Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới

“Kịch Bản” Đón Phật Trong Kinh Lăng-già

Thursday, November 24, 202207:19(View: 1524)
“Kịch Bản” Đón Phật Trong Kinh Lăng-già
“Kịch Bản” Đón Phật Trong Kinh Lăng-già

Huỳnh Ngọc Chiến


“Kịch Bản” Đón Phật Trong Kinh Lăng-già

Trong kinh điển tiểu thừa có một điểm khác biệt rất rõ nét so với kinh điển đại thừa, đó là bối cảnh thuyết pháp của Đức Phật. Trong các bộ Trường Bộ Kinh hay Trung Bộ Kinh, v.v.  sau câu mở đầu “Tôi nghe như vầy” là gần như ta thấy hiện ra hình ảnh Đức Thế Tôn ngồi một cách bình dị nơi  khu vườn xoài của Kỳ-bà (Jīvaka) tại thành Vương-xá (Rājagaha), để thuyết giảng cho chúng Tỳ-kheo bằng những pháp thoại cũng bình dị và dễ hiểu. Hoặc có khi Đức Phật  thuyết pháp tại các bộ lạc, hoặc các tiểu quốc, v.v.  Nhưng nói chung là Đức Phật cứ tùy nghi thuyết pháp ở mọi nơi, trong những bối cảnh rất đổi trần gian.

Bước sang thế giới kinh điển đại thừa thì mọi chuyện đều đổi khác. Cái Bồ Đề Đạo Tràng bình dị trong các kinh Nikāya được chuyển thành một bối cảnh cực kỳ hoành tráng. Chỗ ngồi của Đức Phật biến thành sư tử tọa, thính chúng phải là hàng vạn Bồ Tát thông tuệ từ vô lượng các Phật độ cùng về vân tập. Mỗi lần Đức Phật chuẩn bị thuyết pháp là cả một kịch bản hoành tráng về không gian lẫn thính chúng, khiến ta không khỏi khâm phục trí tưởng tượng cực kỳ phong phú của những vị Bồ-tát viết kinh.

Thử nhìn thính chúng trong kinh Duy Ma (bản dịch của cố HT.Thích Huệ Hưng):  

tám nghìn chúng Đại Tỳ-kheo, hai vạn hai nghìn Bồ-tát, là những vị có tiếng tăm, đều đã thành tựu trí hạnh đại thừa, do nhờ oai thần của chư Phật lập nên. Các Ngài làm bức thành hộ phápgiữ gìn chánh pháp, diễn nói pháp âm rất oai hùng, tự tại vô úy như sư tử rống danh đồn xa khắp mười phương. Người đời không cầu thỉnh mà các Ngài sẵn sàng làm bạn giúp cho an vui. Các Ngài xương minh Tam bảo không dể dứt mất, hàng phục tất cả ma oán, ngăn dẹp các ngoại đạo; sáu căn ba nghiệp đều đã thanh tịnh; trọn lìa năm món che ngăn và mười điều ràng buộc. Tâm thường an trụ nơi lý vô ngại giải thoátniệm định tổng trì  bình đẳngbiện tài thông suốt như suối tuôn không dứt. Các hạnh bồ thí, trì giớí, nhẫn nhụctinh tấnthiền địnhtrí tuệ và sức phương tiện lợi mình lợì người thảy đều đầy đủ. Đã được đến bực vô sở đắc mà không khởi pháp nhẫn (vô sinh pháp nhẫn), hay tùy thuận dìễn nói pháp luân bất thối, khéo hiểu rõ chân tướng các pháp, thấu biết căn cơ chúng sanhoai đức bao trùm đại chúng, không còn sợ sệt chi cả.

Còn đây là không gian

Bấy giờ Đức Phật nói Pháp cho vô lượng trăm nghìn đại chúng đông đảo cung kính vây quanh đấy, ví như núi chúa Tu Di hiển bày nơi bể cả. Ngài ngồi yên trên tòa Sư tử  trang nghiêm bằng các thứ báu, oai đức che trùm tất cả đại chúng… Lại nữa, các núi Tu Di, Mục Chơn Lân Dà , Đại Mục Chơn Lân ĐàTuyết SơnHương SơnBảo SơnKim SơnHắc SơnThiết ViĐại Thiết Vi, bể lớn, sông, rạch, dòng ngòi, nguốn suối, cũng với mặt trờimặt trăng, các ngôi sao, thiên cunglong cung và cùng các vị tôn thần, nơi cõi Tam thiên đại thiên thế giới này đều hiện trong lọng bảy báu, và chư Phật trong mười phương, chư Phật đang nói pháp, cũng hiện trong lọng bảy báu ấy.

