi chúng ta, tôi có thể chùi mũi con trẻ của tôi, tôi có thể chùi mũi của một người say rượu bên đường - điều gì khác biệt? Đó là một sự chùi mũi. Chùi mũi là chùi mũi.

 

Rồi thì một lần nữa chúng ta nghĩ trong hình thức của bi mẫn - tôi sẽ đón nhận và đối diện với nổi khổ đau và rắc rối của người khác giống như tôi sẽ làm với vấn đề của chính tôi. Và tôi sẽ hành động để ban cho họ hạnh phúc, nói cách khác cho họ những giải pháp cho các rắc rối của họ và giúp họ đúng như cách mà tôi làm cho chính tôi. Đấy là từ ái, nguyện cho họ hạnh phúc. Và như chúng ta có với phương pháp thứ nhất, chúng ta không chỉ nguyện ước có thể làm những thứ này, nhưng thật sự tiếp nhận trách nhiệm để làm những thứ này: trách nhiệm phổ quát. Sau đó nhằm để làm việc ấy tôi thật sự cần trở thành một Đức Phật, để vượt thắng tất cả những giới hạn của tôi vì thế tôi có thể làm việc ấy một cách tròn vẹn; tâm giác ngộ là như vậy.

 

Đức Đạt Lai Lạt Ma luôn luôn nói rằng phương pháp thứ hai này là ổn định hơn phương pháp thứ nhất. Bởi vì phương pháp thứ nhất, ngoại trừ nó thật sự phối hợp với tuệ giác về vấn đề ta tồn tại như thế nào, bằng không nó có thể thoái hóa thành "tôi muốn giúp đở người khác chỉ bởi vì họ ân cần với tôi." Cho nên chúng ta phải quán chiếu để tránh cực đoan ấy khi làm việc với phương pháp thứ nhất. Phương pháp thứ nhất rất hữu ích nhưng chúng ta phải hơi cẩn thận với nó.

 

10- Những Trình Độ Của Tâm Giác Ngộ

 

Với tâm giác ngộ, trước nhất chúng ta cần tự hành động tiến đến cảm nhận nó bằng việc nương tựa vào những phương pháp này. Thế thì cuối cùng chúng ta có được sự quen thuộc với điều này - nói cách khác chúng ta đã hành thiền đủ, chúng ta đã đi qua tiến trình này, một khối lượng thời gian đủ - rồi thì nó sẽ đến một cách tự nhiên, tự động, mà không phải tự hành động với điều ấy. Và với tâm giác ngộ,

 

* có những gì gọi là thể trạng khao khát hay mong ước của tâm giác ngộ, mà trong ấy chúng ta chỉ mong ước để đạt đến Giác Ngộ để có thể giúp đở mọi người. Đấy chỉ là thể trạng mong ước.

* và rồi có thể trạng phát nguyện, trong ấy "tôi sẽ không quay lại cho đến khi tôi thật sự đạt đến Giác Ngộ."

* và rồi thì có thể trạng dấn thân, trong ấy chúng ta thật sự tự dấn thân toàn thời gian trong thực hành mà nó sẽ đưa chúng ta đến Giác Ngộ. Với thể trạng dấn thân ấy chúng ta thọ giới Bồ tát.

 

11- Tâm Giác Ngộ Trong Đời Sống Hàng Ngày Của Chúng Ta

 

Nếu chúng ta hỏi vấn đề tất cả điều này thâm nhập vào đời sống hàng ngày của chúng ta như thế nào, nó không chỉ là có lòng từ ái và bi mẫn cho mọi người - nguyện cho mọi người hạnh phúc, nguyện cho mọi người không khổ đau - không chỉ là như thế, và không chỉ là chấm dứt vị ngã và nghĩ về người khác. Dĩ nhiên đó là một bộ phận của nó, nhưng tự nó không là tâm giác ngộ, đó chỉ là bước khởi đầu cho nó. Nhưng đó là khi chúng ta chạm trán với vấn nạn của người khác, khổ đau của người khác, rồi thì chúng ta cố gắng để hổ trợ hợ tối đa như chúng ta có thể, và chúng ta nhận ra rằng nhằm để có thể hổ trợ họ trọn vẹn, tôi thật sự phải vượt thắng mọi hạn chế của tôi và nhận ra tất cả mọi tiềm năng của tôi, và như vậy nó thúc đẩy chúng ta vượt khỏi những giới hạn. Cho nên ngay cả nếu tôi mệt mõi, ngay cả nếu tôi không cảm thấy thích giúp bạn, nếu tôi đang cảm thấy lười biếng, hay tôi không thích bạn - tôi sẽ tự thúc đẩy mình vượt thắng điều ấy, tôi phải chiến thắng giới hạn ấy, để tự thúc đẩy tôi tối đa như có thể để thật sự hổ trợ tối đa như tôi có thể bây giờ.

