Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
20,608,673

Tiểu Sử Vắn Tắt Đức Phakmodrupa Dorje Gyalpo (1110-1170)

Sunday, November 7, 202119:51(View: 111)
Tiểu Sử Vắn Tắt Đức Phakmodrupa Dorje Gyalpo (1110-1170)
Tiểu Sử Vắn Tắt Đức Phakmodrupa Dorje Gyalpo (1110-1170)

Dan Martin[1]
Pema Jyana

Hoa Vô Ưu

Ngài Phakmodrupa Dorje Gyalpo sinh năm 1110 và được nuôi dưỡng bởi cha mẹ nghèo khó ở phía Nam của Kham. Theo một số tài liệu, cha Ngài tên là Wena Atar và mẹ Ngài là Tsunne. Họ qua đời khi Ngài mới chỉ là đứa bé khoảng bảy tuổi. Các nguồn khác cho rằng họ tên là Tsangpa Paldrak và Tsangmo Rinchen Gyen. Em trai của Ngài, (hoặc theo một số nguồn, em họ), vị sau đó được biết đến với danh hiệu Dampa Deshek (1122-1192), sau này thành lập một Tu viện Nyingma cổ xưa vô cùng quan trọng ở Kham gọi là Kathok. Người ta nói rằng trước khi lên ba, Ngài Phakmodrupa có thể nhớ rằng Ngài từng là một con khỉ vào thời của Phật quá khứ – Đức Ca Diếp. Ngài quên chuyện đó khi cha mẹ cho Ngài ăn thịt ô nhiễm, nhưng phục hồi lại ký ức về đời quá khứ này sau đó.

Khi cha mẹ qua đời, Ngài Phakmodrupa được đặt dưới sự chăm sóc của chú, một tu sĩ có công việc ở bên ngoài Tu viện nhỏ, Chakhyi Lhakhang, như một thầy tu gia đình. Người chú này đã tài trợ cho thời kỳ mới tu của Ngài, trong khi Ngài lại giúp chú bằng cách làm nhiều việc khác nhau, chẳng hạn minh họa các bản thảo. Ngài có tài năng thiên bẩm về hội họa và thi pháp, làm chủ đọc và viết không chút khó khăn. Sau đấy, Ngài làm người giữ ghi chép cho Khenpo Tsultrim, vị trụ trì của Tu viện; vì vị này, Ngài cũng chép một quyển kinh Bát Nhã Ba La Mật bằng chữ bạc.

Khi Ngài Phakmodrupa khoảng hai mươi tuổi, mang theo chút ngọc lam để làm vốn, Ngài du hành một hành trình dài đến các vùng trung tâm của Tây Tạng. Ở đó, sau khi thọ đại giới vào năm hai mươi lăm tuổi, và sau nhiều năm nghiên cứu tại các nơi khác nhau – ban đầu chủ yếu là với những vị thầy Kadampa, và sau đấy là những vị thầy của truyền thừa Mật thừa tồn tại khi ấy – Ngài tìm ra một vị thầy mà Ngài dành khoảng mười hai năm thân cận. Đây là một trong những đạo sư Mật thừa nổi tiếng nhất của trường phái Sakya từ thời xa xưa – Đức Sachen Kunga Nyingpo (1092-1158). Trong thời gian thân cận Đức Sachen, Ngài chủ yếu nghiên cứuthực hành Lamdre. Ngài đã biên soạn một trích yếu các giáo lý Lamdre, điều vẫn còn tồn tại, được gọi là Pedzod-ma.

