Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
View Counts
2,319,686,071,854,584,916

Câu Chuyện Cuộc Đời Tôn Giả Longchenpa

Monday, February 28, 202215:39(View: 1153)
Câu Chuyện Cuộc Đời Tôn Giả Longchenpa
Câu Chuyện Cuộc Đời Tôn Giả Longchenpa

Nyoshul Khen Rinpoche[1] 
Pema Jyana 

 
Câu Chuyện Cuộc Đời Tôn Giả Longchenpa


Tôn giả
 Longchen Rabjam (1308-1363) sinh ra ở Yoru thuộc phần phía Đông của miền Trung Tây Tạng, gần Tu viện Samye vĩ đại mà Đạo Sư Liên Hoa Sinh xây dựng vào thế kỷ tám. Cha Ngài là vị Yogin tên Lopon Tenpa Sung và mẹ Ngài là Sonam Gyen. Lúc thụ thai, mẹ Ngài nằm mơ thấy con sư tử lớn với mặt trời và mặt trăng trên trán, phóng ánh sáng rực rỡ soi sáng toàn bộ thế gian. Con sư tử sau đó tan thành ánh sáng, thứ tan vào Sonam Gyen và hòa vào tâm bà ấy. Từ khoảnh khắc đó, trong suốt thai kỳ, bà có những trải nghiệm mạnh mẽ về hỷ lạcsáng suốt và vô niệm. Thân bà cảm thấy vô cùng nhẹ nhàng và tâm bà trở nên sáng tỏ và trong thai kỳ, bà chẳng cảm thấy không thoải mái hay đau đớn. Lúc Tôn giả Longchenpa chào đời, Nữ Hộ Pháp của Chân ngôn Bí mậtKhông Hành Nữ trí tuệ Remati, đã xuất hiện. Bế cậu bé, Bà ấy tuyên bố rằng, “Ta sẽ bảo vệ câu bé!”. Vài giây sau, Bà ấy tan biến vào hư không.

Từ năm ba tuổi, Tôn giả Longchenpa bắt đầu học đọc và viết; năm tuổi, Ngài đã làm chủ việc đọc và viết. Từ đó trở về sau, Ngài dần dần bắt đầu học hỏi mọi lĩnh vực nghiên cứu khác. Lên bảy tuổi, Tôn giả Longchenpa thọ nhận từ cha pho giáo lý kho tàng và quán đỉnh Nyingma của Terton Nyangral Nyima Ozer, được biết đến là Tám Mệnh Lệnh – Hợp Nhất Chư Thiện Thệ (Kagye Deshek Dupa). Khi Ngài chín tuổi, mẹ Ngài qua đời.

Cha Ngài Longchenpa qua đời khi Ngài mười hai tuổi và không lâu sau, Ngài đã thỉnh cầu giới Sa Di tại Tu viện Samye cổ xưa do Đạo Sư Liên Hoa Sinh thành lập. Ngài nhận danh hiệu Tsultrim Lodro “Trì Giới Tuệ” và sau đó, cũng được biết đến là Drime Ozer, tức “Vô Cấu Quang”. Từ năm mười hai tuổi đến khi bước sang tuổi hai mươi bảy, Ngài đã học các chủ đề chung, chẳng hạn y học, chiêm tinh, lô-gic và ngữ pháp. Năm mười chín tuổi, Ngài bắt đầu nghiên cứu trong hơn sáu năm tại Sangphu Neutok, học viện tu sĩ Kadampa vĩ đại. Thời nay, chỉ còn lại những tàn tích của học viện này.

Ngài Longchenpa đã thọ nhận và nghiên cứu mở rộng mọi giáo lý của Phật Pháp bao gồm cả các giáo lý Kim Cương thừa của nhiều trường phái và truyền thừa. Nhờ các nghiên cứu mở rộng, Ngài trở nên khá uyên bác và được trao danh hiệu Longchen Rabjam nghĩa là “Cõi Bao La Uyên Bác Phổ Quát” hay “Cõi Bao La Bao Trùm Khắp”. Và khi đang cư ngụ gần Tu viện Samye vĩ đại, Ngài cũng được biết đến vào lúc này là “Vị Thọ Nhận Nhiều Trao Truyền Của Samye” (Samye Lungmangpa). Ngài có thể tụng thuộc lòng tất cả các trích dẫn liên quan từ Kinh điển và Mật điển và người ta có thể nghe thấy nhiều Lama khác nhận xét rằng, “Thậm chí đừng cố tranh luận với Ngài; Ngài thuộc lòng mọi kinh văn”.

Hai mươi bảy tuổi, Ngài Longchenpa thấy bản thân tự nhiên ngập tràn ý nghĩ xả ly. Ngài hiểu rằng cực kỳ uyên bác thì chưa đủ và đã đến lúc thực sự đưa vào thực hành Chân ngôn thừaKim Cương thừa hay “Kim Cương thừa” Chân ngôn Bí mật phi phàm. Vì thế, Ngài Longchenpa sống cuộc đời của một tu sĩ lang thang, tự tại đi đến các vùng quanh Lhasa và phụ cận, chỉ mang một túi và một chiếc lều nhỏ. Ngài đang tuân theo lối ‘Drakhor’ truyền thống, cách thức của tu sĩ hành hương, tức là đi bộ từ Tu viện này đến Tu viện khác, ban giáo lý và sau đó, tham gia vào tranh luận và trả lời các câu hỏi. Khi một Lama rất thành công trong điều này, vị ấy sẽ phát triển được danh tiếng lớn lao và được kính trọng là một quyển kinh văn Phật giáo ‘sống’. Giống như một cuốn sách Tây Tạng, những Lama như vậy thường mang những tấm ván trông giống như miếng bao kinh sách, được buộc ở phía trước và sau mà trên đó viết rằng, “Một quyển Giáo Pháp sống”.