 

Nó cho chúng ta sức mạnh vô biên để thật sự hành động tối đa như chúng ta có thể để hổ trợ người nào đó, một cách cụ thể bây giờ. Cũng thế nó cho chúng ta nhiều sức mạnh hơn để hành động trong sự thực tập của chúng ta ngay cả khi chúng ta không trực tiếp hổ trợ người khác - để hành thiền, để cố gắng thật sự làm chúng ta quen thuộc với những thể trạng tích cực này của tâm thức, để chuyển hóa thái độ - đây là tất cả những gì của Phật Giáo. Chuyển hóa ra các thái độ - đây là ý nghĩa của hành thiền - thành những thứ tích cực. Cho nên nó cho chúng ta (thái độ) "tôi phải làm điều này". "Tôi có thể đối diện với con cái tôi và giúp nó như thế nào nếu tôi luôn luôn đánh mất sự nhẫn nại của tôi và nổi giận? Tôi phải vượt thắng điều đó. Tôi thật sự đang làm việc một cách cần mẫn về điều đó." Cho nên nó cho chúng ta sức mạnh lớn lao, với niềm tin rằng nó là có thể. Nó là có thể cho tôi phát triển hơn nữa, để chiến thắng những giới hạn này. Nhưng với một thái độ thực tiển, mà chúng ta không thúc ép chúng ta quá mức, đến mức độ nó trở thành chướng ngại phiền não ẩn tàng. Quý vị biết khi nào tạm dừng, quý vị biết tôi chắc chắn có thể làm hơn một chút mà tôi nghĩ tôi có thể làm, nhưng có một giới hạn thực tế nào đó mà tôi có bây giờ, là điều mà tôi hy vọng có thể vượt khỏi trong tương lai, nhưng chúng ta tôn trọng điều ấy. Tôi cần ngủ lúc nào đấy, tôi cần ăn, tôi cần dừng lại nghỉ ngơi - dĩ nhiên. Nhưng tôi sẽ không xử sự chính tôi như những đứa bé; thời khắc đầu tiên mà chúng ta cảm thấy hơi mệt nhọc và chúng ta không cảm thấy thích giúp đở người khác, thì chúng ta không làm.

 

Đấy, đó là một số điểm căn bản về tâm giác ngộ. Quý vị có câu hỏi nào không?

 

12- Hỏi & Đáp

 

HỎI: [không nghe được]

 

ĐÁP: Câu hỏi là, tôi có thể lập lại một ít về vấn đề tại sao chúng a phải cẩn thận với thiền tập về bảy phần nhân quả này cho việc phát triển tâm giác ngộ, điều liên hệ với mọi người như đã từng là những bà mẹ của chúng ta.

 

Một trong những bước là khi chúng ta nhớ lại sự ân cần của người khác, những người đã từng là những bà mẹ của chúng ta, sau đó chúng ta muốn đền đáp sự ân cần ấy - họ đã từng ân cần với ta, do thế tôi muốn đền đáp sự ân cần của họ. Cho nên nếu chúng ta không có một sự thấu hiểu rõ ràng về vấn đề cái "tôi" tồn tại như thế nào, thế thì nó có thể lẫn lộn với một sự dính mắc nào đó với tôi - tôi tử tế với họ bởi vì họ đã ân cần với tôi. Cho nên nó hàm ý rằng nếu họ không tử tế với tôi, thì tôi sẽ không muốn ân cần với họ. Trái lại phương pháp khác - phương pháp bình đẳng và hoán đổi - chúng ta muốn hổ trợ người khác cho dù họ có từng tử tế với chúng ta hay là không, ngay cả khi họ không ân cần với chúng ta. Thế nên, vì lý do ấy chúng ta phải hơi cẩn thận trong hình thức thật sự bổ sung cho phương pháp thứ nhất với nhiều tuệ giác hơn về cái ''tôi''. Dĩ nhiên, phương pháp thứ hai cũng được bổ sung như vậy; bằng khác đi làm thế nào chúng ta thật sự có thể suy nghĩ trong hình thức của người khác cùng giống như chúng ta, nhưng trong phương pháp thứ nhất tính vị kỷ có thể thấm vào một chút nào đó. Dĩ nhiên, cả hai phương pháp đều có giá trị; trong bất cứ phương pháp nào quý vị phải quán chiếu chỗ nào có thể mà chúng ta có thể đón nhận nó sai lạc, nơi nào quý vị có những khó khăn. Thật rất hữu ích để biết trong bất cứ sự thực tập thiền quán nào mà chúng ta có thể tránh bất cứ lỗi lầm nào.