Đại khái trên đây là “kịch bản” phổ biến chung để chuẩn bị cho Đức Phật thuyết pháp, mà ta thường  thấy trong phần mở đầu của hầu hết kinh điển Đại thừa, trừ kinh Nhập Lăng-già!  

Bản dịch kinh Nhập Lăng-già nổi tiếng của pháp sư Cầu Na Bạt Đà La đi thẳng vào trọng tâm của kinh chỉ bằng một chiêu thức “Nhất thiết Phật ngữ tâm” theo kiểu “khai môn kiến sơn”, chứ không  không có “vòng vò Tam Quốc”, nên ta không thấy được các bước chuẩn bị. Nhưng trong bản dịch của Thực Xoa Nan Đà và Bồ Đề Lưu Chi lại có một phẩm mở đầu, giống như bản Phạn ngữ hiện nay, và chính phẩm mở đầu đó đã cho ta thấy Đức Phật cùng “phái đoàn” các Bồ-tát đến thành Lăng Già để giảng pháp được chào đón theo một kịch bản vô cùng mãn  nhãn, khác hẳn với các kinh khác. Đó là một cảnh tượng siêu nhiên hòa quyện với môi trường thế gian  một cách rất đỗi hài hòa. 

Thính chúng dĩ nhiên cũng như bao kinh điển đại thừa khác, gồm những vị Bồ-tát đã:

…du hý đối với các loại tam muội, đầy đủ [mười] tự tại, [mười] lực và [sáu] thần thông, được chư Phật dùng tay làm phép quán đảnh. Các ngài đều khéo hiểu nghĩa tự tâm sở hiện, tùy thuận theo các loại tâm hành của chúng sinh mà điều phục giáo hóa; đối với năm pháp, ba tự tánh, tám thức và hai thứ vô ngã, các ngài đều thông đạt rốt ráo.[1]

Lăng-già (Laṅkā) là một hòn đảo cô độc nằm giữa đại dương, một trong số các hòn đảo ở miền nam Ấn ĐộLăng Già thường được đồng hóa với Ceylon, song các học giả vẫn chưa hoàn toàn nhất trí với nhau về điểm này. Từ “nhập” ở đây có lẽ ám chỉ việc đức Phật vượt biển vào đảo để thuyết pháp, và chính vì thế mà Ngài cùng các Bồ Tát được vua thành Lăng Già  là Quỷ vương Rāvana (La Bà Na) đón tiếp cực kỳ trọng thể. Kinh được xem như do Đức Phật tuyên thuyết trong thời gian Ngài an trú tại đó. Cuộc đối thoại diễn ra giữa đức Phật với Bồ-tát Đại Tuệ (Mahamāti), là bậc thượng thủ của các Bồ Tát vân tập tại đây. Dù được tuyên thuyết tại một địa điểm xa xôi như Lăng-già, nhưng nếu so sánh với kinh Hoa nghiêm được tuyên thuyết một phần trên các cõi trời huyền bí thì dù sao thành Lăng-già vẫn còn có một nền tảng mang tính trần tục hơn.

Cảnh thành Lăng-già, trong bản dịch của Thực Xoa Nan Đà và Cầu Na Bạt Đà La chỉ được mô tả chung chung là “thành này được trang nghiêm bằng hoa báu cùng vô số bảo thạch, v.v. ”, nhưng qua bản dịch của Bồ Đề Lưu Chi, địa điểm thuyết pháp đó mới được mô tả một cách tuyệt diệu qua nhiều chi tiết :

Núi này đó do vô số bảo tính tạo thành, giữa các bảo tính này, ánh sáng toả rực rỡ như trăm ngàn mặt trời chiếu sáng núi vàng. Lại có vô lượng vườn hoa, cây thơm đều là rừng hương báu, gió nhẹ thổi qua làm động cành rung lá, khiến trăm ngàn loại diệu hương nhất thời lan tỏa, trăm ngàn diệu âm nhất thời cùng phát. Núi non chập chùng khuất khúc, đâu đâu cũng có tiên đường, linh thất, khám thờ, đều do vô số vật báu tạo thành; trong ngoài cùng sáng chói khiến mặt trời mặt trăng không thể hiện ra. [2]