Sau đấy, Ngài dành hai năm bên Đức Gampopa Sonam Rinchen (1070-1153), một đệ tử thân cận của Tổ Milarepa. Ban đầu, khi Ngài đến trụ xứ của Đức Gampopa, Daklha Gampo, cùng với Zhang Yudrakpa Tsondru Drakpa (1123-1193), Đức Gampopa khó ở và không tiếp khách; vì thế, Ngài dành bốn ngày gánh đất và đá để xây dựng một bảo tháp. Kết quả là, Ngài có thể thọ nhận giáo lý và dưới sự dìu dắt của Đức Gampopa, Ngài được cho là đã đạt thành tựu viên mãn về Đại Thủ Ấn. Những năm tháng không mệt mỏi tìm kiếm sự dẫn dắt tâm linh của Ngài đã hoàn mãn. Một vài trong số những cuộc đối thoại của Ngài với Đức Gampopa về thiền định vẫn còn có thể đọc được cho đến nay.

Một ẩn sĩ ở vùng về phía Đông của thành Tsetang, một nơi được gọi là Phakmodru, trao cho Ngài ẩn thất thiền định của ông ấy. Đó là một nơi có vẻ đẹp tự nhiên lớn lao với nhiều cây bách xù. Dần dần, các thiền gia khác đã đến đó và dựng thất của họ, điều tạo thành trung tâm ban đầu cho Tu viện Densatil. Nơi này về sau trở thành Tu viện ‘mẹ’ cho hàng trăm Tu viện khác và vào thời kỳ đầu này, nó thường được gọi đơn giản là Densa, “trụ xứ”.

Sau đó, vào thời kỳTây Tạng được cai quản bởi Triều đình Phakmodru (1350-1481), các bảo tháp oai nghiêm, thứ đóng vai trò là mộ tháp hoàng gia, đã được xây dựng ở đây. Địa điểm nơi có thiền thất đơn giản từ cỏ và cây liễu của Đức Phakmodrupa – nó đã tồn tại cho đến giữa thế kỷ hai mươi – vẫn được xem là địa điểm linh thiêng nhất của Tu viện. Khi Đức Phakmodrupa giảng dạy ở đó, người ta nói rằng các tu sĩ thường phủ kín mặt đất tuyến đường từ thất của Ngài đến ngai tòa thuyết giảng bằng mũ, y phục và khăn Katak của họ. Các tu sĩ bị thu hút từ những nơi xa xôi bởi các tường thuật phổ biến rằng, hầu như không có ngoại lệ, những vị tham dự các buổi giảng của Ngài Phakmodrupa đều có các kinh nghiệm thiền định rất mạnh mẽ.

Sau đây là ví dụ ngắn từ các giáo lý của Ngài Phakmodrupa, với sự nhấn mạnh vào thiền định. Nó được trích từ Thang Bảo Châu:

Những người nương tựa [vào các triết lý này]

thể đạt được sự chắc chắn nhờ khả năng hiểu biết của họ

Về các tri kiến đa dạng khác nhau của họ,

Nhưng bởi họ không hiểu hay chứng ngộ chúng

Nhờ thực hành thiền định,

[Tri kiến] của họ là tri kiến chẳng có chứng ngộ.


Không chỉ trong ba vô lượng kiếp,

Mà thậm chí trong một triệu, họ có thể đi theo lối của họ.

Vẫn chẳng thể ép dầu từ vỏ khô.

Họ có thể cày cuốc mặt đất mùa đông,

Nhưng mùa xuân đến cũng chẳng có kết quả nào.

Những vị muốn đi về Đông

Uổng phí bước đi khi đi về Tây.

Những người đau khổ bởi cái nóng oi ả

Muốn bóng mát, nhưng chắc chắn, họ cứ lặp đi lặp lại

Sưởi bên lửa,

Họ sẽ chỉ tiếp tục đau khổ bởi nóng.

