Logo HHAD 2018 250
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
14,868,682
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Tương Ưng Và An Trụ

06 Tháng Sáu 201704:50(Xem: 1239)
Tương Ưng Và An Trụ

TƯƠNG ƯNG VÀ AN TRỤ 

Nguyễn Thế Đăng


Tương Ưng Và An Trụ


Mặc mũ giáp là tu hành Ba Thân: Pháp thân tánh Không, Báo thân ánh sáng các pháp, và Hóa thân như huyễn. Tu hành là dùng Chỉ Quán để tương ưng và an trụ nơi chân lý ấy để “có thể thấy biết như chân lý:

Đây là người quán sát
Nơi các pháp ngôn giáo
Mà hay bình đẳng nói
Thường trụ tánh bình đẳng.
Đây là người quán sát
Nơi các pháp ngôn giáo
Như lý hay thấy biết
Bèn được khéo tương ưng…
Thuần một không trái cãi
Dứt tranh luận, tương ưng
Thành tựu tam muội ấy
Như lý mà an trụ.
Trong nghĩa lý các pháp
Như lý chuyên tu tập
Thấy được các cửa pháp
Đây là người thấy pháp
.

Tu hànhtương ưng và an trụ trong pháp tánh. Tương ưng là thấy biết đúng như lý, như chân lý. Để có thể “thấy Pháp” thì phải quán sát như lý, đúng theo chân lý tánh Không, ánh sáng, và như huyễn. Đây là ba phương diện, ba chiều kích của thực tại, cả mặt biểu lộ và không biểu lộ.

Quán tánh Không để tương ưng và an trụ trong Pháp thân tánh Không. Ở đây chỉ trích ra một ít đoạn về quán tánh Không.

“Bạch Thế Tôn! Con cũng chẳng thấy nhẫn đến có chút pháp nào ở trong, ở ngoài, ở trung gian mà có thể hướng đến được, thân cận được. Đã không có chút pháp nào để hướng đến được, thân cận được, thì ở trong ấy con an lập cái gì?

Bạch Thế Tôn! Con cũng chẳng thấy quá khứ hiện tại vị lai để làm chỗ an lập. Nếu chỗ an lập đã vô sở hữu, con có thể an lập ở chỗ nào?”.

Không thấy có chút pháp nào tức là thấy Vô tướng. Không thấy quá khứ hiện tại vị lai làm chỗ an lập tức là thấy Vô niệm. Đây là cái Tại đây, không có tướng, không có không gian nên mở khắp tất cả nơi chốn; là cái Bây giờ, không có tưởng niệm nên không có thời gian, trùm suốt ba thời.

“Các Đại Bồ-tát nơi nghĩa lý pháp mà an trụ. An trụ như vậy là an trụ nơi vô trụ, không có chỗ an trụ mà an trụ, thấy tất cả pháp không có chỗ phân biệt. An trụ nơi hạnh vô phân biệt như vậy, dùng hạnh như vậy thấy tất cả pháp không có chỗ động thì an trụ nơi lý Chân như, tương ưng với Chân như bất động, tương ưng với lý Chân như vốn không nắm giữ”.

Tâm không phân biệt thì thấy tất cả pháp không động, đó là an trụ Chân như hay tánh Không bất động.

Thấy các pháp vô sanh, đó là thấy tánh Không vô sanh. Và vô sanh cũng là vô niệm, tất cả pháp vốn không chỗ động: “Dùng ấn vô sanh ấn tất cả các pháp, nên các Đại Bồ-tát phải nhập vào ấn môn sanh chánh trí thấy vô sanh. Dùng ấn vô niệm ấn tất cả các pháp, nên các Đại Bồ-tát phải nhập vào ấn môn vô phân biệt chân thật bình đẳng”.

Tu hành như vậy trong từng niệm niệm, thì trong từng niệm niệm hành giả tương ưng và an trụ tánh Không.