Rāvana, vua loài Dạ xoalập tức cùng chư quyến thuộc, cưỡi xe hoa [3] đi đến chỗ của Phật để thỉnh Đức Phật vào thành. Khi đến nơi, họ xuống xe, đi nhiễu quanh đức Phật ba vòng từ trái sang phải. Rồi tất cả cùng tấu nhạc, dùng miếng ngọc nhân-đa-là màu xanh để gãy đủ các loại nhạc khí; đàn xong, họ đặt cây đàn tỳ bà (vīṇā) qua một bên, cây đàn đó được khảm bằng ngọc lưu ly thượng phẩm, đặt trong lớp vải vô giá màu vàng nhạt (priyaṅgu); họ xướng đủ các âm điệu, như câu lục (saharṣya), thần tiên khúc (riṣabha), trì địa điệu (gāndhāra), minh ý (dhāvata), cận văn (niṣāda), trung lệnh (madhyama), kê thi ca (kāiśika), v.v. lời ca dặt dìu theo các giai điệu thổ phong (grāma), nhã điệu (mūrchana), v.v. giọng hát hài hòa theo tiếng đàn tỳ bà, rồi đọc lời kệ để ca ngợi Đức Phật.

Các điệu khúc này không có trong các bản Hán ngữ, có lẽ các dịch giả thời đó xem đây là những chi tiết không quan trong, nên chỉ lướt qua, thậm chí bỏ qua, nhưng nhìn dưới góc độ văn hóa và âm nhạc, ta sẽ  thấy có nhiều điểm vô cùng thú vị. Những tên gọi trên đây được dịch theo bản (Đ) và bản (H).

Ta có thể hình dung cảnh tượng đó như một buổi đại nhạc hội với đủ thể loại nào là Tango, Rumba, nào là  Bolero, Chachacha, nào là Valse, Paso Doble, v.v. lần lượt được diễn tấu làm nền cho những điệu múa nhịp nhàng của vô số thái nữ kiều diễm để đón chào Đức Phật cùng “phái đoàn” Bồ-tát vào thành Lăng-già. Dùng âm nhạc và thái nữ múa hát để thỉnh cầu Đức Phật thuyết pháp, đó là một kịch bản chưa từng  thấy xuất hiện  trong kinh điển  Đại thừa. Và có  lẽ chưa bao giờ trong nền văn học Ấn Độ, kể cả trong các bộ sử thi Mahābhārata và Rāmāyaṇa lại có một cảnh tượng chào đón bằng ca vũ hoành tráng và lộng lẫy đến mức đó. Giống như một đại lễ hội trần gian!

Mức độ kỳ ảo của buổi thuyết pháp lại được nâng lên thêm một tầng khi Đức Phật, để đáp ứng tâm nguyện thiết tha cầu pháp của Rāvana cùng chư quyến thuộc, đã dùng thần lực để biến “Thành Lăng-già lộng lẫy, có vô số bảo thạch trang nghiêm, có các đỉnh núi vây quanh, các núi này tươi mát, đẹp đẽ và có lưới ngọc che phủ.” thành vô số thành Lăng-già  được trang nghiêm bằng châu ngọc và vô lượng các vật bằng bảo châu lộng lẫy. Trên mỗi đỉnh núi đều hiện ra một đức Phật và Rāvana đứng đó, cùng với toàn thể pháp hội và Bồ-tát Đại Tuệ đang thỉnh cầu Đức Phật thuyết pháp; tất cả các quốc độ đều hiện ở đó, và nơi mỗi quốc độ đều có một bậc Đạo sư dùng diệu âm để thuyết về cảnh giới thánh trí  tự chứng.

Rồi sau đó bậc Đạo sư cùng chư Bồ-tát  biến mất trong hư không, để lại Rāvana đứng một mình trơ trọi trong lâu đài, khiến vị vua này hoát nhiên đại ngộ pháp tính (Dharmatā) cuả vạn pháp đều do tâm biến hiện.

