Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới

03. Bombay, 7 tháng ba 1948

11 Tháng Bảy 201100:00(Xem: 6456)
03. Bombay, 7 tháng ba 1948

KRISHNAMURTI
BÀN VỀ XUNG ĐỘT [ON CONFLICT]
Lời dịch: ÔNG KHÔNG – 2009

Bombay, 7 tháng ba 1948

Người hỏi: Ông khuyên chúng tôi nên làm gì nếu chiến tranh bùng nổ?

Krishnamurti: Thay vì tìm kiếm lời khuyên, tôi xin phép đề nghị chúng ta cùng nhau tìm hiểu vấn đề? Bởi vì lời khuyên dễ dàng lắm, nhưng nó không giải quyết vấn đề. Nếu chúng ta cùng nhau tìm hiểu vấn đề, vậy thì có lẽ chúng ta sẽ có thể hiểu rõ làm thế nào để hành động khi một chiến tranh bùng nổ. Nó phải là hành động trực tiếp, không phải hành động được đặt nền tảng trên lời khuyên của uy quyền hay một người khác, mà sẽ là quá xuẩn ngốc trong một khoảnh khắc của khủng hoảng. Trong những khoảnh khắc của khủng hoảng, tuân theo một người khác dẫn đến sự hủy diệt riêng của chúng ta. Rốt cuộc, trong những thời điểm khủng hoảng như chiến tranh, bạn bị dẫn đến sự hủy diệt; nhưng nếu bạn biết tất cả những hàm ý của nó, thấy hành động của nó, nó hiện diện như thế nào, khi khủng hoảng thực sự xảy ra, không cần tìm kiếm lời khuyên hay tuân theo người nào đó, bạn sẽ hành động trực tiếp và đúng đắn. Điều này không có nghĩa rằng tôi đang cố gắng lẩn tránh vấn đề bằng cách không trả lời trực tiếp câu hỏi của bạn. Tôi không đang lẩn tránh nó. Trái lại, tôi đang chỉ rõ rằng chúng ta có thể hành động một cách đạo đức – mà không là “một cách chính đáng” – khi thảm họa kinh hoàng này ập xuống nhân loại.

Bây giờ, bạn sẽ làm gì nếu có một chiến tranh? Là một người Hindu, hay một người Ấn độ, hay một người Đức, là người yêu quốc gia, yêu tổ quốc, theo tự nhiên bạn sẽ chộp lấy vũ khí, phải không? Bởi vì, qua tuyên truyền, qua những hình ảnh kinh hoàng, và mọi chuyện như thế, bạn sẽ bị kích thích, và bạn sẽ sẵn sàng chiến đấu. Bị quy định bởi chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa quốc gia, những biên giới thuộc kinh tế, bởi tạm gọi là tình yêu tổ quốc, sự đáp lại tức khắc của bạn sẽ là chiến đấu. Thế là bạn sẽ không có vấn đề, phải không? Bạn có một vấn đề chỉ khi nào bạn bắt đầu nghi ngờ những nguyên nhân của chiến tranh – mà không chỉ do bởi kinh tế nhưng còn nhiều hơn nữa do bởi tâm lýhọc thuyết

Nhưng khi bạn bắt đầu nghi ngờ toàn tiến hành của chiến tranh, làm thế nào chiến tranh xảy ra, lúc đó bạn phải chịu trách nhiệm trực tiếp cho những hành động của bạn. Bởi vì chiến tranh xảy ra chỉ khi nào bạn, trong liên hệ với một người khác, tạo ra xung đột. Rốt cuộc chiến tranh là một chiếu rọi thuộc sống hàng ngày của bạn – chỉ thu hút sự chú ý của mọi người nhiều hơn và hủy diệt nhiều hơn. Trong sống hàng ngày chúng ta đang giết chóc, đang hủy diệt, đang tàn sát hàng ngàn người qua sự tham lam của chúng ta, qua chủ nghĩa quốc gia của chúng ta, qua những ranh giới kinh tế của chúng ta, và vân vân. Vậy là chiến tranh là sự tiếp tục thuộc sự tồn tại hàng ngày của bạn được thực hiện để thu hút sự chú ý của mọi người nhiều hơn; và khoảnh khắc bạn trực tiếp nghi ngờ nguyên nhân của chiến tranh, bạn đang nghi ngờ sự liên hệ của bạn với một người khác, mà có nghĩa bạn đang nghi ngờ toàn sự tồn tại của bạn, toàn lối sống của bạn.