Về ánh sáng các pháp, kinh nói như sau: “Này Vô Biên Huệ! Các Đại Bồ-tát ở nơi môn tất cả pháp vô chướng ngại, môn chẳng hòa hiệp, môn vượt khỏi mọi đoạn kiến thường kiến, môn bờ mé vô biên, vì xa lìa vậy, vì tịch diệt vậy, vì dừng dứt vậy, vì trong mát vậy. Các Đại Bồ-tát ở nơi ấn môn tất cả pháp ấy tùy học tùy nhập. Vì khéo tu hành các pháp môn ấy mà được tam muội hải ấn, ấn tất cả pháp. Các Đại Bồ-tát khéo tu hành, an trụ nơi tam muội hải ấn ấn tất cả pháp, quan sát tất cả pháp mà có thể phát sanh vô lượng vô biên ánh sáng đại pháp”.

Tam muội hải ấn ấn lên tất cả pháp khiến tất cả pháp tịch diệt, và khi tất cả pháp tịch diệt thì ánh sáng tất cả pháp hiển lộ. Nói cách khác, tam muội hải ấn, cũng tức là tâm, vừa là tánh Không tịch diệt, vừa là ánh sáng các pháp, mà người xưa gọi là Không-Minh vậy.

Bồ-tát vì đại bi mà sống trong sanh tử, trong thế gian khổ, vô thường, bất tịnh… xoay vần bởi nghiệp của chúng sanh, nhưng vì mặc mũ giáp thấy các pháp là như huyễn nên Bồ-tát không bị nhiễm ô bởi khổ đau, bởi nghiệp của chúng sanh. Thí như người mặc giáp đi vào chốn binh đao khói lửa để cứu người nhưng không bị tổn hại bởi gươm giáo; thí như người mặc bộ áo chống vi trùng thì vào nơi dịch bệnh mà không bị nhiễm bệnh. Không bị nhiễm ô bởi vì thế giới, chúng sanh, nghiệp của chúng sanh đều như huyễn. Nghiệp là hành động, tức sự chuyển động của thân, khẩu, tâm ý; Bồ-tát thì không bị nhiễm ô bởi nghiệp, vì Bồ-tát thấy các pháp đều không động, vì như huyễn:

Các uẩn không có thật
Tự tánh bổn lai Không
Tánh Không nên vô tướng
Tất cả không có khởi.
Các uẩn xa lìa tướng
Lìa tướng thì vô sanh
Không sanh thì không diệt
Tướng các uẩn như vậy.
Cõi dục, cõi vô sắc
Tất cả do duyên khởi
Tự tánh bổn lai Không
Vô tướng cũng vô thể…
Vì thấy pháp hư vọng
Gọi đó là chánh quán
Ánh sáng chẳng nghĩ bàn
Vô biênvô lượng.

Quán thấy các pháp như huyễn, đó là “phương tiện thiện xảo” của đại tríđại bi của Bồ-tát ở trong sanh tử. Tất cả các pháp, tất cả thế giới, chúng sanh đều như huyễn, đây là pháp giới bất động hay “pháp giới phương tiện thiện xảo” của Bồ-tát. Chính trong sanh tử nghiệp lực chuyển động của chúng sanh, Bồ-tát giải thoát vì thấy pháp giới bất động:

Thấy tất cả các pháp
nghĩa lý các pháp
Như hư không trong sạch
Như ảnh, bóng trong gương
Bình đẳng không dơ nhiễm
Pháp giới không có sanh
Không có mạng, có già
Không chết, không nổi chìm
Cũng không có ra khỏi.
Pháp giới chẳng nghĩ bàn
Không đến cũng không đi
Pháp giới chẳng phải uẩn
Chẳng phải giới và xứ
Cũng chẳng rời giới, xứ
Thật không có chỗ động
Pháp giới thường như như.

Bồ-tát đối với sanh tử, với chúng sanh không mệt mỏi, không oán trách, vì đại bi của Bồ-tát là đại bi của tánh Không, của ánh sáng các pháp không phân biệt. Với tánh Không, với ánh sáng các pháp không phân biệt, đại bi của Bồ-tát thấy chúng sanh và nghiệp của chúng sanh như huyễn, do đó cứu độ mà thấy người được cứu độ, hành động cứu độ và người đang cứu độnhư huyễn. Thế nên càng làm việc cứu độ thì càng thâm nhập Pháp thân tánh Không, càng giải thoát.