Tiếp theo đó lại diễn ra một màn trình diễn âm nhạc kỳ diệu nữa giữa một không gian cực kỳ hoa lệ. Lúc bấy giờ, chúa tể thành Lăng-già, được Đức Thế Tôn cho phép, bèn từ chỗ ngồi trên đỉnh núi có trân bảo sáng rực rỡ như hoa sen báu bạch tịnh mà đứng dậy, có vô số thiên nữ vây quanh, với đầy đủ các loại hoa, tràng hoa, hương thơm, phan lọng, cờ xí, vòng khuyên, vương miện, khăn quấn đầu tiara lộng lẫy tuyệt vời chưa tùng có, chưa từng nghe bỗng hiện raâm nhạc được cử lên vang lừng hay hơn tất cả các thứ nhạc mà Trời, Rồng (Nagā), Dạ Xoa (Yaksha), Càn-thát-bà (Gandharva), RākshakaKhẩn Na La (Kinnara), Ma Hầu La Già (Mahoraga) và chúng sinh đã từng nghe; các nhạc cụ được tạo ra sánh ngang với bất cứ mọi thứ có trong cõi dục giới, và các nhạc cụ thù thắng như vậy cũng được nhìn thấy ở các cõi Phật; bao quanh Đức Thế Tôn và các Bồ-tát là tấm lưới bảo châuvô số cờ xí phan lọng đủ loại được trương ra trong hư không, cao bằng bảy cây sa-la (talanga) để cung nghinh đức Phật; từ trên trời cao phẩm vật cúng dường rắc xuống nhiều như mây trời và âm nhạc tấu lên vang lừng, chúa tể thành Lăng-già ngồi trên đỉnh núi trân báu có những tòa sen bằng bảo châu trang nghiêm. Các tòa sen này rực rỡ chói lọi chỉ kém ánh mặt trời.  

Cảnh tượng Đức Phật dùng lực để biến hóa một đỉnh Lăng-già thành ra vô số đỉnh Lăng-già tương tự thật chẳng khác nào trò chơi kính vạn hoa. Một đối tượng sẽ hóa thân thành vô số các đối tượng khác nhau, như khi ta bước vào một căn phòng làm bằng những tấm gương phản chiếu. Đây là cảnh tượng minh họa sinh động cho cảnh giới  “tương tức tương nhập”, “viên dung vô ngại”, “nhất thức nhất thiết”, v.v.  trong tư tưởng Hoa nghiêm. Tông Hoa nghiêm thường dùng những tấm gương làm thí dụ để minh giải tư tưởng ấy. Thử dựng một căn phong nhỏ với  tám tấm gương là những bức vách ở tám hướng, thêm một tấm ở phía trên, một tấm ở phía dưới, và ở giữa ta đặt một ngọn đèn. Mỗi tấm gương phản chiếu một ngọn đèn, cùng chín tấm gương kia. Đó cũng là cảnh tượng trên đỉnh  Lăng-già qua thần lực biến hóa của Đức Phật.

Chính vì không lưu ý đến điểm này mà cả hai bản dịch của Cầu Na Bạt Đà La và Thực Xoa Nan Đà có một điểm nhầm lẫn trong chương 2, là chương bắt đầu đi vào phần chính kinh. Cả hai bản đều dịch :

爾 時 大 慧 菩 薩 與 摩 帝 菩 薩 。俱 遊 一 切 諸 佛 剎 土 。承 佛 神 力 。從 坐 而 起 偏 袒 右 肩 右 膝 著 地 合 掌 恭 敬 。以 偈 讚 曰 : ( Lúc bấy giờ, Bồ-tát Đại Tuệ cùng các Bồ-tát Đại Tuệ khác , vốn đã từng cùng nhau dạo chơi tất cả các cõi Phật, nương thần lực của Phật, từ chỗ ngồi đứng dậy, vạch vai áo phải, quì gối phải xuống đất, chắp tay cung kính, dùng kệ tán thán Thế Tôn).

Cả hai bản dịch nổi tiếng này đều ghi là  Bồ-tát Đại Tuệ và Bồ-tát Ma Đế, tức tất cả hai vị, nhưng trong nguyên văn Phạn ngữ không có từ Ma Đế (Mati), mà vẫn là Đại Tuệ (Mahāmati).