Nếu bạn tìm hiểu đầy thông minh, không hời hợt, khi chiến tranh xảy ra, bạn sẽ phản ứng tùy theo sự tìm hiểuhiểu rõ của bạn. Một con người hòa bình – không phải vì một lý tưởng của không-bạo lực, nhưng thực sự được tự do khỏi bạo lực – với người ấy chiến tranh không có ý nghĩa gì cả. Chắc chắn anh ấy sẽ không tham gia vào nó; anh ấy có lẽ bị bắn chết vì không tham gia vào nó, nhưng anh ấy chấp nhận những hậu quả. Ít ra anh ấy sẽ không tham gia vào xung đột – nhưng không phải từ chủ nghĩa lý tưởng. Người lý tưởng là người lẩn tránh hành động tức khắc. Người lý tưởng đang tìm kiếm không-bạo lực không thể được tự do khỏi bạo lực; bởi vì, khi toàn cuộc sống của chúng ta được đặt nền tảng trên xung đột và bạo lực, nếu chính tôi không hiểu rõ ngay lúc này, ngày hôm nay, làm thế nào tôi có thể hành động đúng thực vào ngày mai khi có một thảm họa? Đang bị tích lũy, đang bị quy định bởi chủ nghĩa quốc gia, bởi giai cấp của tôi – bạn biết toàn tiến hành – làm thế nào tôi, bị quy định bởi tham lam và bạo lực, có thể hành động không-tham lam và không-bạo lực khi có một thảm họa? Theo tự nhiên tôi sẽ bạo lực. Cũng vậy, khi có một chiến tranh, nhiều người thích những hào phóng của chiến tranh: chính phủ sẽ chăm sóc tôi, nuôi ăn gia đình tôi; và nó là một cắt đứt khỏi sự thường lệ hàng ngày của tôi, khỏi văn phòng, khỏi những sự việc buồn tẻ của sống. Vì vậy chiến tranh là một tẩu thoát, và đối với nhiều người nó cống hiến một phương cách dễ dàng để lẩn tránh trách nhiệm. Bạn đã nghe nhiều người lính nói gì chưa? “Cám ơn Thượng đế. Nó là một công việc kinh doanh tởm lợm, nhưng ít ra nó cũng là cái gì đó gây hứng thú”. Cũng vậy chiến tranh trao tặng một lối thoát cho những bản năng vô đạo đức của chúng ta. Chúng ta vô đạo đức trong sống hàng ngày của chúng ta, trong thế giới kinh doanh của chúng ta, trong những liên hệ của chúng ta, nhưng tất cả nó đều ngấm ngầm, được giấu giếm rất cẩn thận, được che đậy bởi một cái mền chân chính, một chấp nhận hợp luật; và chiến tranh trao tặng chúng ta một lối thoát khỏi sự đạo đức giả đó – cuối cùng chúng ta có thể bạo lực rồi.