Trong giai đoạn này của cuộc đời, Ngài Longchenpa đang tìm kiếm một đạo sư Đại Viên Mãn và trong quá trình, Ngài trải qua vô vàn khó khăn. Đạo Sư Melong Dorje “Gương Kim Cương” được xem là một đạo sư Đại Viên Mãn vĩ đại của các giáo lý truyền thừa thì thầm (Nyengyu) của truyền thống Tâm Yếu Bí Mật Của Vô Cấu Hữu (Vima Sangwa Nyingtik), nhưng Ngài đã viên tịch vào lúc này. Tuy nhiên, tâm tử hay vị kế thừa Giáo Pháp của Ngài là Rigdzin Kumaradza Yeshe Shonnu “Trì Minh Vua Trí Tuệ Trẻ Trung”, vị đã thọ nhận tất cả trao truyền về Mật điểnluận giải và chỉ dẫn cốt tủy từ Đức Melong Dorje.

Trì Minh Rigdzin Kumaradza đang sống ở khúc phía trên của Thung lũng Yarlung ở Yartodkyam, trong một khu trại với khoảng một trăm đệ tử, những vị sống ở đó trong các lều nhỏ làm từ nỉ Yak. Dường như sống trong khu trại ở thung lũng trên núi là chuyện thoải mái, nhưng sống ở đó chẳng hề thoải mái. Trong những tháng mùa đông, tuyết rơi dày và vô cùng lạnh và gió dữ đến mức không thể nhóm lửa, gây ra những khó khăn ghê gớm. Chính Đức Kumaradza cũng sống trong túp lều một người chỉ đủ lớn để Ngài có thể ngồi thẳng trong đó.

Đức Rigdzin Kumaradza đang giảng dạy Đại Viên Mãn tự nhiên theo Tâm Yếu Vô Cấu Hữu (Vima Nyingtik) cho đoàn tùy tùng đệ tử, những vị giống như một đàn tràng tự nhiên. Chư vị đều đang trụ trong thiền định của bản tính nguyên sơ, trong điều kiện tự nhiên của Đại Viên Mãn; vì thế, chư vị không giống như những chúng sinh bình phàm. Mặc dù bề ngoài, chư vị xuất hiện chỉ là một khu trại của những người ăn xin, trong khu trại đó có đạo sư thành tựu và chứng ngộ – Đức Kumaradza, vị bất khả phân với Tôn giả Vô Cấu Hữu, vị đạo sư Đại Viên Mãn từ Ấn Độ; các giáo lý [được giảng dạy] là Đại Viên Mãn và có đoàn tùy tùng đệ tử thanh tịnh thực hành Dzogpa Chenpo.

Khi Ngài Longchenpa lần đầu tiên gặp Đức Kumaradza, Ngài thỉnh cầu được thọ nhận giáo lý từ vị này. Đức Kumaradza hài lòng và bảo rằng, “Đêm qua, Ta có một giấc mơ tuyệt vời với các dấu hiệu vô cùng cát tường, điều chỉ ra rằng con sẽ đến và kết nối phụ thuộc lẫn nhau của chúng ta. Sau đó, khi Ta thấy con, Ta lập tức biết rằng con sẽ là vị trì giữ truyền thừa Giáo Pháp của Ta”. Đức Kumaradza yêu cầu Ngài Longchenpa ở bên và bảo rằng sẽ dạy Ngài.

Trong suốt giai đoạn này của cuộc đời, Ngài Longchenpa đã trải qua mọi kiểu vất vả, gian khổ và khó khăn. Ví dụ, vào thời kỳ trước, ở Tây Tạng cũng như ở Ấn Độ, khi ai đó thọ nhận Giáo Pháp, đóng phí Giáo Pháp như một sự cúng dường cho những giáo lý được thọ nhận là điều bắt buộc. Dâng các cúng dường là một phương tiện thiện xảo để tích lũy công đức, mặc dù ngày nay ở phương Đông, không có tiền phí [để tham gia] sự trao truyền giáo lý, điều dựa vào sự đóng góp của các tín đồ. Ngày nay, chúng ta cúng dường một Mandala cho giáo lý hay quán đỉnh, nhưng vào thời kỳ này, người ta thường cúng dường bột lúa mạch hay ngũ cốc. Như chúng ta thấy trong tiểu sử của Dịch giả Marpa, Ngài Marpa phải cúng dường hai mươi sáu gánh lúa mạch do Yak thồ như là tiền phí Giáo Pháp để thọ nhận quán đỉnh Hevajra và sáu gánh để thọ Kim Cương Du Già Nữ (Vajrayogini) từ một đạo sư Sakya.