Bản (S) dịch cũng không có Bồ-tát Ma Đế :

At that time Mahamati the Bodhisattva-Mahasattva who had visited all the Buddha-lands, together with all the Bodhisattvas, …” (Lúc bấy giờ, Bồ-tát Ma-ha-tát Đại Tuệ, vốn đã dạo chơi tất cả các cõi Phật, liền cùng tất cả những vị Bồ-tát khác…;

Bản (B) là dịch sát nguyên bản Phạn ngữ :

爾 時 聖 者 大 慧 菩 薩 與 諸 一 切 大 慧 菩 薩 。俱 遊 一 切 諸 佛 國 土 …” (Lúc bấy giờ, bậc giả thánh giả Bồ Tát Đại Tuệ cùng tất cả những Bồ-tát Đại Tuệ khác đã cùng nhau dạo chơi tất cả các cõi Phật…),

Bản dịch tiếng Việt của cư sĩ Tuệ Khai: “Lúc bấy giờ, Thánh giả Đại Tuệ Bồ-ttát cùng tất cả những Bồ tát đại tuệ đều du hành ở tất cả đất nước chư Phật…,”[4] nhưng “Bồ-tát Đại Tuệ” ở đây lại được hiểu theo nghĩa là những “Bồ-tát có trí tuệ vĩ đại”, chứ không phải là tên riêng. Chỉ có bản (H) dịch sát nguyên tác Phạn ngữ và lý giải điểm này cực kỳ lý thú: do trước đó Đức Phật dùng thần lực biến hóa ra vô số pháp hội của thành Lăng-già để điểm hóa Rāvana về “vạn pháp duy tâm”, trong mỗi pháp hội đó đều có một Bồ-tát Đại Tuệ thỉnh pháp, nên tất cả những Bồ-tát Đại Tuệ ở chương này đều là một Đại Tuệ duy nhất, được biến hóa ra từ một “bản gốc Đại Tuệ”. Nhất thiết tức nhất!

Kịch bản này dường như không lặp lại lần thứ hai trong toàn bộ kinh điển Phật giáo. Và có một chi tiết lý thú là các Đức Như LaiỨng CúngChánh Đẳng Giác từ vô lượng kiếp trong trong quá khứ vẫn luôn ghé về thành này để giảng thuyết cùng một nội dung là cảnh giới thánh trí tự chứng. Ở đây, ta tưởng chừng như gặp lại tư tưởng Quy Hồi Vĩnh Cửu của Nietzche.

Mối quan hệ giữa chương mở đầu kỳ lạ này với nội dung kinh Nhập Lăng-già vẫn đang là một huyền án đối với các nhà nghiên cứu Phật họcChưa bao giờ kinh điển Phật giáo lại mô tả âm nhạc cặn kẽ và hào hứng đến thế. Phải chăng dùng âm nhạc để mở màn cho việc thuyết pháp là điểm lôi cuốn các đoàn truyền giáo trong quá khứ? Hay nó còn ẩn chứa một mật ý nào đó mà những vị Bồ-tát viết kinh muốn gởi gắm lại cho chúng ta? 

Ghi chú :

[1]   Những đoạn viết và trích dẫn liên quan đến nội dung kinh Nhập Lăng-già trong bài ày đều dựa vào ba bản dịch dưới đây: (1) The Lankavatara Sutra, a Mahayana text, translated from the Sanskrit by Daisetz Teitaro Suzuki, The Prajñā Press, 1978; viết tắt là bản (S); (2). Nhập Lăng-già kinhPhạn bản tân dịch 入 楞 伽 經 梵 本 新 譯, Đàm Tích Vĩnh dịch, Toàn thư văn hóa hữu hạn công ty, 2005; viết tắt là bản (Đ); (3). Nhập Lăng-già kinh 入 楞 伽 經 (Phạn Hán đối chiếu), Hoàng Bảo Sinh dịch, Trung Quốc Xã hội Khoa học xuất bản xã, 2018; viết tắt là bản (H).

[2]. 彼 山 種 種 寶 性 所 成 。 諸 寶 間 錯 光 明 赫 炎 。 如 百 千 日 照 曜 金 山 。 復 有 無 量 花 園 香 樹 皆 寶 香 林 。 微 風 吹 擊 搖 枝 動 葉 。 百 千 妙 香 一 時 流 布 。 百 千 妙 音 一 時 俱 發 。 重 巖 屈 曲 處 處 皆 有 仙 堂 靈 室 龕 窟 。 無 數 眾 寶 所 成 。 內 外 明 徹 日 月 光 暉 不 能 復 現 。(Nhập Lăng-già kinh 入 楞 伽 經, Bồ Đề Lưu Chi 菩 提 留 支, CBETA, 大 正 新 脩 大 正 藏 經, Vol. 16, No. 672.