 

HỎI: [không nghe được]

 

ĐÁP: Câu hỏi là nếu có hai tạo vật cần sự giúp đở của chúng ta - như một con nhện và một con ruồi, hay một con mèo và một con chuột - và con này sẽ giết con nọ, thế thì chúng ta giúp đở ai, bởi vì nếu chúng ta giúp một con, con kia sẽ đau khổ.

 

À, dĩ nhiên, điều đó thật là một quyết định rất khó khăn để làm. Nếu chúng ta nghĩ trong hình thức của con nhện và con ruồi, nếu chúng ta giúp con nhện ăn con ruồi thế thì con ruồi sẽ chết, nó chấm dứt con ruồi; trái lại nếu chúng ta giúp con ruồi thoát đi, thì con nhện sẽ bắt một con ruồi khác, nó sẽ không chết liền lập tức.

Bây giờ, cho dù chúng ta làm thế nào đi nữa, con ruồi cuối cùng sẽ chết; và cho dù chúng ta làm sao đi nữa con nhện sẽ tiếp tục ăn những con ruồi khác. Cho nên chúng ta cố gắng để quyết định trong thời khắc đặc thù ấy, nơi chúng ta có thể tác động, là sự khổ đau lớn nhất: sự chết của con ruồi hay sự đói khát của con nhện, và sự chết là nổi khổ đau tệ hại hơn sự đói.

 

Trong những hoàn cảnh khác chúng ta phải quyết định trong dạng thức của vấn đề tạo vật nào có thể làm lợi ích cho kẻ khác hơn trong kiếp sống đặc thù này. Cuối cùng, mọi người có thể làm lợi ích cho mọi người, nhưng trong kiếp sống đặc thù này. Và vì thế nếu đó là một sự  lựa chọn giữa con cái chúng ta và những con trùng bên trong bao tử của chúng có thể giết đứa bé, thế thì đứa bé có thể làm lợi ích nhiều hơn trong kiếp sống này - làm nhiều tiến trình tâm linh hơn, hổ trợ người khác nhiều hơn - hơn là những con trùng. Thế nên rõ ràng rằng chúng ta sẽ chọn đứa bé. Và giống như vậy trong hình thức nếu chúng ta có những con trùng trong bao tử chúng ta.

 

HỎI: Về những người ăn xin trên đường phố thế nào?

 

ĐÁP: Về những người ăn xin trên đường phố, chúng ta giúp họ như thế nào? Một cách căn bản, nếu chúng ta có thể cho họ điều gì đó, thế thì hãy cho họ; và nếu chúng ta không có thứ gì, tối thiểu đừng xem thường họ, hay cho họ một cái nhìn khinh thị, hay phớt lờ họ. Tối thiểu hãy cho họ một nụ cười; họ là những con người. Ở đây thật rất hữu ích để nhìn vào người hành khất giống như "Nếu mẹ tôi ngồi đấy xin ăn thì sao?" hay "nếu người bạn thân của tôi ngồi đấy xin ăn thì thế nào?" và có khác biệt gì? Nó là giống nhau. Do thế, tối thiểu phát sinh một sự tôn trọng nào đó, một cảm giác nào đó cho người này như những con người. Nhưng dĩ nhiên như trong giáo huấn về bố thí, chúng ta không ban cho những thứ nào cho người khác có thể làm tổn hại họ. Nếu có một người say rượu hay nghiện rượu, chúng ta không cần cho họ tiền để mua thêm chất say. Hãy cho họ thức ăn hay những thứ như thế.