“Vì mỗi chúng sanh, mỗi mỗi tâm hành, mỗi mỗi lưu chuyển cùng tận bờ sanh tử, nên các Đại Bồ-tát cầm thuốc trí huệ, chẳng lìa bỏ mũ giáp, có thể kiên cố mặc đại mũ giáp, mặc vô lượng mũ giáp…, mặc mũ giáp biết không có chúng sanh, mặc mũ giáp biết tự tánh (như huyễn) của chúng sanh, mặc mũ giáp biết tất cả các pháp vô sở đắc, mặc mũ giáp biết tự tánh các pháp vô sở đắc”.

Trong cùng một thế giới, chúng sanh thì thấy đầy dẫy khổ đau, sanh già bệnh chết, nổi chìm biến động theo nghiệp và tiếp tục tạo nghiệp nổi chìm biến động, còn Bồ-tát thì mặc mũ giáp quán thấy Không, quán thấy ánh sáng vô phân biệt, quán thấy huyễn nên Bồ-tát thấy đó là pháp giới giải thoát “không có tướng khác, bình đẳng, thuần một”, “pháp giới bất động như như”.

Người thì bị các tướng ràng buộc, đó là sanh tử. Người không bị các tướng và danh tự ràng buộc, đây là tự do. Tự do ấy không chỉ ở nơi pháp giới, mà tự do ở nơi mỗi một pháp, tràn ngập nơi mỗi một pháp, vì tướng của mỗi một pháp là sự biểu lộ của tự do:

Ông xem tất cả pháp
Chảy vào trong pháp giới
Các pháp đồng pháp giới
Nghĩa lý đều bình đẳng.
Lại xem nơi pháp giới
Chảy vào trong các pháp
Pháp giới đồng các pháp
Nghĩa lý cũng bình đẳng.

Mặc giáp tánh Không như vậy bởi vì đại bi:

Chúng sanh khổ sanh tử
Bức ngặt chẳng an ổn
Tôi thường làm cứu hộ
Mặc giáp trụ vô biên.
Vô biên khổ sanh tử
Tôi khiến giải thoát được
Lưới ái kiến trói buộc
Tất cả đều sẽ đứt.
Với lưới phiền não này
Làm đứt được tất cả
Sức tinh tấn kiên cố
Dũng mãnh mà mặc giáp.