Ngài Phakmodrupa xem bản thân là đầy tớ của tất cả hữu tình chúng sinh và bất cứ cúng dường nào mà Ngài nhận được đều được dùng vì sự an lành của toàn bộ cộng đồng tu sĩ. Ngài ăn đồ ăn giống như những vị khác. Ngài rất nghiêm khắc về việc giữ gìn giới luật Luật Tạng của bản thânmong chờ điều tương tự từ cộng đồng của Ngài. Ngài không xem thường bất kỳ nhiệm vụ nào và được biết là đã gánh nước và dọn tro. Ngài đi khất thực cùng với những tu sĩ khác, một thực hành nổi tiếng ở các nước Phật giáo Theravada nhưng khác thường ở Tây Tạng. Ngài có thói quen sống cô tịch trong giai đoạn trăng khuyết dần, nhưng trong giai đoạn trăng tròn dần, Ngài thường ban giáo lý mỗi buổi chiều. Nhiều trong số những thời giảng dạy được gọi là Tsogcho này đã được ghi chép lại và chúng là những bài giảng lôi cuốn.

Khi Ngài Phakmodrupa qua đời vào năm 1170, sự kiện được cho là đồng hành cùng nhiều dấu hiệu tuyệt vời về sự thành tựu cao cấp của Ngài. Khoảng 1600 tu sĩ đã tham dự tang lễ của Ngài. Nhiều môn đồ cư sĩtu sĩ của Ngài quyết định xây dựng một bảo tháp để lưu giữ xá lợi của Ngài. Một nhóm thợ thủ công Newar, dẫn đầu bởi Manibhadra, đã thực hiện nhiều công việc liên quan. Ngoài chân dung của những đại thành tựu giả, bảo tháp có 2170 hình tướng khác nhau của Phật.

Truyền thừa của Ngài Phakmodrupa thường được gọi là Phakdru Kagyu hay thuật ngữ này được dùng như một cách để bao gồm tất cả truyền thừa xuất hiện từ các đệ tử của Ngài. Quan trọng và nổi tiếng nhất trong các truyền thừa hay trường phái này là Drukpa Kagyu – điều đến từ đệ tử Lingrepa Pema Dorje (1128-1188), Drikung Kagyu – điều đến từ Jigten Gonpo Rinchen Pal (1143-1217) và Taklung Kagyu từ Taklung Thangpa Tashi Pal (1142-1209/10). Năm đệ tử khác, những vị thiết lập các truyền thống riêng biệt của Kagyu (hay là đạo sư của những vị sáng lập) là: Marpa Sherab Yeshe (1135-1203) – vị sáng lập Martsang Kagyu, Gyergom Tsultrim Senge (1144-1204), vị sáng lập Shukseb Kagyu, Gyaltsa Rinchen Gon (1118-1195) – vị sáng lập Tu viện Tropu, trụ xứ của Tropa Kagyu được khởi xướng bởi đệ tử Tropu Lotsawa Jampa Pal (khoảng 1172-1225/1236), Yabzang Choje Chokyi Monlam (1169-1223) – vị sáng lập Yabzang Kagyu và Yelpa Yeshe Tsek (1134-1194) – vị sáng lập Yelpa Kagyu.

 

Nguồn Anh ngữ: https://treasuryoflives.org/biographies/view/Pakmodrupa/TBRC_P127.

Pema Jyana chuyển dịch Việt ngữ.



[1] Dan Martin là một học giả ở Israel. Ông ấy nhận bằng tiến sĩ từ Đại học Indiana năm 1991.