Do đó, khi Ngài Longchenpa ở bên Đức Kumaradza, cúng dường một khoản phí Giáo Pháp đến đạo sư là phong tục và mặc dù cực kỳ uyên bác, Ngài Longchenpa không có những thí chủ giàu có. Ngài giống như chúng ta ở đây trong trung tâm nhập thấthoàn toàn tập trung vào việc nghiên cứu Giáo Phápcố gắng thọ nhận giáo lý từ chư đạo sư và sau đó thực hành một cách chân chính. Ngài Longchenpa khi ấy sống như một người ăn xin và chẳng có gì để cúng dường khi Đức Kumaradza sắp ban các quán đỉnh Đại Viên Mãn. Ngài sống bên ngoài, chịu đựng tuyết lớn và các yếu tố khắc nghiệt, chỉ có một chiếc bao tải mà Ngài dùng như là nệm thiền định vào ban ngày và túi ngủ vào ban đêm. Ngoại trừ y áo và chiếc bao tải này, Ngài Longchenpa chẳng có gì khác; nhưng bên trong, Ngài vốn đã sở hữu sự giàu có của Dzogpa Chenpo, Đại Viên Mãn.

Dĩ nhiên, những cúng dường tiền phí Giáo Pháp bằng ngũ cốc này không phải dành riêng cho Đức Kumaradza mà để nuôi toàn bộ tập hội. Điều đó giống như khi chúng ta bước vào nhập thất ở đây và chúng ta cần ai đó tài trợ các chi phí sinh hoạt của chúng ta và những vị trong trung tâm nhập thất, để chúng ta có thể nhất tâm thiền định theo giáo lý Đại Viên Mãn. Ngài Longchenpa nhắc đến trong các trước tác rằng bởi không có tiền phí Giáo Pháp, Ngài trải qua nhiều khó khăn. Ngài nghĩ, ‘Đạo sư tôn quý sắp ban giáo lý, nhưng tôi lại chẳng có gì để cúng dường. Dường như tôi chẳng có công đức; vì thế, tốt hơn là tôi rời đi trước vào sáng mai, trước khi bình minh. Nếu không, các đệ tử khác sẽ không hài lòng và sẽ gây khó dễ cho tôi nếu tôi chẳng có gì để cúng dường vì giáo lý’. Nhưng đêm đó, Đức Kumaradza, nhờ sức thần thông, thấy điều mà Ngài Longchenpa đang dự định. Đức Kumaradza gọi thị giả và nói rằng chính Ngài sẽ trả phần phí của Lama Samyepa – như Tôn giả Longchenpa thường được biết đến khi ấy.

Khi chúng ta thấy rằng Longchenpa khiêm nhường phải ngủ trong bao tải cũ giữa mùa đông Tây Tạng, chứ đừng nói đến những khó khăn của Tổ Milarepa, chúng ta thấy rằng các hành giả vĩ đại đã trải qua khó khăn ghê gớm. Ngày nay, chúng ta có thể có những quan niệm lãng mạn và nghĩ rằng khi Ngài Longchenpa sống trong khu trại của Đức Rigdzin Kumaradza, mọi chuyện cũng không khó khăn lắm. Nói về điều đó thì dễ, nhưng những vị có mặt đã phải trải qua hoàn cảnh khắc nghiệt khi thực hành không ngừng nghỉ trạng thái tự nhiên của Đại Viên Mãn. Mỗi ngày, Ngài Longchenpa chui vào và chui ra khỏi bao tải, chẳng nghĩ đến việc liệu Ngài có chết vì sự khắc nghiệt của các yếu tố hay không. Ngài đã trải qua vô vàn khó khăn để thọ nhận giáo lý Đại Viên Mãn và thực sự đưa chúng vào thực hành.

Trước khi chúng ta tiếp tục với tiểu sử của Ngài Longchenpa, ở điểm này, thật xứng đáng khi nhắc đến rằng trong suốt cuộc đời, Ngài Longchenpa đã trao nhiều lời khuyên then chốt cho các đệ tử hiện tại và tương lai. Ví dụ, Ngài đã viết lại ba điểm trọng yếu vì lợi lạc của các hành giả trong tương lai. Ngắn gọn, ba điểm này là:

1) Cầu nguyện đến đạo sư tâm linh vì sự gia trì;

2) Xem đạo sư là hiện thân của Tam Bảo và vì thế, cầu nguyện đến đạo sư để tịnh hóa các che chướng và tích lũy công đức;

3) Giữ gìn thệ nguyện Samaya, giới luật tâm linh của giáo lý Kim Cương thừa.

Từ điểm thứ nhất, người ta nói rằng vua của mọi lời cầu nguyện là diễn tả niềm tin và lòng sùng mộ với chư đạo sư tâm linh. Để hiểu cuộc đời của Tôn giả Longchenpa, thật hữu ích nếu biết rằng khi đang thực hành, Ngài Longchenpa đã liên tục cầu khẩn mãnh liệt đến Đức Kumaradza và chư đạo sư truyền thừatinh tấn hòa tâm trong thực hành Đạo Sư Du Già với lòng sùng mộ chân thành. Ngày nọ, trong khóa nhập thất sáu năm, một kinh nghiệm không tạo tác về lòng sùng mộ phi phàm khởi lên trong Ngài và Ngài cảm thấy tâm Ngài và tâm trí tuệ của Đức Rigdzin Kumaradza trở thành một, bất khả phân. Đây là cách mà Ngài Longchen Rabjam đạt được sự chứng ngộ chân chính về trạng thái tự nhiên của Đại Viên Mãn.