 

Có gì khác nữa không?

 

13- Hồi Hướng

 

Tốt thôi, bây giờ hãy chấm dứt ở đây với lời hồi hướng. Hãy lập lại những gì tôi nói sáng nay về hồi hướng, vì đây là một điểm rất quan trọng. Khi chúng ta làm gì đó tích cựcxây dựng như nghe thuyết giảng, hay hành thiền, hay giúp đở người khác , nó xây dựng nên một loại năng lực tích cực - thường gọi là "phước đức", nhưng dịch như vậy là không hay lắm. Năng lực tích cực ấy, nếu chúng ta không hồi hướng, thế thì nó tự động chỉ sẽ xây dựng thành nghiệp lành mà thôi, và nghiệp tích cực ấy sẽ chín muồi thành chúng sanh có thể làm việc gì đó vui sướng, điều gì đó dễ thương, trong cõi luân hồi. Do vậy, như một kết quả  của việc lắng nghe bài giảng này, thế thì chúng ta có thể có một cuộc đối thoại thích thú qua cà phê với bạn bè của chúng ta về tâm giác ngộ, và họ có thể mũm mĩm và họ sẽ thích chúng ta và nghĩ chúng ta thông minh như thế nào. Đó không phải là những gì chúng ta muốn như một kết quả của việc đến đây nghe giảng. Đó không phải là mục tiêu của việc đến đây; đó không phải là động cơ, hay mục tiêu của chúng ta. Những gì chúng ta cần làm là hồi hướng thật ý thức rằng năng lực tích cực này "nguyện cho nó hoạt động như một nguyên nhân cho việc đạt đến Giác Ngộ, để có thể làm lợi ích cho mọi người."

 

Tương tự thế, tôi thấy rất hữu dụng với điều này từ máy điện toán. Nếu chúng ta đánh máy một tài liệu và sau đó lưu lại, thế thì tự động nó sẽ đi vào ngăn luân hồi. Bây giờ, chúng ta không muốn nó đi vào ngăn luân hồi, cho nên, nhằm để tài liệu ấy  - năng lực tích cực ấy - được lưu lại trong ngăn Giác Ngộ, chúng ta phải nhấn thật ý thức vào nút để lưu nó lại trong ngăn Giác Ngộ. Đó là sự hồi hướng. Đó là những gì chúng ta cần làm, rằng năng lực tích cực này sẽ không chỉ đi vào ngăn luân hồi; nó đi vào ngăn Giác Ngộ. Đó là hồi hướng. Điều thật sự tốt đẹp là ngay cả nếu nó đã từng được lưu lại trong ngăn luân hồi, thì chúng ta có thể chuyển nó, dời nó, đến ngăn Giác Ngộ - nếu chúng ta chưa xóa nó. Quý vị phải cẩn thận là quý vị không xóa nó. Nhưng nếu quý vị chưa xóa nó, bằng việc nổi giận và làm điều gì đó tiêu cực, thế thì quý vị có thể chuyển nó qua ngăn Giác Ngộ - nhưng tốt hơn là để nó vào ngăn Giác Ngộ ngay từ lúc đầu.

 

Cho nên chúng ta nghĩ bất cứ năng lực tích cực nào mà chúng ta đã xây đắp bằng điều này nguyện cho nó hoạt động như một nguyên nhân cho việc đạt đến Giác Ngộ vì lợi ích của tất cả chúng sanh.

 