Nguyễn Thế Đăng
Văn Hóa Phật Giáo 01-06-2017
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 131)
Mục đích của Đạo Phật là diệt khổ và đem vui cho mọi loài, nhưng phải là người có trí mới biết được con đường đưa đến an lạc và hạnh phúc
(Xem: 92)
Người ta thường nói đạo Phật là đạo của từ bi và trí tuệ. Đối với nhiều người Phật tử, từ bi là quan trọng hơn cả, và nếu không có từ bi thì không có đạo Phật.
(Xem: 253)
Các nhà khảo cổ đang nghiên cứu tại Nepal đã phát hiện bằng chứng về một kiến trúc tại nơi sinh ra Đức Phật có niên đại thế kỷ thứ 6 trước công nguyên.
(Xem: 286)
Theo Đức Phật, tất cả những vật hiện hữu đều biến chuyển không ngừng. Sự biến chuyển này thì vô thuỷ vô chung. Nguồn gốc của vũ trụ không do một Đấng Sáng tạo (Creator God) tạo ra.
(Xem: 302)
Đức Phật đản sanh vào năm 624 trước Công nguyên. Theo lý giải của Phật Giáo Nam Tông thì Đức Phật sanh ngày Rằm tháng Tư Âm lịch.
(Xem: 312)
Nếu bạn say mê đọc kinh Phật, ưa thích những phân tích kỹ càng về giáo điển, muốn tìm hiểu các chuyện xảy ra thời Đức Phật đi giảng dạy nơi này và nơi kia, hiển nhiên đây là một tác giả bạn không thể bỏ qua
(Xem: 206)
Tánh Không là một trong những khái niệm quan trọng và khó thấu triệt nhất trong giáo lý Phật giáo Đại thừa.
(Xem: 363)
Nguyên bản: Meditating while dying; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 434)
Ba Mươi Hai Cách ứng hiện của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát. Bởi vì Quan Thế Âm Bồ Tát đồng một Sức Từ với đức Phật Như Lai cho nên ngài ứng hiện ra 32 thân, vào các quốc độđộ thoát chúng sanh
(Xem: 340)
Thể tánh của tâm là pháp giới thể tánh, bởi vì nếu không như vậy thì tâm không bao giờ có thể hiểu biết, chứng ngộ pháp giới thể tánh.
(Xem: 272)
Trong kinh tạng Nikāya, khái niệm con đường độc nhất (ekāyana magga) là một khái niệm thu hút nhiều sự quan tâm của học giới từ phương Tây cho đến phương Đông
(Xem: 243)
Thuật ngữ pháp (dharma, có căn động tự là dhṛ có nghĩa là “duy trì, nắm giữ”; Pāli: dhamma; Tây Tạng: chos) mang nhiều ý nghĩa và ...
(Xem: 300)
Trì danh là pháp tu Tịnh Độ phổ thông nhứt hiện nay. Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm, có Mười cách trì danh khác nhau
(Xem: 295)
Phật dạy tất cả pháp hữu vi đều là vô thường sanh diệt không bền vững, như vậy thìthế gian cái gì có tạo tác có biến đổi đều là vô bền chắc.
(Xem: 390)
Nguyên bản: Removing obstacles to a favorable death; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 332)
Mối liên hệ giữa hình thức sớm nhất của Phật giáo và những truyền thống khác mà chúng đã phát triển về sau là một vấn đề luôn tái diễn trong lịch sử tư tưởngPhật giáo.
(Xem: 451)
Nghiệp và Luân hồi là hai ý niệm đã có trong Ấn độ giáo, được giảng giải trong các Kinh Veda và Upanishad vào khoảng 1500 năm trước CN.
(Xem: 8816)
Nếu tính từ thời điểm vua Lương Vũ Đế tổ chức trai hội Vu lan ở chùa Đồng Thái vào năm Đại Đồng thứ tư (538), thì lễ hội Vu lan của Phật giáo Bắc truyền đã có lịch sử hình thành gần 1.500 năm.
(Xem: 863)
Mục tiêu cao cả của đạo Phật là dạy con người tu tập để thoát khổ, giác ngộgiải thoát.
(Xem: 331)