Vậy là bạn sẽ hành động như thế nào trong thời gian có chiến tranh tùy thuộc vào bạn, vào điều kiện, trạng thái của toàn thân tâm bạn. Để nói, “Bạn không được tham gia vào chiến tranh” cho một con người bị quy định vào bạo lực là một điều hoàn toàn vô ích. Nó là một lãng phí thời gian khi bảo anh ấy không được đánh nhau, bởi vì anh ấy bị quy định để đánh nhau, anh ấy thương yêu đánh nhau. Nhưng cho những người của chúng ta mà có ý định nghiêm túc có thể tìm hiểu sống riêng của chúng ta; chúng ta có thể thấy mức độ nào chúng ta có bạo lực trong sống hàng ngày, trong câu nói của chúng ta, trong những suy nghĩ của chúng ta, trong những hành động của chúng ta, trong những cảm giác của chúng ta, và chúng ta có thể được tự do khỏi bạo lực đó, không phải bởi vì một lý tưởng, không phải bởi vì cố gắng thay đổi nó thành không-bạo lực, nhưng bằng cách thực sự đối diện nó, bằng cách chỉ tỉnh thức được nó; vậy là, khi chiến tranh xảy ra, chúng ta sẽ có thể hành động đúng đắn. Một con người đang tìm kiếm một lý tưởng sẽ hành động giả dối, bởi vì phản ứng của anh ấy sẽ bị đặt nền tảng trên sự tuyệt vọng. Trái lại nếu chúng ta có thể tỉnh thức được những suy nghĩ, những cảm thấy, những hành động riêng trong sống hàng ngày của chúng ta – không chỉ trích chúng nhưng chỉ tỉnh thức được chúng – vậy là chúng ta sẽ làm tự do chính chúng ta khỏi chủ nghĩa ái quốc, khỏi chủ nghĩa quốc gia, khỏi vẫy vẫy lá cờ, và tất cả sự dại dột đó, mà chính là những biểu tượng của bạo lực; và khi chúng ta được tự do, vậy là chúng ta sẽ biết hành động đúng đắn như thế nào khi khủng hoảng được gọi là chiến tranh đó xảy ra.

Người hỏi: Liệu một người ghê tởm chiến tranh có thể tham gia vào chính phủ của một quốc gia?

Krishnamurti: Bây giờ, chính phủ là gì? Rốt cuộc, nó là, nó đại diện, điều gì chúng ta là. Trong những quốc gia tạm gọi là dân chủ, dù điều đó có nghĩa gì, chúng ta tuyển chọn để đại diện cho chúng ta những người giống như chúng ta, những người chúng ta thích, những người có giọng nói to nhất, có đầu óc khôn ngoan nhất, hay bất kỳ nó là gì. Vì vậy chính phủ là điều gì chúng ta là, phải không? Và chúng ta là gì? Chúng ta là một đống của những phản ứng bị quy định – bạo lực, tham lam, thâu lợi, ganh ghét, ham muốn quyền hành, và vân vân. Vì vậy theo tự nhiên chính phủ là điều gì chúng ta là, mà là bạo lực trong những hình thức khác nhau; và làm thế nào một người thực sự không có bạo lực trong thân tâm của anh ấy có thể lệ thuộc, hoặc trong danh tính hoặc trong sự kiện, đến một cấu trúc mà là bạo lực? Sự thật có thể đồng tồn tại cùng bạo lực, mà là điều gì chúng ta gọi là chính phủ, hay sao? Một con người đang tìm kiếm hay đang trải nghiệm sự thật có thể có bất kỳ điều gì phải làm với những chính phủ cầm quyền, với chủ nghĩa quốc gia, một học thuyết, chính trị đảng phái, một cơ cấu quyền lực, hay sao? Một con người hòa bình nghĩ rằng bằng cách tham gia vào chính phủ anh ấy sẽ có thể làm điều gì đó tốt lành. Nhưng việc gì xảy ra khi anh ấy tham gia vào chính phủ? Cấu trúc quá uy quyền đến độ anh ấy bị nuốt chửng bởi nó, và anh ấy chẳng có thể làm gì cả. Thưa bạn, đây là một sự thật; nó thực sự đang xảy ra trong thế giới. Khi bạn tham gia vào một đảng phái hay đại diện cho cuộc bầu cử vào nghị viện, bạn phải chấp nhận những điều khoản của đảng phái. Vậy là bạn không còn suy nghĩ. Và làm thế nào một con người đã dâng hiến mình đến một điều gì khác – dù đến một đảng phái, một chính phủ, hay một đạo sư – làm thế nào anh ấy có thể tìm được sự thật? Và làm thế nào anh ấy mà đang tìm kiếm sự thật có thể có bất kỳ liên quan gì đến chính trị quyền lực?