Từ khoảnh khắc đó, Ngài luôn luôn trụ trong định trong mọi hoạt động, dù đang ngồi, đi hay ngủ. Do đó, chúng ta có thể hiểu được tầm quan trọng lớn lao mà Ngài Longchenpa dành cho điểm đầu tiên trong ba điểm trọng yếu của Ngài, tức có niềm tin và lòng sùng mộ với chư đạo sư. Đó là cách mà chúng ta thọ nhận sự gia trì của đạo sư và chư đạo sư truyền thừa, thứ là nền tảng để chứng ngộ Giáo Pháp.

Điểm thứ hai là người ta cần cầu nguyện đến đạo sư như là hiện thân của Tam Bảo và theo cách này, tịnh hóa các che chướng và tích lũy công đức. Bởi đạo sư là nền tảng để tích lũy công đức lớn lao, điều vô cùng quan trọng là thực hành Đạo Sư Du Già để tích lũy công đức và tịnh hóa tất cả che chướng. Đạo Sư đại diện cho toàn bộ các cội nguồn quy yTam Bảo – Phật, Pháp và Tăng, Tam Căn Bản – đạo sư, Bổn tôn và Không Hành Nữ; và Tam Thân, tức các “thân giác ngộ”. Do đó, nhờ cầu nguyện và phụng sự đạo sư và nhờ thực hành Giáo Pháp, dâng và quán tưởng các cúng dường và v.v. người ta tích lũy công đức bao la cần để đạt giác ngộ. Giống như vậy, tất cả nghiệp, ác hạnhlỗi lầm và che chướng được tịnh hóa nhờ sự gia trì của đạo sư. Ngài Longchenpa đang nói với chúng ta trong cả điểm thứ nhất và thứ hai rằng nếu chúng ta muốn đạt kinh nghiệm và chứng ngộchúng ta cần nỗ lực chân thành trong thực hành Đạo Sư Du Già.

Điểm thứ ba mà Ngài Longchenpa viết về liên quan đến khả năng vi phạm các Samaya, giới luật tâm linh của truyền thống Kim Cương thừa Chân ngôn Bí mật. Ngài nói với chúng ta trong một vài giáo lý rằng ngày nọ, Ngài cãi cọ với một huynh đệ kim cương. Cãi cọ hay đánh nhau với các anh chị em kim cương là một trong những sa sút Mật thừa và sẽ tạo ra che chướng nghiệp trong tâm.  Vì thế, Ngài Longchenpa lập tức dâng lời sám hối và xin lỗi huynh đệ kim cương mà Ngài đã xung đột.

Về sau, trong nhiều giáo lý, Ngài Longchenpa nhắc đến rằng đôi khi, dù chẳng phải do lỗi của bản thânvẫn có những người sẽ không thích chúng ta. Nếu chúng ta nổi tiếng, có thể có những người đố kỵ với chúng ta và muốn được như chúng ta và những người có thể thù hằn hay thậm chí phỉ báng chúng ta. Bất kể chúng sinh khác cảm thấy thế nào với chúng ta, Ngài Longchenpa khuyến khích chúng ta không tranh cãi hay tìm lỗi của các anh chị em kim cương, bởi chúng ta có thể bị cuốn đi bởi ác ýác tâm hay cảm giác tồi tệ về họ. Ngài khuyên chúng ta giữ các giới luật tâm linh thật tốt và tránh xung đột với các anh chị em kim cương.

Bây giờ, trở lại câu chuyện cuộc đời Tôn giả Longchen Rabjam: Khi được chấp nhận là đệ tử, Ngài Longchenpa đã sống cùng Đức Kumaradza trong sáu năm và thọ nhận toàn bộ các trao truyền chính yếu của giáo lý Đại Viên MãnĐặc biệt, dưới sự dẫn dắt của Đức Kumaradza, Ngài Longchenpa đã thực hành toàn bộ con đường Đại Viên Mãn của Tâm Yếu Bí Mật Của Vô Cấu Hữu, từ các thực hành nền tảng (Ngondro) cho đến những thực hành Đại Viên Mãn chính yếu của Trực Tiếp Cắt Đứt (Trekchod) và Trực Tiếp Vượt Qua (Thogal). Đức Kumaradza đã dạy Ngài Longchenpa theo Chỉ Dẫn Truyền Miệng Của Sự Hướng Dẫn Kinh Nghiệm Vĩ Đại (Mengak Nyongtri Chenmo), điều dẫn dắt sự hành trì của đệ tử từng bước một qua các giai đoạn của kinh nghiệm đến chứng ngộTuân theo truyền thống này, Ngài Longchenpa đã thực hành cho đến khi Ngài có thể thực sự trải nghiệm các giáo lý của tri kiếnthiền định và hành động mà Ngài thọ nhận nhờ sự gia trì vĩ đại của Đức Rigdzin Kumaradza.