Ẩn Tâm Lộ, Saturday, July 04, 2015



[1] Những tâm đạo như tư lương đạo, gia hạnh đạo, thông đạt đạo, tu tập đạo, cứu kính đạo.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 68)
Mục đích của Đạo Phật là diệt khổ và đem vui cho mọi loài, nhưng phải là người có trí mới biết được con đường đưa đến an lạc và hạnh phúc
(Xem: 66)
Người ta thường nói đạo Phật là đạo của từ bi và trí tuệ. Đối với nhiều người Phật tử, từ bi là quan trọng hơn cả, và nếu không có từ bi thì không có đạo Phật.
(Xem: 197)
Các nhà khảo cổ đang nghiên cứu tại Nepal đã phát hiện bằng chứng về một kiến trúc tại nơi sinh ra Đức Phật có niên đại thế kỷ thứ 6 trước công nguyên.
(Xem: 239)
Theo Đức Phật, tất cả những vật hiện hữu đều biến chuyển không ngừng. Sự biến chuyển này thì vô thuỷ vô chung. Nguồn gốc của vũ trụ không do một Đấng Sáng tạo (Creator God) tạo ra.
(Xem: 242)
Đức Phật đản sanh vào năm 624 trước Công nguyên. Theo lý giải của Phật Giáo Nam Tông thì Đức Phật sanh ngày Rằm tháng Tư Âm lịch.
(Xem: 270)
Nếu bạn say mê đọc kinh Phật, ưa thích những phân tích kỹ càng về giáo điển, muốn tìm hiểu các chuyện xảy ra thời Đức Phật đi giảng dạy nơi này và nơi kia, hiển nhiên đây là một tác giả bạn không thể bỏ qua
(Xem: 174)
Tánh Không là một trong những khái niệm quan trọng và khó thấu triệt nhất trong giáo lý Phật giáo Đại thừa.
(Xem: 337)
Nguyên bản: Meditating while dying; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 415)
Ba Mươi Hai Cách ứng hiện của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát. Bởi vì Quan Thế Âm Bồ Tát đồng một Sức Từ với đức Phật Như Lai cho nên ngài ứng hiện ra 32 thân, vào các quốc độđộ thoát chúng sanh
(Xem: 317)
Thể tánh của tâm là pháp giới thể tánh, bởi vì nếu không như vậy thì tâm không bao giờ có thể hiểu biết, chứng ngộ pháp giới thể tánh.
(Xem: 250)
Trong kinh tạng Nikāya, khái niệm con đường độc nhất (ekāyana magga) là một khái niệm thu hút nhiều sự quan tâm của học giới từ phương Tây cho đến phương Đông
(Xem: 225)
Thuật ngữ pháp (dharma, có căn động tự là dhṛ có nghĩa là “duy trì, nắm giữ”; Pāli: dhamma; Tây Tạng: chos) mang nhiều ý nghĩa và ...
(Xem: 279)
Trì danh là pháp tu Tịnh Độ phổ thông nhứt hiện nay. Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm, có Mười cách trì danh khác nhau
(Xem: 277)
Phật dạy tất cả pháp hữu vi đều là vô thường sanh diệt không bền vững, như vậy thìthế gian cái gì có tạo tác có biến đổi đều là vô bền chắc.
(Xem: 371)
Nguyên bản: Removing obstacles to a favorable death; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 314)
Mối liên hệ giữa hình thức sớm nhất của Phật giáo và những truyền thống khác mà chúng đã phát triển về sau là một vấn đề luôn tái diễn trong lịch sử tư tưởngPhật giáo.
(Xem: 433)
Nghiệp và Luân hồi là hai ý niệm đã có trong Ấn độ giáo, được giảng giải trong các Kinh Veda và Upanishad vào khoảng 1500 năm trước CN.
(Xem: 8797)
Nếu tính từ thời điểm vua Lương Vũ Đế tổ chức trai hội Vu lan ở chùa Đồng Thái vào năm Đại Đồng thứ tư (538), thì lễ hội Vu lan của Phật giáo Bắc truyền đã có lịch sử hình thành gần 1.500 năm.
(Xem: 843)
Mục tiêu cao cả của đạo Phật là dạy con người tu tập để thoát khổ, giác ngộgiải thoát.
(Xem: 313)