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
(View: 96)
Này Tashi Lhamo[2] thành kính, nếu con muốn đạt giác ngộ, Hãy suy nghĩ xem thật khó khăn làm sao mới có được thân người tự do và thuận duyên này.
(View: 111)
Nhìn chung, chúng ta có thể nói rằng có hai phần trong truyền thừa Barom Kagyu: truyền thừa truyền miệng dài và truyền thừa ngắn của linh kiến sâu xa.
(View: 98)
Khi cặp vợ chồng từ tộc Drenka ở Penyul trở thành cha mẹ tự hào của một người contrai vào năm 1127, họ đặt tên cậu bé theo một Kinh điển:
(View: 124)
Ngài Drapa Ngonshe sinh vào năm Thủy Tý đực (tức năm 1012 Dương lịch) với cha là ông Zhangtag Karwa, người đã đặt tên Ngài là Taktsab.
(View: 119)
Từ quan điểm chiêm tinh, tháng Thân linh thiêng tương ứng với tháng 5 Âm lịch Tây Tạng. Ngài Terdak Lingpa[3], em trai[4] và Đức Dalai Lama thứ Năm ...
(View: 137)
Theo các tiểu sử, Bà Mandarava là một công chúa thông tuệ, thiện lành và xinh đẹp, sinh ra trong một gia đình hoàng gia ở Zahor,
(View: 150)
Khandro Tare Lhamo sinh năm Thổ Dần 1938 trong thung lũng Bokyi Yumolung của vùng du mục Golok.
(View: 137)
Sera Khandro Kunzang Dekyong Wangmo sinh ra trong một gia đình giàu có, quyền lực về chính trị ở Lhasa.
(View: 243)
Bà Jetsun Jampa Chokyi sinh vào ngày 30 tháng 12 năm Thủy Tuất (1922). Cha Bà, Sonam Tobgyal, xuất thân từ gia đình...
(View: 185)
Dưới chân đạo sư, con đỉnh lễ. Nhớ về vô thường và cái chết, Đẩy lui bám chấp với đời này và trưởng dưỡng xả ly –
(View: 233)
Đức Riwoche Jedrung thứ bảy – Jampa Jungne sinh năm 1856 trong gia đình Shol Danak của Tu viện Riwoche ở Kham,
(View: 305)
Sau đây là ảnh hưởng từ hành vi của bạn tốt: Đồng hành cùng vị uyên bác giúp tăng trưởng sự thông tuệ. Đồng hành cùng vị bi mẫn giúp đánh thức Bồ đề tâm.
(View: 266)
Thân người tự dothuận duyên này mà con đã có được. Cung cấp nền tảng để đạt được hỷ lạc vĩnh cửu.
(View: 323)
Từng có một học trò, người đến gặp đạo sư để thỉnh cầu chỉ dẫn. Vị đạo sư sắp rời đi và đang vội nhưng Ngài vẫn chấp nhận lời thỉnh cầu.
(View: 381)
Bản văn này được Orgyen Tobgyal Rinpoche mạnh mẽ khuyến khích với những vị mong muốn làm sâu sắc sự hiểu của họ về thực hành Sur[1].
(View: 365)
Đầu tiên trong sáu ba la mật, bố thí ba la mật, không phải chỉ là về trao cho người nghèo.
(View: 432)
Nhìn chung, những điểm then chốt để thấu triệt giáo lý của Phật là: Được thúc đẩy bởi sự xả ly và Bồ đề tâm, Tránh ác hạnhnỗ lực làm các thiện hạnh,
(View: 354)
Đầu tiên, bởi thân người này – sự hỗ trợ cho các phẩm tính của giải thoát – khó được, chúng ta phải hướng các ý nghĩ rời khỏi những vấn đề của đời này.
(View: 355)
Kính lễ đạo sư! Hãy quán chiếu về bốn chủ đề chuyển hóa, quy ytrưởng dưỡng từ, bi và Bồ đề tâm.
(View: 393)
Kính lễ đạo sư! Hãy quán chiếu về bốn chủ đề chuyển hóa, quy ytrưởng dưỡng từ, bi và Bồ đề tâm.
(View: 555)