Sau khi thọ nhận giáo lý Đại Viên Mãn từ đạo sư Kumaradza, Ngài Longchenpa bắt đầu hoàn thành thực hành trong một khóa nhập thất sáu năm tại Chimphu, thỉnh thoảng đến gặp Đức Rigdzin Kumaradza để thỉnh gia trì và lời khuyên. Sau đấy, tại thánh địa Gangri Thodkar, Núi Tuyết Sọ Trắng, Ngài Longchenpa đã hoàn thành giai đoạn của thực hành Đại Viên Mãn được biết đến là “giác tính tột bực”. Vào một thời điểm sau đó, Ngài Longchenpa thành tựu giai đoạn “cạn kiệt mọi hiện tượng vào Pháp tính”, cấp độ linh kiến thứ tư theo con đường Trực Tiếp Cắt Đứt đến Thanh Tịnh Nguyên Sơ (Kadak Trekchod). Trạng thái tự nhiên không tạo tác của Đại Viên Mãn đã sinh ra trong tâm Ngài. Ngài trở thành Phật hoàn toàn giác ngộ nhờ con đường Đại Viên Mãnhiện thân sống động của Pháp thân Phật Phổ Hiền.

Khi đã đạt chứng ngộ nhờ thực hành Đại Viên Mãn, năm ba mươi mốt tuổi, Ngài bắt đầu giảng dạy Giáo Pháp và tiếp tục làm vậy cho đến cuối đời, khi Ngài năm mươi sáu tuổi. Ngài đã dạy Đại Viên Mãn cho hàng nghìn đệ tử may mắn trong các vùng xung quanh Lhasa và Tu viện Samye vĩ đại và cả ở Bhutan. Tại Bumthang ở Bhutan, Ngài thành lập ngôi chùa được biết đến là Tharpa Ling. Ngôi chùa được gọi là “Tharpa Ling”, tức “Giải Thoát Tự” bởi nhiều chúng sinh đã bước vào con đường đến giải thoát tại chính thánh địa này. Trong thời gian gần đây, Dodrupchen Rinpoche thường ban nhiều giáo lý và quán đỉnh từ truyền thống Tâm Yếu tại Tharpa Ling, nơi gần một ngôi làng được gọi là Samling. Tựu trung lại, Ngài Longchenpa đã thành lập tám địa điểm Giáo Pháp ở Bhutan; những trung tâm nhập thất và Tu viện này được biết đến là “Tám Chùa Ling”. Như một phần của kết nối nghiệp với Bhutan, vị tái sinh tiếp theo của Ngài Longchenpa, vị phát lộ kho tàng vĩ đại – vua Terton Pema Lingpa, cũng sinh ở Bhutan.

Sau khi trở về Tây Tạng từ Bhutan, Ngài tiếp tục ban quán đỉnh và chỉ dẫn cho nhiều chúng sinh may mắn. Trong thời gian này, Ngài đã biên soạn vô vàn bản văn và luận giải cho mọi trường phái Phật giáo ở Tây TạngTuy nhiênđặc biệt, nhờ các trước tác, đối thoại và giảng dạy, Ngài giữ gìn truyền thừa giáo lý và thực hành của Dzogpa Chenpo – Đại Viên Mãn. Trong nhiều phẩm tính giác ngộ, Ngài Longchenpa được xem là một hóa hiện của Văn Thù Sư Lợi, vị Phật của trí tuệ, vị đến làm sáng tỏ và giữ gìn những giáo lý Dzogpa Chenpo. Khi Ngài trở lại Tây Tạngtruyền thừa trao truyền Đại Viên Mãn chính yếu của Ngài Longchenpa được trao cho đệ tử Khenchen Khyabdal Lhundrub và tiếp tục trong truyền thừa không gián đoạn cho đến ngày nay.

Ngài Longchen Rabjam viên tịch vào năm 1363 tại Samye Chimpu, khu rừng và trung tâm nhập thất của Đạo Sư Liên Hoa Sinh và các đệ tử, trong những ngọn núi phía trên Tu viện Samye vĩ đại. Lúc này, Ngài yêu cầu các đệ tử sắp xếp vài cúng phẩm và muốn được ở một mình. Khi họ thỉnh cầu được ở lại, Ngài Longchenpa bảo rằng họ có thể ở lại nhưng họ không được om sòm mà cần đơn giản thực hành, khi Ngài sắp xả bỏ thân hư huyễn đã héo mòn. Sau đó, trong tư thế Pháp thân sư tử, Ngài đã giải thoát vào cõi giới nguyên sơ.

Khi chư đạo sư vĩ đại, những vị đã đi theo con đường Đại Viên Mãnviên tịch, chư vị trực tiếp giác ngộ trong sự trực tiếp của nền tảng. Có hai cách mà chư vị có thể hiển bày sự thành tựu Phật quả. Một trong số chúng được gọi là “Phật quả hiển bày hoàn toàn” (Ngonpar Dzogpa’i Sangye) và cách còn lại được biết đến là “Phật quả chân chính và trọn vẹn” (Yangdakpa’i Sangye). Không có sự khác biệt trong phẩm tính giữa hai cách hiển bày giác ngộ lúc lâm chung này, nhưng chúng khác biệt trong cách hiển bày.

Trong hai cách này, cách trước hiển bày nhiều dấu hiệu và để lại xá lợi vì lợi lạc của chúng sinh. Cách sau là khi đạo sư mang thân cầu vồng, chẳng để lại xá lợi hay thi hài. Thay vì để lại thi hài, cả giới bất tịnh thô lâu và giới thanh tịnh vi tế hoàn toàn tan hòa vào thân kim cương của ánh sáng cầu vồng, có bản tính của trí tuệ kim cương. Ngài Longchenpa đã viên tịch theo cách trước và vì thế, Ngài để lại xá lợi và tro cốt vì lợi lạc và để truyền cảm hứng cho các đệ tử của Ngài và vì đệ tử và hữu tình chúng sinh trong tương lai.