[3]   Xe hoa (pauṣpakam vimānam) chỉ loại xe thần bay trong không trung, được trang trí bằng các loại hoa trời. Vimānam thường được dùng để chỉ cung điện, nên bản Thực Xoa Nan Đà dịch là “hoa cung điện 花 宮 殿”, nhưng nó cũng được dùng để chỉ loại xe bay. Pauṣpakam là tên xe. Xe hoa ở đây giống như các loại loan xa (xe loan) mà thần tiên dùng để cưỡi trên không, trong truyện cổ Trung Quốc.

[4]   https://thienphatgiao.org/kinh-nhap-lang-gia-tue-khai-dich/2/

(huynhngocchien.com)
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
(View: 62)
Hổm nay chúng ta đã tìm hiểu bài Đại kinh Rừng Sừng Bò, sáu vị thánh nhân trình bày hình ảnh lý tưởng của vị tỳ kheo trí tuệ và đức hạnh,
(View: 218)
Các học giả tranh luận liệu những lời dạy của Đức Phật được lưu giữ trong kinh điển Pāli có thể được coi là triết học hay không,
(View: 433)
Ở đời không ai mong cầu giải thoát khi đang ở trong lầu son hạnh phúc. Người ta chỉ muốn được giải thoát khi bị nhốt trong hoàn cảnh bi đát nào đó.
(View: 338)
Chúng sinh tuy bình đẳng nhưng căn tính bất đồng. Bình đẳng trên chân lý không phải là mọi người ngang hàng bằng nhau.
(View: 407)
Đạo Phật là đạo giác ngộ, có nguồn gốc từ Ấn Độ, do Thái tử Tất Đạt Đa Cồ Đàm (Siddhārtha Gautama) hình thành và sáng lập.
(View: 328)
Hồi đó, khi Đức Phật cùng với Tăng đoàn du hóa tại nước Xá-vệ thì có rất nhiều người trẻ đã phát tâm đi tu. Tôn giả A-nan được giao trách nhiệm...
(View: 455)
Trí Tuệ Bát Nhã, thần thông quảng đại, nhận thức được thực tướng của vạn Pháp. Trí Tuệ (wisdom) bao gồm cả kiến thức bác học, kiến giác, chứng nghiệm, tâm lý, tâm linh...
(View: 408)
Tôi xin dùng lý luận khoa học cùng triết lý nhân văn để giải thích những điều tâm linh của Phật Giáo.
(View: 735)
Hình ảnh Thầy Minh Tuệ xuất hiện trên các mạng xã hội y hệt như một trận bão truyền thông, làm dâng tràn những cảm xúc và suy tưởng.
(View: 419)
Hôm nay chúng ta bắt đầu nghiên cứu chương thứ hai, bàn về những sự thực hành kham khổ, tức là các phương pháp đầu đà.
(View: 425)
Như Lai được định nghĩa trực tiếp ba lần trong Kinh Kim Cương bát nhã ba la mật. Ba lần ấy được nói đến theo thứ tự như sau:
(View: 491)
Kinh Lăng-già tên gọi đầy đủ là Thể Nhập Chánh PhápLăng-già, cuối chương १० सगाथकम्। (10-sagāthakam), biên tập bởi Nanjō Bunyū 南條文雄 (laṅkāvatāra sūtra, kyoto, 1923)
(View: 629)
Bước đầu tiên để bước vào con đường Phật giáoquy y Tam Bảo, và viên ngọc đầu tiên trong ba viên ngọc mà chúng ta tiếp cận để quy yĐức Phật, Đấng Giác Ngộ.
(View: 624)
Đạo Phật là đạo của bi trí dũng. Đạo của trí tuệ, của chánh biến tri, và chánh tri kiến chứ không phải không thấy mà tin tưởng mù quáng.
(View: 501)
Phân biệt phước đức và công đứccần thiết cho việc học và hành đạo Phật.
(View: 521)
Sơ quả hay Tu-đà-hoàn là quả vị Thánh đầu tiên mà người Phật tử có thể chứng đạt ngay hiện đời.
(View: 578)
Cuộc đời và công việc của Bồ tát được nói trong phần cuối đoạn Đồng tử Thiện Tài gặp đức Di Lặc.
(View: 664)
Trong khi các tín ngưỡng về nghiệp và tái sinhphổ biến vào thời của Đức Phật,