Bạn thấy, chúng ta đặt ra những câu hỏi này bởi vì chúng ta thích lệ thuộc vào uy quyền bên ngoài, vào môi trường sống, cho sự thay đổi của chính chúng ta. Chúng ta hy vọng những người lãnh đạo, những chính phủ, những đảng phái, những cơ cấu, những khuôn mẫu của hành động trong chừng mực nào đó sẽ thay đổi chúng ta, tạo ra trật tự và hòa bình trong sống của chúng ta. Chắc chắn đó là nền tảng của những câu hỏi này, phải không? Liệu một điều gì khác, một chính phủ hay một đạo sư hay một quỷ quyệt, có thể trao tặng hòa bình và trật tự cho bạn? Liệu một điều gì khác có thể mang lại hạnh phúc và tình yêu cho bạn? Chắc chắn không. Hòa bình có thể hiện diện chỉ khi nào sự hỗn loạnchúng ta đã tạo ra có thể được hiểu rõ hoàn toàn, không phải trên mức độ từ ngữ nhưng bên trong; khi những nguyên nhân của hỗn loạn, của xung đột, được tháo gỡ, chắc chắn có hòa bình và tự do. Nhưng nếu không tháo gỡ những nguyên nhân, chúng ta hướng về uy quyền bên ngoài nào đó để mang lại hòa bình cho chúng ta, và phía bên ngoài luôn luôn bị áp đảo bởi phía bên trong. Chừng nào sự xung đột tâm lý còn tồn tại, cùng sự tìm kiếm quyền hành, vị trí, và vân vân, dù cấu trúc bên ngoài có lẽ được thiết lập vững chắc đến chừng nào, tốt đẹptrật tự đến chừng nào, sự hỗn loạn bên trong luôn luôn thắng thế nó. Vậy là, chắc chắn, chúng ta phải tập trung vào bên trong, và không chỉ hướng ra phía bên ngoài.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 12834)
Phật dạy: Người đời có sáu điều ác tự lừa gạt và tự gây tổn hại: Mắt bị hình sắc lừa gạt, tai bị âm thanh lừa gạt , mũi bị mùi thơm lừa gạt, ý bị tư tưởng tà vạy lừa gạt.
(Xem: 12762)
Do lìa chấp, nên gồm thâu tất cả pháp, trụ nơi tri kiến bình đẳng, tức tri kiến chân thật.
(Xem: 11803)
Tâm bình đẳng như vắng lặng thì tâm ấy vui vẻ, nhu nhuyến tự nó gắn liền với lời dạy của Phật.
(Xem: 11787)
Trí tuệ kia không chỗ nào không khắp tỏ ngộ, là chỗ coi trọng của tất cả, bởi thế mà không cho đó là sự nhọc nhằn, khổ sở.
(Xem: 12404)
Kinh chỉ dạy cho ta đường lối phá vỡ và siêu việt những ý niệm ràng buộc ta trong vô minh, sanh tử và khổ đau,
(Xem: 12454)
Yếu chỉ của Kinh này là dùng nghĩa Duy Thức để phá kiến chấp của ngoại đạo.
(Xem: 19903)
Đặc điểm kinh này nói về thiên và thần là giữa họ với nhân loại có sự tương quan. Ấy là nhân loại sống theo chánh pháp thì họ được nhờ và họ hộ vệ.
(Xem: 12047)
Bài kinh ngắn này được trích từ một trong những tuyển tập kinh xưa cổ nhất của Đại thừa Phật giáo, kinh Đại Bảo Tích (Ratnakuta), nói về ý nghĩa tánh Không.