Phật giáo du nhập Nhật Bản vào thế kỷ thứ VI, sau đó trải qua thời kì Nara (710~785), thời kì Heian (794~1192) cho đến thời kì Kamakura (1192~1380), trước sau khoảng 700 năm, rồi phát sinh rất nhiều tông phái.
(Xem: 353)
Tổ Quy Sơn dặn: “Nói ra lời nào phải liên hệ với kinh điển. Đàm luận gì, phải xét lại lời người xưa”.
(Xem: 317)
Nhiều học giả phân vân là làm thế nào và tại sao những nhà Đại chúng bộ (Mahāsāṅghika) đã hình thành nên khái niệm về một Đức Phật siêu việt...
(Xem: 494)
Hoa Sen Diệu Phápgiáo pháp được thuyết giảng trong Kinh Pháp Hoa. Quang Trạch giải thích Diệu Pháp là nhân của đạo Nhất Thừa, là quả của đạo Nhất Thừa.
(Xem: 282)
Con người sống qui tụ lại thành một xã hội, và phát triển tập thể này rộng lớn dần dần thành một quốc gia.
(Xem: 1423)
Trước khi xác định Phật Giáo như là một hệ thống tư tưởng triết học (Buddhism as a philosophy) hay như là một tôn giáo (Buddhism as a religion), chúng ta sẽ tìm hiểu triết học là gì ? và Phật giáo là gì ?
(Xem: 410)
Lục độ Ba-la-mật-đa/ Sáu phương pháp tu Ba-la-mật-đa (Six Paramitas) là 6 pháp tu để giải trừ các khổ ách của Đại thừa Phật giáo.
(Xem: 386)
Theo quan điểm của Đại hoàn thiện thì ánh sáng trong suốt hiển hiện một cách tự nhiên và được gọi là "hoàn-toàn-tốt"
(Xem: 562)
Đức Phật ra đời vào năm 624 trước tây lịch tại nước Ấn Độ. Ngài thuyết pháp 49 năm. Phật giáo đã trở thành quốc giáo, vì các vua, các quan và dân chúng đa phần đều theo đạo Phật.
(Xem: 565)
Y Kinh Kinh Cang Bát Nhã Ba La Mật: Đức Thế Tôn Như Lai hỏi ngài Tu Bồ Đề: Như Lainhục nhãn không? Ngài Tu Bồ Đề thưa:
(Xem: 1415)
Cuốn sách “Luân Hồi trong Lăng Kính Lăng Nghiêm” được ra mắt cách đây 9 năm (2008), in lần thứ hai, ba và tư vào năm 2012, 2014 & 2016 tại Nhà xuất bản Phương Đông, và năm nay (2018) cũng tại NXB Hồng Đức
(Xem: 826)
điều chắc chắn là làm người, ai cũng có ý thức về tội lỗi. Điều này là không đúng, điều này là không tốt, điều này là không đẹp.
(Xem: 527)
Tựa đề của khảo luận này phát xuất từ tồn nghi của một pháp hữu trong khi dịch lại bản kinh Tập (Sutta Nipāta) ở văn hệ Nikāya.
(Xem: 946)
Khái niệm ‘nghiệp’, thật ra, đã có mặt trong văn học Bà-la-môn giáo từ rất lâu trước khi Đức Phật xuất hiện ở đời.
(Xem: 493)
Vũ trụ, con người hình thành như thế nào và tương lai sẽ ra sao? Câu hỏi chưa bao giờ được xếp lại. Khoa học lượng tử luôn tiên phong...
(Xem: 467)
rong lịch sử tư tưởng Ấn-độ, thuyết Trung đạo đã mang lại cho tư tưởng giới đương thời một không khí hoạt bát[1].
(Xem: 639)
Bản chất của ánh sáng trong suốt, mang tính cách nền tảng và rạng ngời, là cội nguồn tối hậu của tất cả mọi cấp bậc tri thức...
(Xem: 728)
Chánh Pháp là gì? Phật Pháp được chia thành ba thời kỳthời Chánh Pháp, thời Tượng Pháp, và thời Mạt Pháp.
(Xem: 1142)
Ông trị vì từ năm 269 TCN đến năm 232 TCN thuộc đời thứ 3 của triều đại Maurya. Đế chế của ông rộng lớn gần như tất cả tiểu lục địa Ấn Độ trãi dài từ Đông sang Tây.
(Xem: 814)
Trong Kinh Kim Cang, Phật dạy có 4 tướng: “Ngã – Nhân – Chúng Sanh – Thọ Giả”. Khi còn phàm phu, chấp thân này là thật là bền vững,
(Xem: 822)
Đạo Phật đang phát triển rộng rãi đến nhiều tầng lớp. Rất nhiều các bậc tri thức, các nhà khoa học chân chính, đến cả những người ...