Liều thuốc giải cho ảo tưởng, bản ngã và từng vấn đề khác mà chúng ta đối mặt là trí huệ của Pháp;
(View: 605)
Khi bắt đầu thiền định, một trong những cách thức để tăng trưởng Bồ đề tâmlòng bi mẫnthực hành cho và nhận
(View: 555)
Thực hành chính yếu mà thầy tiến hành trong tù ngục là Tong-len (cho và nhận). Khenpo Munsel[1] đã trao cho thầy nhiều chỉ dẫn khẩu truyền đặc biệt về Tong-len, điều không có trong bản văn.
(View: 528)
Bardor Tulku Rinpoche sinh năm 1949 ở Kham, miền Đông Tây Tạng. Từ rất nhỏ, Ngài đã được Đức Gyalwang Karmapa thứ 16 công nhậnhóa hiện thứ ba của Terchen Barway Dorje[1].
(View: 538)
Môn đồ Nyingma của Chân ngôn Bí mật nhấn mạnh vào Mật điển thực sự[2]. Họ theo đuổi tri kiến cao nhất và ham thích hành vi ổn định.
(View: 691)
Con đỉnh lễ đạo sư và đấng bảo hộ Văn Thù Sư Lợi! Trước tiên, hãy quy y Tam Bảo,
(View: 600)
Một vị khác đã nghe những chỉ dẫn về cách tiếp cận Dzogchen Đại Viên Mãn từ Adzom Drukpa Rinpoche Drodul Pawo Dorje
(View: 604)
Bopa Tulku Dongak Tenpe Nyima là một đệ tử của Kunpal Rinpoche[2], vị giữ gìn truyền thống thanh tịnh của Jamgon Mipham Rinpoche
(View: 602)
Tôi, Pema Tsewang Lhundrup, đã chào đời trong năm Kim Mùi của chu kỳ lịch thứ mười sáu (tức năm 1931).
(View: 652)
Khunkhen Pema Karpo là một trong những vị tổ dòng Phật giáo Drukpa Kayu ở miền xứ Tuyết.
(View: 708)
Đạo sư vô song, Phật Thế Tôn; Giáo Pháp linh thiêng, thù thắng và chẳng dối lừa;
(View: 991)
Mọi người đã đưa ra nhiều câu hỏi liên quan đến ý nghĩa của quy y và vì lý do đó, thầy đã thiết kế thẻ quy y mới này.
(View: 946)
Nếu thời gian của con trong khóa nhập thất được sử dụng tốt, con sẽ làm hài lòng chư Phật cùng những vị trưởng tử, giúp hoàn thành...
(View: 867)
Điều này được gửi đến những vị đang trong khóa nhập thất ba năm tại Pháp.
(View: 826)
Sau khi phát khởi Bồ đề tâm trong Mật thừa và thọ nhận một quán đỉnh, người ta bước qua cánh cửa dẫn vào thực hành Mật thừa.
(View: 880)
Một số đạo hữu đã yêu cầu thầy giải thích ý nghĩa của đai thiền định. Nói chung, đai thiền định được sử dụng bởi Tổ Milarepa khi thực hành Sáu Du Già Của Naropa.
(View: 1876)
Phật Thế Tôn đã giảng dạy bản văn sau đây, điều đem đến lợi lạc trong thời kỳ đen tối.
(View: 1148)
Om Ah Hung. Hôm nay, thầy có được cơ hội tuyệt vời để chia sẻ đôi lời về giới quy y.
(View: 1099)
Terton Lerab Lingpa Trinle Thaye Tsal vĩ đại, tức Terton Sogyal, là hóa hiện về thân của Tổ Nanam Dorje Dudjom[1], hóa hiện về khẩu của Kim Cương Hợi Mẫuhóa hiện về ý của Đại Sư Liên Hoa Sinh.
(View: 1299)
Hôm nay, chúng ta đều đã đến Vườn Cấp Cô Độc ở thành Xá Vệ, Ấn Độ, vùng đất của chư Thánh giả, nơi đã được cúng dường lên Đức Phật.
(View: 1388)
Điều đầu tiên mà bạn cần hiểu là mọi hữu tình chúng sinh đang sống trên thế giới này – ‘hữu tình chúng sinh của tam giới của sự tồn tại’ – là một sản phẩm của tâm.
(View: 1294)