Khi Ngài Longchenpa viên tịch, có mọi dấu hiệu cát tường của sự viên tịch được biết đến là “Phật quả hiển bày hoàn toàn”, bao gồm cầu vồng, ánh sáng, sấm, trái đất rúng động và những cơn mưa hoa rơi xuống từ trời. Sau khi thân Ngài được trà tỳ, như là dấu hiệu của sự viên tịch vào nền tảng nguyên sơ, năm kiểu xá lợi được tìm thấy trong tro cốt trà tỳ. Trong số đó, có những xá lợi nhỏ trông như châu báu và trông như ngọc trai được gọi là Ringsel và có nhiều phần lớn hơn được biết đến là Kudung hay Dungchen. Kiểu sau lại có năm loại, tức những loại tro cốt khác nhau được biết đến là Shari Ram, Serri Ram, Bari Ram, Nyari Ram và Churi Ram. Chúng được cho là đại diện cho năm gia đình Phật và sự hiện diện của chúng chỉ ra sự chứng ngộ của đạo sư về năm thân giác ngộ và năm trí nguyên sơ. Cũng như tất cả năm kiểu tro cốt lớn hơn này, có vô số xá lợi Ringsel như những viên ngọc nhỏ không thể bị phá hủy được tìm thấy trong tro trà tỳ của Ngài Longchenpa sau khi chúng nguội.

Như một dấu hiệu rằng thân, khẩu và ý của Ngài Longchenpa hoàn toàn giác ngộ là ba kim cương và bất phả phân với Pháp thân Phổ Hiền, mắt, lưỡi và tim Ngài hòa thành một khối, lớn bằng nắm tay. Xá lợi linh thiêng này vẫn nguyên vẹn trước lửa và được truyền lại qua các đệ tử của Ngài Longchenpa và hiện thuộc sở hữu của Thái Hậu Bhutan. Xương sọ của Ngài Longchenpa vẫn nguyên vẹn sau khi trà tỳ, tạo thành xá lợi thiêng như đá, màu trắng vàng. Như thế, tất cả dấu hiệu cát tường của Phật quả hiển bày hoàn toàn đều hiện diện trong các xá lợi và tro cốt của Ngài Longchenpa. Điều đó đúng như trong Mật Điển Tro Cốt Thân Rực Rỡ (Kudung Barwai Gyud), một trong mười bảy Mật điển của Phần Chỉ Dẫn Đại Viên Mãn, điều miêu tả các dấu hiệu được tìm thấy trong xá lợi trà tỳ của vị đã chứng ngộ về Dzogpa Chenpo. Đây là miêu tả ngắn gọn về cuộc đời và sự giải thoát của Ngài Longchen Rabjam.

 

Nguồn Anh ngữ: Longchenpa’s Life Story do David Christensen chuyển dịch Anh ngữ trong cuốn sách The Fearless Lion’s Roar.

Pema Jyana (Liên Hoa Trí) chuyển dịch Việt ngữ.



[1] Về Nyoshul Khen Rinpoche, tham khảo https://thuvienhoasen.org/a35078/tieu-su-van-tat-nyoshul-khenpo-jamyang-dorje.