(View: 793)
Đây là ba phạm trù nghĩa lý đặc trưng để bảo chứng nhận diện ra những lời dạy của đức Đạo sư một cách chính xác mà không
(View: 709)
Đi vào Pháp giới Hoa nghiêmđi vào bằng bồ đề tâm thanh tịnh và được cụ thể hóa bằng nguyện và hạnh.
(View: 526)
Nhị đế là từ được qui kết từ các Thánh đế (āryasatayā) qua nhân quả Khổ-Tập gọi là Tục đế
(View: 654)
Quí vị không giữ giới luật có thể không làm hại người khác, nhưng thương tổn tự tánh cuả chính mình.
(View: 748)
Lầu các của Đức Di Lặc tượng trưng cho toàn bộ pháp giới của Phật Tỳ Lô Giá Na; lầu các ấy có tên là Tỳ Lô Giá Na Đại Trang Nghiêm.
(View: 868)
Trong kinh Duy Thức thuộc tạng kinh phát triển, để chỉ cho sự huân tập thành khối nghiệp lực (A Lại Da Thức và Mạc Na Thức,)
(View: 711)
Tín ngưỡng Dược Sư với đại diệnthế giới Lưu ly nằm ở phương Đông mà nó tương tự với các cõi Tịnh độ khác, đều dùng việc
(View: 803)
Hai câu hỏi hiện lên trong đầu tôi khi nghĩ về giáo lý vô thường liên quan đến cuộc đời tôi.
(View: 989)
Lôgic học là một ngành học có mục đích xác định các quy tắc vận hành của tư duy để tìm kiếm sự thực.
(View: 885)
Trong quá trình hình thành và phát triển xã hội, con người luôn khát khao tìm cầu hạnh phúc, thỏa mãn nhu cầu về vật chấttinh thần.
(View: 884)
Tuệ là trí tuệ tức cái biết, thức là nhận thức cũng là cái biết. Cả hai đều là cái biết nhưng có đặc điểm khác nhau.
(View: 997)
Khái niệm Niết-bàn vốn thành hình cách đây hơn 2500 năm. Các học giả và các triết gia khác nhau
(View: 1176)
Ở trên là hai câu đầu trong bài kệ Lục Tổ Huệ Năng khai thị nhân bài kệ của thiền sư Ngọa Luân. Câu chuyện được thuật lại trong Pháp Bảo Đàn Kinh, phẩm Cơ Duyên thứ 7.
(View: 1314)
Chữ “Tăng đoàn” là một thuật ngữ tiếng Phạn, có nghĩa là “cộng đồng” và được sử dụng chủ yếu để chỉ những tín đồ đã xuất gia của Đức Phật,
(View: 1319)
Tóm tắt: Phật giáotôn giáo được biết đến như một hệ thống triết học mang đậm chất tư duy, trí tuệ cùng giá trị đạo đức cao.
(View: 1206)
Mỗi người hiểu về nghiệp theo mỗi kiểu khác nhau tùy vào nhận thức và trải nghiệm bản thân, nhưng phần lớn vẫn chịu ảnh hưởng của cách hiểu trong dân gian về khái niệm của từ này.
(View: 1088)
Từ ngàn xưa cho đến thời điểm xã hội phát triển mạnh mẽ về mọi mặt như hiện nay, mặc dù nền văn minh có bước tiến bộ vượt bậc
(View: 1082)
iáo lý Duyên khởi được xem như chiếc chìa khóa mở ra kho tàng pháp bảo Phật giáo, vì có thể giải quyết những vấn đề của khổ đau, cả sự sanh ra hay chết đi của con người.
(View: 1082)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh tập thứ 14. Kinh văn số 550 gồm 12 quyển. Chữ Hán từ trang 865 đến trang 894, gồm tất cả 29 trang.
(View: 1205)
Những nhu cầu của con người sinh học thì giản dị, khi đói chỉ mong được ăn, khi khát mong được uống, khi mệt mong được nằm,
(View: 1199)
Khi thân thể tiều tụy chỉ còn da bọc xương, những khổ thọ chết người đều đã trải qua,
(View: 1369)
Trong quá trình thuyết giáo của đức Phật, những lời dạy của Ngài không được lưu giữ dưới dạng văn bản chữ viết