(Xem: 12072)
Đạo lý căn bản trong Phật-Học, nếu không tín giải đạo lý luân hồi nầy, ắt có thể gặp nhiều chướng ngại khó hiểu ...
(Xem: 16949)
Giải thâm mậtbộ kinh được đại luận Du dà, các cuốn 75-78, trích dẫn toàn văn, trừ phẩm một (Chính 30/713-736).
(Xem: 12733)
Bồ Tát khi tu pháp Bố-thí, không nên trụ chấp các tướng; nghĩa là không nên trụ chấp tướng sáu trần...
(Xem: 15150)
Chúng sanh căn cơ, tâm bịnh, sở thích vô cùng. Giáo môn của Phật, Bồ Tát cũng chia ra vô lượng.
(Xem: 16205)
Cuối lạy đấng Tam Giới Tôn, quy mạng cùng mười phương Phật, con nay phát nguyện rộng, thọ trì Kinh Di Đà.
(Xem: 12958)
Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhơn nào tu học theo pháp hồi hướng này thì nên biết rằng người ấy chắc chắn đạt được Vô sanh Pháp nhẫn, có thể độ tất cả chúng sanh chưa được độ, đem lại cho vô lượng chúng sanh sự an lạc.
(Xem: 12312)
Người đời thường nghiêng về hai khuynh hướng nhận thức, một là có, hai là không. Đây là hai quan niệm vướng mắc vào cái tri giác sai lầm.
(Xem: 11973)
Kinh Phật Thuyết Đại Bát Nê Hoàn trong bộ Niết Bàn là một bộ kinh tiêu biểu của Phật giáo Bắc truyền do Đại sư Pháp Hiển (380-418/423), thời Đông Tấn dịch.
(Xem: 11978)
Trong các pháp ấy, không có chứng đắc, không pháp sở-dụng, không có bồ-đề. Thông đạt như thế, mới được gọi là chứng đắc đạo-quả vô thượng chính-đẳng chính-giác.
(Xem: 13225)
Pháp-Ấn này là cửa ngõ của ba pháp giải thoát, là căn bản của chư Phật, là con mắt của chư Phật, là nơi chư Phật đạt đến.
(Xem: 16570)
Phật bảo các vị tỳ kheo rằng ở trong thế gian có ba pháp không đáng mến, không thông suốt, không đáng nghĩ đến, không vừa ý. Ba pháp đó là gì?
(Xem: 13295)
Đây chính là lời của tất cả Phật thời quá-khứ đã giảng, tất cả Phật thời vị-lai sẽ giảng và tất cả Phật thời hiện-tại đương giảng.
(Xem: 12574)
Đây là những điều mà tôi được nghe hồi Phật còn cư trú tại tu viện Cấp Cô Độc, trong vườn cây Kỳ-đà, gần thành Xá Vệ.
(Xem: 11909)
Tạo hình tượng Phật hoặc hình tượng Bồ Tát, là việc làm có một ý nghĩa cao quý và gây một cái nhơn công đức, phước đức lớn lao.
(Xem: 19925)
Ngài Quán Tự tại Bồ Tát, sau khi đi sâu vào Trí huệ Bát Nhã rồi, Ngài thấy năm uẩn đều "không" (Bát Nhã) nên không còn các khổ.
(Xem: 11231)
Quốc độ của đức Phật đó đẹp đẽ thanh tịnh, ngang dọc bằng thẳng trăm ngàn du- thiện-na, đất bằng vàng cõi Thiệm Bộ.
(Xem: 11323)
Phật nói hết thảy chúng sinh, ở trong bể khổ, vì nhân nghĩ càn, gây duyên lăn-lộn …
(Xem: 10460)
Nếu có chúng sanh nghe được Vô Lượng Thọ Trí Quyết Định Vương Như Lai 108 Danh Hiệu tức được thọ mạng dài lâu.