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
(View: 191)
Hãy phát khởi động lực và hành vi đúng đắn, nghĩ rằng tôi phải tạo lợi lạc cho tất cả chúng sanh bao la như không gian,
(View: 536)
Có nhiều vị Tôn trên thế gian này và Phổ Ba Kim Cương là một trong số đó. Thực hành về Ngài được biết đến là “thực hành Phổ Ba Kim Cương để ...
(View: 2160)
Từ năm lên ba, Lama Drimed Rinpoche đã bày tỏ niềm tin và sự yêu thích đáng kinh ngạc với Phật Pháp.
(View: 478)
Đức Shechen Rabjam thứ nhất – Tenpe Gyaltsen sinh năm 1650, năm Kim Dần của chu kỳ sáu mươi năm thứ mười một.
(View: 1464)
Geshe Ngawang Dhargyey (1921-1995) sinh ra ở vùng Trehor thuộc Kham, phía đông của Tây Tạng và học ở Tu viện Dhargyey địa phương cho đến khi 18 tuổi.
(View: 1141)
Này Tashi Lhamo[2] thành kính, nếu con muốn đạt giác ngộ, Hãy suy nghĩ xem thật khó khăn làm sao mới có được thân người tự dothuận duyên này.
(View: 743)
Nhìn chung, chúng ta có thể nói rằng có hai phần trong truyền thừa Barom Kagyu: truyền thừa truyền miệng dài và truyền thừa ngắn của linh kiến sâu xa.
(View: 1712)
Khi cặp vợ chồng từ tộc Drenka ở Penyul trở thành cha mẹ tự hào của một người contrai vào năm 1127, họ đặt tên cậu bé theo một Kinh điển:
(View: 843)
Ngài Drapa Ngonshe sinh vào năm Thủy Tý đực (tức năm 1012 Dương lịch) với cha là ông Zhangtag Karwa, người đã đặt tên Ngài là Taktsab.
(View: 1181)
Ngài Phakmodrupa Dorje Gyalpo sinh năm 1110 và được nuôi dưỡng bởi cha mẹ nghèo khó ở phía Nam của Kham.
(View: 762)
Từ quan điểm chiêm tinh, tháng Thân linh thiêng tương ứng với tháng 5 Âm lịch Tây Tạng. Ngài Terdak Lingpa[3], em trai[4] và Đức Dalai Lama thứ Năm ...
(View: 538)
Theo các tiểu sử, Bà Mandarava là một công chúa thông tuệ, thiện lành và xinh đẹp, sinh ra trong một gia đình hoàng gia ở Zahor,
(View: 1204)
Khandro Tare Lhamo sinh năm Thổ Dần 1938 trong thung lũng Bokyi Yumolung của vùng du mục Golok.
(View: 514)
Sera Khandro Kunzang Dekyong Wangmo sinh ra trong một gia đình giàu có, quyền lực về chính trị ở Lhasa.
(View: 1817)
Bà Jetsun Jampa Chokyi sinh vào ngày 30 tháng 12 năm Thủy Tuất (1922). Cha Bà, Sonam Tobgyal, xuất thân từ gia đình...
(View: 564)
Dưới chân đạo sư, con đỉnh lễ. Nhớ về vô thường và cái chết, Đẩy lui bám chấp với đời này và trưởng dưỡng xả ly –
(View: 2402)
Đức Riwoche Jedrung thứ bảy – Jampa Jungne sinh năm 1856 trong gia đình Shol Danak của Tu viện Riwoche ở Kham,
(View: 1006)
Sau đây là ảnh hưởng từ hành vi của bạn tốt: Đồng hành cùng vị uyên bác giúp tăng trưởng sự thông tuệ. Đồng hành cùng vị bi mẫn giúp đánh thức Bồ đề tâm.
(View: 904)
Thân người tự dothuận duyên này mà con đã có được. Cung cấp nền tảng để đạt được hỷ lạc vĩnh cửu.
(View: 1425)
Từng có một học trò, người đến gặp đạo sư để thỉnh cầu chỉ dẫn. Vị đạo sư sắp rời đi và đang vội nhưng Ngài vẫn chấp nhận lời thỉnh cầu.
(View: 2591)
Bản văn này được Orgyen Tobgyal Rinpoche mạnh mẽ khuyến khích với những vị mong muốn làm sâu sắc sự hiểu của họ về thực hành Sur[1].
(View: 733)
Đầu tiên trong sáu ba la mật, bố thí ba la mật, không phải chỉ là về trao cho người nghèo.
(View: 1704)
Nhìn chung, những điểm then chốt để thấu triệt giáo lý của Phật là: Được thúc đẩy bởi sự xả ly và Bồ đề tâm, Tránh ác hạnhnỗ lực làm các thiện hạnh,
(View: 654)
Đầu tiên, bởi thân người này – sự hỗ trợ cho các phẩm tính của giải thoát – khó được, chúng ta phải hướng các ý nghĩ rời khỏi những vấn đề của đời này.
(View: 1541)
Kính lễ đạo sư! Hãy quán chiếu về bốn chủ đề chuyển hóa, quy ytrưởng dưỡng từ, bi và Bồ đề tâm.
(View: 1611)
Kính lễ đạo sư! Hãy quán chiếu về bốn chủ đề chuyển hóa, quy ytrưởng dưỡng từ, bi và Bồ đề tâm.
(View: 871)
Liều thuốc giải cho ảo tưởng, bản ngã và từng vấn đề khác mà chúng ta đối mặt là trí huệ của Pháp;
(View: 2158)
Khi bắt đầu thiền định, một trong những cách thức để tăng trưởng Bồ đề tâmlòng bi mẫnthực hành cho và nhận
(View: 1839)
Thực hành chính yếu mà thầy tiến hành trong tù ngục là Tong-len (cho và nhận). Khenpo Munsel[1] đã trao cho thầy nhiều chỉ dẫn khẩu truyền đặc biệt về Tong-len, điều không có trong bản văn.
(View: 866)
Bardor Tulku Rinpoche sinh năm 1949 ở Kham, miền Đông Tây Tạng. Từ rất nhỏ, Ngài đã được Đức Gyalwang Karmapa thứ 16 công nhậnhóa hiện thứ ba của Terchen Barway Dorje[1].