(Xem: 1531)
Kiếp sống của mỗi con người sinh ra ở thế giới Ta Bà này, dù thọ mạngdài hay ngắn, nhìn chung có thể phân chia làm nhiều giai đoạn.
(Xem: 974)
Kể từ thời điểm Phật giáo khai sinh và nở hoa khắp mọi miềnthế giới, hễ mỗi khi nói đến hình ảnh một vị Phật xuất hiện trong tương lai,
(Xem: 698)
Phép luyện tập thiền định được hỗ trợ bởi sự thực thi các hành động vị tha, các hành động đó đồng thời cũng được thúc đẩy bởi tình thương yêu và lòng từ bi.
(Xem: 595)
Nếu đủ sức duy trì một cách đúng đắn sự nhận biết tâm thức thần bí nhất thì kết quả mang lại từ phép luyện tập đó sẽ trợ lực các bạn rất nhiều
(Xem: 759)
Thời-không vũ trụ chứa hàng triệu, tỉ, hàng ức cho đến không máy móc nào đếm hằng hà sa số hành tinh như trái đất mới biết con ngườimột sinh thể gần như bằng không.
(Xem: 918)
Trong các bài kinh thuộc hệ A Hàm hay kinh Đại Bát Niết Bàn v.v… Phật có nói đến địa ngục. Đề Bà Đạt Đa, Tì kheo Thiện Tinh, vua Lưu Ly v.v… đều đọa vào địa ngục ngay khi chết.
(Xem: 690)
Xét về niên đại, bản kinh có mặt ở thời Hậu Hán (23-220), xuất hiện trong Cao Tăng Truyện quahành trạng của ngài Nhiếp-ma-đằng (攝摩騰)[2].
(Xem: 645)
Thể dạng lắng sâu thường xuyên bên trong tâm thức thần bí nhất chỉ có thể thực hiện được với những người có một khả năng thật bén nhạy.
(Xem: 1384)
Bài viết này sẽ khảo sát một số thắc mắc thường gặp về Thiền Tông, hy vọng sẽ tiện dụng cho một số độc giả còn nhiều nghi vấn.
(Xem: 957)
Thức Thứ Tám hay A Lại Ya là thức chủ trong 8 thức. Thức nầy có nhiều cách gọi khác nhau để chỉ về nhiệm vụ của mình. Tựu chung thức nầy có 3 việc chính là: Năng tàng, Sở tàng và Ngã ái chấp tàng.
(Xem: 1045)
Khi còn vướng mắc trong sự tạo tác triền miên của khái niệm, chẳng hạn như suy nghĩ về cái đúng, cái sai, v.v. , thì các bạn sẽ không thể nào bước vào con đường tu tập về
(Xem: 949)
Học phái dịch thuật xưa của Phật giáo Tây Tạng đưa ra nhiều cách luyện tập dựa vào các phương pháp khác biệt nhau, gọi là các "cỗ xe"/thừa.
(Xem: 1877)
Thần tài trong Phật giáo, cụ thểPhật giáo Bắc truyền đã vay mượn giữa hình ảnh Bố Đại hòa thượng và các truyền thuyết về thần tài Trung Hoa, để tổng hòa nên một vị thần tài có nguồn gốc ngoài Phật giáo.
(Xem: 1411)
Thời Đức Phật tại thế, Ấn Độít nhất mười sáu tiểu vương quốc, mỗi vương quốc đều có ngôn ngữ hay phương ngữ riêng, nhưng có lẽ người dân của mỗi nước đều có thể giao tiếp và hiểu nhau được.
(Xem: 970)
Trong các kinh sách thừa hưởng từ [Phật giáo] Ấn Độ thì nguyên tắc căn bản đó lúc thì được gọi là "tâm thức tự tại
(Xem: 1565)
Kinh Hoa Nghiêm tiếng Sanskrit là Avatamsaka, tiếng Nhật là Kégon Kyo. Kinh nầy bằng tiếng Sanskrit do Bồ Tát Long Tho (Nagarjuna) soạn vào khoảng thế kỷ thứ 2 Tây Lịch.
(Xem: 1004)
Con người muốn có cuộc sống an lạchạnh phúc, cần phải tu nhơn tạo phước, chứ không phải chỉ cầu nguyện...
(Xem: 986)
Phát huy sự chú tâm đúng đắn hướng vào một điểm nhằm mục đích gì? Việc luyện tập đó không nhất thiết là chỉ để giúp tâm thức đạt được một mức độ tập trung thật cao...
(Xem: 1384)
Đức Đạt Lai Lạt Ma Nói Về Phật Giáo Ứng Dụng - Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma, Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
Quảng Cáo Bảo Trợ