(Xem: 11155)
Này các Tỳ-khưu, Ta không tranh luận với đời, chỉ có đời tranh luận với Ta.
(Xem: 11026)
Người có trí gấp làm việc thiện, tránh ác gian như tránh vực sâu. Việc lành, lần lữa, không mau, tâm tà dành chỗ, khổ đau tới liền.
(Xem: 10077)
Thế nào là Tỳ-khưu giới hạnh cụ túc? Ở đây, Tỳ-khưu từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót...
(Xem: 11805)
Các pháp, tư tác dẫn đầu, tư tác, chủ ý bắc cầu đưa duyên, nói, làm lành tốt, thiện hiền, như hình dọi bóng, vui liền theo sau.
(Xem: 11691)
Bài kinh không những chỉ dành riêng cho người cao tuổi mà cho tất cả những ai muốn tu tập, nhằm mang lại cho mình một tâm thức an bìnhtrong sáng.
(Xem: 12017)
Bài kinh được xem là tinh hoa tâm linh của người xuất gia, như ngón tay chỉ mặt trăng và như chiếc bè đưa sang bờ giải thoát.
(Xem: 11158)
Quá khứ không truy tìm Tương lai không ước vọng. Quá khứ đã đoạn tận, Tương lai lại chưa đến...
(Xem: 11398)
Trong bài kinh nầy, Đức Phật giảng về đời sống tốt đẹp cần phải có của một cư sĩ Phật tử.
(Xem: 12120)
Kinh này được dịch từ Tương Ưng Bộ của tạng Pali (Samyutta Nikàya IV, 380). Kinh tương đương trong tạng Hán là kinh số 106 của bộ Tạp A Hàm.
(Xem: 12604)
Đây là một bài kinh rất phổ thông tại các quốc gia Phật giáo Nam truyền và thường được chư Tăng tụng và thuyết giảng trong các dịp lễ.
(Xem: 10827)
Trong bản kinh này Đức Phật thuyết giảng về bản chất vô thường và vô thực thể của năm thứ cấu hợp gọi là ngũ uẩn tạo ra một cá thể con người.
(Xem: 18048)
"Chiếc bè này lợi ích nhiều cho ta, nhờ chiếc bè này, ta tinh tấn dùng tay chân để vượt qua bờ bên kia một cách an toàn"
(Xem: 11764)
Tánh không không nhất thiết chỉ là một luận thuyết đơn thuần triết học mà còn mang tính cách vô cùng thực dụngthiết thực, ứng dụng trực tiếp vào sự tu tập nhằm mang lại sự giải thoát.
(Xem: 10000)
Của cải kếch xù của một người như thế nếu không biết sử dụng thích đáng thì cũng sẽ bị vua chúa tịch thu, bị trộm cắp vơ vét, bị thiêu hủy vì hỏa hoạn...
(Xem: 11284)
Kinh Đại Bát Niết Bàn (Maha-parinirvana-sutra), cũng được gọi tắt là Kinh Đại Niết Bàn, hoặc ngắn hơn là Kinh Niết Bàn
(Xem: 13241)
Hội Phật Học Nam Việt - Chùa Xá Lợi Saigon Xuất Bản 1964, Trung Tâm Văn Hóa Phật Giáo Việt Nam-Hoa Kỳ Chùa Huệ Quang Tái Xuất Bản
(Xem: 16636)
Nghĩa lý kinh Kim cương là ngoài tầm nghĩ bàn, phước đức kinh Kim cương cũng siêu việt như vậy.
(Xem: 11920)
Bài kinh được bắt đầu bằng những điều ta cần làm để được bình an. Không phải là những điều ta cần làm cho tha nhân.