(View: 870)
Môn đồ Nyingma của Chân ngôn Bí mật nhấn mạnh vào Mật điển thực sự[2]. Họ theo đuổi tri kiến cao nhất và ham thích hành vi ổn định.
(View: 1293)
Con đỉnh lễ đạo sư và đấng bảo hộ Văn Thù Sư Lợi! Trước tiên, hãy quy y Tam Bảo,
(View: 955)
Một vị khác đã nghe những chỉ dẫn về cách tiếp cận Dzogchen Đại Viên Mãn từ Adzom Drukpa Rinpoche Drodul Pawo Dorje
(View: 909)
Bopa Tulku Dongak Tenpe Nyima là một đệ tử của Kunpal Rinpoche[2], vị giữ gìn truyền thống thanh tịnh của Jamgon Mipham Rinpoche
(View: 1406)
Tôi, Pema Tsewang Lhundrup, đã chào đời trong năm Kim Mùi của chu kỳ lịch thứ mười sáu (tức năm 1931).
(View: 969)
Khunkhen Pema Karpo là một trong những vị tổ dòng Phật giáo Drukpa Kayu ở miền xứ Tuyết.
(View: 1089)
Đạo sư vô song, Phật Thế Tôn; Giáo Pháp linh thiêng, thù thắng và chẳng dối lừa;
(View: 1362)
Mọi người đã đưa ra nhiều câu hỏi liên quan đến ý nghĩa của quy y và vì lý do đó, thầy đã thiết kế thẻ quy y mới này.
(View: 2418)
Nếu thời gian của con trong khóa nhập thất được sử dụng tốt, con sẽ làm hài lòng chư Phật cùng những vị trưởng tử, giúp hoàn thành...
(View: 1159)
Điều này được gửi đến những vị đang trong khóa nhập thất ba năm tại Pháp.
(View: 2330)
Sau khi phát khởi Bồ đề tâm trong Mật thừa và thọ nhận một quán đỉnh, người ta bước qua cánh cửa dẫn vào thực hành Mật thừa.
(View: 1851)
Một số đạo hữu đã yêu cầu thầy giải thích ý nghĩa của đai thiền định. Nói chung, đai thiền định được sử dụng bởi Tổ Milarepa khi thực hành Sáu Du Già Của Naropa.
(View: 3412)
Phật Thế Tôn đã giảng dạy bản văn sau đây, điều đem đến lợi lạc trong thời kỳ đen tối.
(View: 1468)
Om Ah Hung. Hôm nay, thầy có được cơ hội tuyệt vời để chia sẻ đôi lời về giới quy y.
(View: 2788)
Terton Lerab Lingpa Trinle Thaye Tsal vĩ đại, tức Terton Sogyal, là hóa hiện về thân của Tổ Nanam Dorje Dudjom[1], hóa hiện về khẩu của Kim Cương Hợi Mẫuhóa hiện về ý của Đại Sư Liên Hoa Sinh.
(View: 3957)
Hôm nay, chúng ta đều đã đến Vườn Cấp Cô Độc ở thành Xá Vệ, Ấn Độ, vùng đất của chư Thánh giả, nơi đã được cúng dường lên Đức Phật.
(View: 2810)
Điều đầu tiên mà bạn cần hiểu là mọi hữu tình chúng sinh đang sống trên thế giới này – ‘hữu tình chúng sinh của tam giới của sự tồn tại’ – là một sản phẩm của tâm.
(View: 1617)
Khi chúng ta nhìn vào hiện tượng vật chất trong thế giới này, chúng ta thấy rằng tất cả mọi sự vật hiện tượng xảy ra đều có nguyên nhân của nó.
(View: 1499)
Guru Rinpoche chào đời tám năm sau khi Đức Phật nhập diệt. Khi Đức Phật nhập diệt, Ngài sách tấn các đệ tử hãy hoan hỷ bởi Ngài sẽ trở lại là Guru Rinpoche.
(View: 1632)
Gần đây, nhiều người hỏi về Khandro Rinpoche tôn quý và những hoạt động tâm linh của Bà.
(View: 2716)
Với những vị nhấn mạnh duy nhất vào việc trưởng dưỡng Bồ đề tâm trong cuộc đời, lời khuyên thích hợp cho họ khi tiến gần đến cái chết là nương tựa năm sức mạnh để định hướng lối đi của họ đến đời sau.
(View: 2526)
không phải là kết thúc của cuộc sống, bởi vẫn còn tái sinh sau khi chết.
(View: 2365)
Đừng bao giờ lo âu hay sợ hãi về cái chết. Thay vào đó, hãy cố gắng cải thiện tâm trạng và trưởng dưỡng một nhận thức hoan hỷ rõ ràng
(View: 2993)
Sống và chết đều vô cùng quan trọng với mọi người bởi chúng là số phận. Không ai có thể từ chối hay tránh khổ đau liên quan đến sinh, lão, bệnh, tử và cuộc sống thực sự.
(View: 2978)
Vài người nghĩ rằng Phật giáo Kim Cương thừa rất huyền bí. Điều này là bởi họ thiếu một sự hiểu về hệ thống tư tưởngthực hành của Kim Cương thừa.
(View: 1842)
Các hiện thân của tất cả chư Phật trong quá khứ, hiện tạivị lai; những thủ lĩnh phổ quát của đại dương đàn trànggia đình Phật;
(View: 2275)
Tất cả hữu tình chúng sinh trong tam giới của sự tồn tại đều trong tù ngục luân hồichúng ta đều trải qua khổ đau của luân hồi.
(View: 2229)
Về điều mà chúng ta sắp lắng nghe, Đức Phật đã ban vô số giáo lý. Nếu chúng ta muốn cô đọng những giáo lý này thì có những giáo lý của thừa căn bản và những giáo lý của thừa đặc biệt.
(View: 2154)
Trì Minh Vương hay Vidyadhara tối thắng Rigdzin Jigme Lingpa (1729-98) sinh ở Yoru, Tây Tạng trong một vùng vô cùng khiêm nhường.
(View: 2364)
Đèn Soi Nẻo Giác (A Lamp for the Path to Enlightenment), do ngài Atisha vĩ đại (Dipamkara Shrijnana) sáng tác tại Tây Tạng.
Quảng Cáo Bảo Trợ