Phật giáo du nhập Nhật Bản vào thế kỷ thứ VI, sau đó trải qua thời kì Nara (710~785), thời kì Heian (794~1192) cho đến thời kì Kamakura (1192~1380), trước sau khoảng 700 năm, rồi phát sinh rất nhiều tông phái.
(Xem: 367)
Tổ Quy Sơn dặn: “Nói ra lời nào phải liên hệ với kinh điển. Đàm luận gì, phải xét lại lời người xưa”.
(Xem: 324)
Nhiều học giả phân vân là làm thế nào và tại sao những nhà Đại chúng bộ (Mahāsāṅghika) đã hình thành nên khái niệm về một Đức Phật siêu việt...
(Xem: 504)
Hoa Sen Diệu Phápgiáo pháp được thuyết giảng trong Kinh Pháp Hoa. Quang Trạch giải thích Diệu Pháp là nhân của đạo Nhất Thừa, là quả của đạo Nhất Thừa.
(Xem: 290)
Con người sống qui tụ lại thành một xã hội, và phát triển tập thể này rộng lớn dần dần thành một quốc gia.
(Xem: 1439)
Trước khi xác định Phật Giáo như là một hệ thống tư tưởng triết học (Buddhism as a philosophy) hay như là một tôn giáo (Buddhism as a religion), chúng ta sẽ tìm hiểu triết học là gì ? và Phật giáo là gì ?
(Xem: 419)
Lục độ Ba-la-mật-đa/ Sáu phương pháp tu Ba-la-mật-đa (Six Paramitas) là 6 pháp tu để giải trừ các khổ ách của Đại thừa Phật giáo.
(Xem: 394)
Theo quan điểm của Đại hoàn thiện thì ánh sáng trong suốt hiển hiện một cách tự nhiên và được gọi là "hoàn-toàn-tốt"
(Xem: 572)
Đức Phật ra đời vào năm 624 trước tây lịch tại nước Ấn Độ. Ngài thuyết pháp 49 năm. Phật giáo đã trở thành quốc giáo, vì các vua, các quan và dân chúng đa phần đều theo đạo Phật.
(Xem: 577)
Y Kinh Kinh Cang Bát Nhã Ba La Mật: Đức Thế Tôn Như Lai hỏi ngài Tu Bồ Đề: Như Lainhục nhãn không? Ngài Tu Bồ Đề thưa:
(Xem: 1427)
Cuốn sách “Luân Hồi trong Lăng Kính Lăng Nghiêm” được ra mắt cách đây 9 năm (2008), in lần thứ hai, ba và tư vào năm 2012, 2014 & 2016 tại Nhà xuất bản Phương Đông, và năm nay (2018) cũng tại NXB Hồng Đức
(Xem: 849)
điều chắc chắn là làm người, ai cũng có ý thức về tội lỗi. Điều này là không đúng, điều này là không tốt, điều này là không đẹp.
(Xem: 534)
Tựa đề của khảo luận này phát xuất từ tồn nghi của một pháp hữu trong khi dịch lại bản kinh Tập (Sutta Nipāta) ở văn hệ Nikāya.
(Xem: 960)
Khái niệm ‘nghiệp’, thật ra, đã có mặt trong văn học Bà-la-môn giáo từ rất lâu trước khi Đức Phật xuất hiện ở đời.
(Xem: 508)
Vũ trụ, con người hình thành như thế nào và tương lai sẽ ra sao? Câu hỏi chưa bao giờ được xếp lại. Khoa học lượng tử luôn tiên phong...
(Xem: 484)
rong lịch sử tư tưởng Ấn-độ, thuyết Trung đạo đã mang lại cho tư tưởng giới đương thời một không khí hoạt bát[1].
(Xem: 650)
Bản chất của ánh sáng trong suốt, mang tính cách nền tảng và rạng ngời, là cội nguồn tối hậu của tất cả mọi cấp bậc tri thức...
(Xem: 743)
Chánh Pháp là gì? Phật Pháp được chia thành ba thời kỳthời Chánh Pháp, thời Tượng Pháp, và thời Mạt Pháp.
(Xem: 1154)
Ông trị vì từ năm 269 TCN đến năm 232 TCN thuộc đời thứ 3 của triều đại Maurya. Đế chế của ông rộng lớn gần như tất cả tiểu lục địa Ấn Độ trãi dài từ Đông sang Tây.
(Xem: 827)
Trong Kinh Kim Cang, Phật dạy có 4 tướng: “Ngã – Nhân – Chúng Sanh – Thọ Giả”. Khi còn phàm phu, chấp thân này là thật là bền vững,
(Xem: 835)
Đạo Phật đang phát triển rộng rãi đến nhiều tầng lớp. Rất nhiều các bậc tri thức, các nhà khoa học chân chính, đến cả những người ...
(Xem: 1554)