(Xem: 10982)
Pháp ấn này chính là ba cánh cửa đi vào giải thoát, là giáo lý căn bản của chư Phật, là con mắt của chư Phật, là chỗ đi về của chư Phật.
(Xem: 11914)
Hán dịch: Thiên Trúc Tam Tạng Pháp Sư Bồ Đề Lưu Chi - Đời Nguyên Ngụy, Việt dịch: Tuệ Khai cư sĩ - Phan Rang - Chứng nghĩa: Tỳ Kheo Thích Đỗng Minh
(Xem: 28871)
Kinh Quán Thế Âm bồ tát cứu khổ nằm trong Vạn tự chánh tục tạng kinh, ta quen gọi là tạng chữ Vạn, quyển1, số 34. Kinh này là một trong những kinh Ấn Độ soạn thuật, thuộc Phương đẳng bộ.
(Xem: 12431)
Kinh Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật là một bộ kinh hoằng dương rất thịnh, phổ biến rất rộng trong các kinh điển đại thừa.
(Xem: 53168)
Phương pháp sám hối Từ bi đạo tràng Mục Liên Sám Pháp - Nghi Thức Tụng Niệm
(Xem: 35560)
Từ bi Đạo Tràng, bốn chữ ấy là danh hiệu của pháp sám hối nầy... Thích Viên Giác dịch
(Xem: 16118)
Vào khoảng thời gian Phật ngự tại nước Tỳ Xá Ly, gần đến giờ thọ trai Ngài mới vào thành khất thực. Bấy giờ trong thành Tỳ Xá Ly có một chàng ly xa tên là Tỳ La Tứ Na (Dõng Quân).
(Xem: 12247)
Kinh này dịch từ kinh Pháp Ấn của tạng Hán (kinh 104 của tạng kinh Đại Chính) do thầy Thi Hộ dịch vào đầu thế kỷ thứ mười.
(Xem: 12386)
Đại Chánh Tân Tu số 0158 - 8 Quyển: Hán dịch: Mất tên người dịch - Phụ vào dịch phẩm đời Tần; Việt dịch: Linh-Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh
(Xem: 11469)
Tôi nghe như vầy vào khoảng thời gian đức Phật ngự tại tinh xá Kỳ Hoàn thuộc nước Xá Vệ có ngàn vị tỳ theo tăng và mười ngàn đại Bồ tát theo nghe pháp.
(Xem: 17263)
Biện chứng Phá mê Trừ khổ - Prajnaparamita Hrdaya Sutra (Bát-nhã Ba-la-mật-đa Tâm kinh); Thi Vũ dịch và chú giải
(Xem: 15041)
Là 2 bản Kinh: Kinh Phật Thuyết A Di Đà No. 366 và Kinh Xưng Tán Tịnh Độ Phật Nhiếp Thọ No. 367
(Xem: 14665)
Như thật tôi nghe một thuở nọ Phật cùng các Tỳ kheo vân tập tại vườn cây của Trưởng giả Cấp cô ĐộcThái tử Kỳ Đà ở nước Xá Vệ.
(Xem: 13922)
Kinh này dịch từ kinh số 301 trong bộ Tạp A Hàm của tạng Hán. Tạp A Hàm là kinh số 99 của tạng kinh Đại Chính.
(Xem: 11784)
Đây là những điều tôi đã được nghe: Hồi ấy, có những vị thượng tọa khất sĩ cùng cư trú tại vườn Lộc Uyển ở Isipatana thành Vārānasi. Đức Thế tôn vừa mới nhập diệt không lâu.
(Xem: 15111)
Kinh Mục Kiền Liên hỏi năm trăm tội khinh trọng trong Giới Luật; Mất tên người dịch sang Hán văn, Thích Nguyên Lộc dịch Việt
Quảng Cáo Bảo Trợ
Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Get a FREE Online Menu and Front Door: Stand Banner Menu Display for Your Restaurant