Khi chúng ta nhìn vào hiện tượng vật chất trong thế giới này, chúng ta thấy rằng tất cả mọi sự vật hiện tượng xảy ra đều có nguyên nhân của nó.
(View: 1254)
Guru Rinpoche chào đời tám năm sau khi Đức Phật nhập diệt. Khi Đức Phật nhập diệt, Ngài sách tấn các đệ tử hãy hoan hỷ bởi Ngài sẽ trở lại là Guru Rinpoche.
(View: 1325)
Gần đây, nhiều người hỏi về Khandro Rinpoche tôn quý và những hoạt động tâm linh của Bà.
(View: 1500)
Với những vị nhấn mạnh duy nhất vào việc trưởng dưỡng Bồ đề tâm trong cuộc đời, lời khuyên thích hợp cho họ khi tiến gần đến cái chết là nương tựa năm sức mạnh để định hướng lối đi của họ đến đời sau.
(View: 1888)
không phải là kết thúc của cuộc sống, bởi vẫn còn tái sinh sau khi chết.
(View: 1407)
Đừng bao giờ lo âu hay sợ hãi về cái chết. Thay vào đó, hãy cố gắng cải thiện tâm trạng và trưởng dưỡng một nhận thức hoan hỷ rõ ràng
(View: 1489)
Sống và chết đều vô cùng quan trọng với mọi người bởi chúng là số phận. Không ai có thể từ chối hay tránh khổ đau liên quan đến sinh, lão, bệnh, tử và cuộc sống thực sự.
(View: 1843)
Vài người nghĩ rằng Phật giáo Kim Cương thừa rất huyền bí. Điều này là bởi họ thiếu một sự hiểu về hệ thống tư tưởngthực hành của Kim Cương thừa.
(View: 1534)
Các hiện thân của tất cả chư Phật trong quá khứ, hiện tạivị lai; những thủ lĩnh phổ quát của đại dương đàn trànggia đình Phật;
(View: 1923)
Tất cả hữu tình chúng sinh trong tam giới của sự tồn tại đều trong tù ngục luân hồichúng ta đều trải qua khổ đau của luân hồi.
(View: 1904)
Về điều mà chúng ta sắp lắng nghe, Đức Phật đã ban vô số giáo lý. Nếu chúng ta muốn cô đọng những giáo lý này thì có những giáo lý của thừa căn bản và những giáo lý của thừa đặc biệt.
(View: 1512)
Trì Minh Vương hay Vidyadhara tối thắng Rigdzin Jigme Lingpa (1729-98) sinh ở Yoru, Tây Tạng trong một vùng vô cùng khiêm nhường.
(View: 2009)
Đèn Soi Nẻo Giác (A Lamp for the Path to Enlightenment), do ngài Atisha vĩ đại (Dipamkara Shrijnana) sáng tác tại Tây Tạng.
(View: 1794)
Ngày nọ, Đạo Sư đang an trụ trong sự chứng ngộ khi Ngài diện kiến Đức Kim Cương Tát Đỏa và thọ nhận lời tiên tri:
(View: 1806)
Ở Xứ Tuyết Tây Tạng, những giáo lý của Đức Phật được trao truyền trong nhiều dòng truyền thừa.
(View: 5721)
Có nhiều câu hỏi về tái sanh thường được nêu ra đối với các Phật tử. Có tái sanh không? Nếu có, có thể nhớ chuyện kiếp trước không? Cái gì tái sanh? Có thân trung ấm hay không?
(View: 4359)
Dưới đây là một bài giảng ngắn của Lạt-ma Denys Rinpoché, một nhà sư người Pháp. Ông sinh năm 1949, tu tập theo Phật giáo Tây Tạng từ lúc còn trẻ
(View: 5222)
Kyabje Lama Zopa Rinpoche giải thích cách phát khởi thực chứng về các giai đoạn của đường tu giác ngộ trong Khóa Tu Kopan Thứ Mười Hai...
(View: 6175)
hật giáo truyền nhập Tây tạng được xem như chính thức từ vua Srong-btsan sGam-po (569–649?/605–649 Tl?); nhưng phải đợi hơn một thế kỷ sau, dưới triều vua...
Quảng Cáo Bảo Trợ