(View: 1076)
Nhân ngày húy nhật của Hòa thượng Thích Trí Thủ, một trong những vị tông sư hoằng truyền luật học Phật giáo thời cận đại,
(View: 990)
Hành giả tu hành muốn mau đạt đến kết quả như mình mong muốn thì, điều kiện tiên quyết trước hết là chúng ta cần phải chọn lựa pháp môn nào cho thích hợp với căn cơ của mình
(View: 1122)
Trọng tâm của triết học Phật giáohọc thuyết nổi tiếng về tính không - rằng tất cả chúng sinhhiện tượng đều trống rỗng về bản chất hay bản chất cố hữu.
(View: 1260)
Vô phân biệt được nói đến nhiều lần trong Kinh Đại Bát Nhã Ba La Mật.
(View: 1119)
Theo lý Duyên Khởi của đạo Phật, tất cả vạn hữu vũ trụ được hình thành do yếu tố hòa hiệp của nhơn duyên và sẽ đi đến phân ly do duyên tan rã.
(View: 1081)
Cuộc chiến đấu mới–Sau khi Đức Phật nhập diệt, hình bóng của ngài vẫn hiện ra trong hàng thế kỷ trong một hang động–một hình bóng rất lớn
(View: 1239)
Như Nietzsche khuyên răn chúng ta hãy lại bắt đầu học làm mới bằng cách để ý đến những việc ‘tầm thường’ và sự vận hành của ‘thân’ để xác định
(View: 1228)
Tôi nghĩ là làm một việc có lý khi bác bỏ tuyên bố của Nietzsche rằng đạo Phật là một dạng của ‘thuyết hư vô thụ động,’ rằng đạo Phật truyền dạy
(View: 1213)
Đặt vấn đề có phải đạo Phật là một dạng của ‘Chủ thuyết hư vô thụ động’ có nghĩa là đặt vấn đề liệu summum bonum[1] của đạo Phật,
(View: 1238)
Dù có nhiều tác phẩm đa dạng về Phật học thích dụng ở Châu Âu thời kỳ trước Nietzsche,
(View: 1290)
Nhân ngày húy nhật của Hòa thượng Thích Trí Thủ, một trong những vị tông sư hoằng truyền luật học Phật giáo thời cận đại,
(View: 1294)
Hành giả tu hành muốn mau đạt đến kết quả như mình mong muốn thì, điều kiện tiên quyết trước hết là chúng ta cần phải chọn lựa pháp môn nào
(View: 1465)
Cửa vào bất nhị, còn gọi là pháp môn bất nhị, từ xa xưa đã được truyền dạy từ thời Đức Phật, chứ không phải là hậu tác của chư tổ Bắc Tông,
(View: 1371)
Tinh thần hòa hiệp là ý nghĩa sống lành mạnh an vui, tinh thần của một khối người biết tôn trọng ý niệm tự tồn, và xây dựng vươn cao trong ý chí hướng thượng.
(View: 2352)
Xuất xứ của Bát Chánh Đạo có hai nguồn là nguồn từ Phật chứng ngộ mà thuyết ra và nguồn được kết tập lại từ các kinh điển
(View: 1471)
Tam tam-muội là chỉ cho ba loại định, tức là ba loại pháp môn quán hành của Phật giáo, được xem như là nguyên lý thực tiễn của Thiền định.
(View: 1592)
Tôi kính lễ bái bậc Chánh giác, bậc tối thắng trong hết thảy các nhà thuyết pháp, đã thuyết giảng Duyên khởibất diệtbất sinh,
(View: 1303)
Thay vì tìm hiểu nguồn gốc tại sao phải chịu luân hồi sinh tử, con người không ngừng tìm kiếm căn nguyên của vũ trụ vạn vật, nơi mình sinh ra;
(View: 1648)
Khi Thái tử Tất-đạt-đa nhận thấy tất cả mọi người dân đang chìm trong đau khổ, và ngay chính bản thân mình rồi cũng phải chịu qui luật già, bệnh, chết
Quảng Cáo Bảo Trợ
Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Get a FREE Online Menu and Front Door: Stand Banner Menu Display for Your Restaurant