Kiếp sống của mỗi con người sinh ra ở thế giới Ta Bà này, dù thọ mạngdài hay ngắn, nhìn chung có thể phân chia làm nhiều giai đoạn.
(Xem: 989)
Kể từ thời điểm Phật giáo khai sinh và nở hoa khắp mọi miềnthế giới, hễ mỗi khi nói đến hình ảnh một vị Phật xuất hiện trong tương lai,
(Xem: 709)
Phép luyện tập thiền định được hỗ trợ bởi sự thực thi các hành động vị tha, các hành động đó đồng thời cũng được thúc đẩy bởi tình thương yêu và lòng từ bi.
(Xem: 605)
Nếu đủ sức duy trì một cách đúng đắn sự nhận biết tâm thức thần bí nhất thì kết quả mang lại từ phép luyện tập đó sẽ trợ lực các bạn rất nhiều
(Xem: 773)
Thời-không vũ trụ chứa hàng triệu, tỉ, hàng ức cho đến không máy móc nào đếm hằng hà sa số hành tinh như trái đất mới biết con ngườimột sinh thể gần như bằng không.
(Xem: 929)
Trong các bài kinh thuộc hệ A Hàm hay kinh Đại Bát Niết Bàn v.v… Phật có nói đến địa ngục. Đề Bà Đạt Đa, Tì kheo Thiện Tinh, vua Lưu Ly v.v… đều đọa vào địa ngục ngay khi chết.
(Xem: 705)
Xét về niên đại, bản kinh có mặt ở thời Hậu Hán (23-220), xuất hiện trong Cao Tăng Truyện quahành trạng của ngài Nhiếp-ma-đằng (攝摩騰)[2].
(Xem: 659)
Thể dạng lắng sâu thường xuyên bên trong tâm thức thần bí nhất chỉ có thể thực hiện được với những người có một khả năng thật bén nhạy.
(Xem: 1392)
Bài viết này sẽ khảo sát một số thắc mắc thường gặp về Thiền Tông, hy vọng sẽ tiện dụng cho một số độc giả còn nhiều nghi vấn.
(Xem: 977)
Thức Thứ Tám hay A Lại Ya là thức chủ trong 8 thức. Thức nầy có nhiều cách gọi khác nhau để chỉ về nhiệm vụ của mình. Tựu chung thức nầy có 3 việc chính là: Năng tàng, Sở tàng và Ngã ái chấp tàng.
(Xem: 1060)
Khi còn vướng mắc trong sự tạo tác triền miên của khái niệm, chẳng hạn như suy nghĩ về cái đúng, cái sai, v.v. , thì các bạn sẽ không thể nào bước vào con đường tu tập về
(Xem: 961)
Học phái dịch thuật xưa của Phật giáo Tây Tạng đưa ra nhiều cách luyện tập dựa vào các phương pháp khác biệt nhau, gọi là các "cỗ xe"/thừa.
(Xem: 1901)
Thần tài trong Phật giáo, cụ thểPhật giáo Bắc truyền đã vay mượn giữa hình ảnh Bố Đại hòa thượng và các truyền thuyết về thần tài Trung Hoa, để tổng hòa nên một vị thần tài có nguồn gốc ngoài Phật giáo.
(Xem: 1420)
Thời Đức Phật tại thế, Ấn Độít nhất mười sáu tiểu vương quốc, mỗi vương quốc đều có ngôn ngữ hay phương ngữ riêng, nhưng có lẽ người dân của mỗi nước đều có thể giao tiếp và hiểu nhau được.
(Xem: 985)
Trong các kinh sách thừa hưởng từ [Phật giáo] Ấn Độ thì nguyên tắc căn bản đó lúc thì được gọi là "tâm thức tự tại
(Xem: 1590)
Kinh Hoa Nghiêm tiếng Sanskrit là Avatamsaka, tiếng Nhật là Kégon Kyo. Kinh nầy bằng tiếng Sanskrit do Bồ Tát Long Tho (Nagarjuna) soạn vào khoảng thế kỷ thứ 2 Tây Lịch.
(Xem: 1027)
Con người muốn có cuộc sống an lạchạnh phúc, cần phải tu nhơn tạo phước, chứ không phải chỉ cầu nguyện...
(Xem: 1008)
Phát huy sự chú tâm đúng đắn hướng vào một điểm nhằm mục đích gì? Việc luyện tập đó không nhất thiết là chỉ để giúp tâm thức đạt được một mức độ tập trung thật cao...
(Xem: 1390)
Đức Đạt Lai Lạt Ma Nói Về Phật Giáo Ứng Dụng - Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma, Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
Quảng Cáo Bảo Trợ